Tài liệu tham khảo:
Làm thế nào để phòng ngừa loét tì đè ở bệnh nhân bệnh mạch máu não?
Bệnh nhân mạch máu não do bị liệt nửa người, nằm lâu không dậy được, các mô cục bộ bị đè ép, tuần hoàn máu bị cản trở, khiến cơ bị thiếu máu kéo dài, dinh dưỡng kém, rất dễ gây loét da và hoại tử mô, hình thành loét tì đè. Do đó, cần tăng cường chăm sóc da để phòng tránh loét tì đè. Các biện pháp cụ thể như sau:
(1) Thường xuyên trở mình: Trở mình có thể tránh cho bệnh nhân bị đè lâu ở một vị trí. Thông thường hai giờ trở mình một lần, nhưng khi trở mình phải nhẹ nhàng, tránh kéo, đẩy, xô lệch gây trầy xước da. Tại các vị trí xương nhô, nên lót thêm đệm mút hoặc vòng cao su để giảm áp lực.
(2) Thay giặt thường xuyên: Đối với bệnh nhân tiểu tiện đại tiện không tự chủ, phải kịp thời lau sạch chất thải, tránh kích ứng da do ẩm ướt. Quần áo, chăn đệm bị nhiễm bẩn phải được thay giặt kịp thời, giữ vệ sinh sạch sẽ để tránh nhiễm trùng.
(3) Thường xuyên chỉnh trang: Phải giữ cho giường chiếu luôn sạch sẽ, phẳng phiu, khô ráo, mềm mại. Mỗi lần trở mình nên chỉnh lại giường cho phẳng, tránh để dị vật gây trầy xước da.
(4) Thường xuyên kiểm tra: Mỗi lần trở mình nên quan sát vùng da bị đè ép, nếu phát hiện bất thường phải lập tức xử lý tích cực, ngăn ngừa diễn tiến xấu.
(5) Thường xuyên xoa bóp: Chủ yếu xoa bóp các vùng xương nhô dễ bị loét. Khi xoa bóp, dùng lòng bàn tay áp sát da, lực từ nhẹ đến mạnh, rồi nhẹ lại, massage theo vòng tròn. Sau khi massage có thể thoa cồn 5% hoặc rượu hồng hoa. Mùa đông có thể dùng dầu xoa bóp hoặc kem dưỡng để thúc đẩy tuần hoàn máu tại chỗ, cải thiện dinh dưỡng, ngăn loét tì đè.
(6) Tăng cường dinh dưỡng: Người bị suy dinh dưỡng có sức chịu đựng áp lực kém, dễ bị loét tì đè, vì vậy nên ăn uống giàu đạm, vitamin và uống đủ nước để tăng sức đề kháng của da.
Khi bệnh nhân mạch máu não đã bị loét tì đè thì cần điều trị và chăm sóc như thế nào?
Loét tì đè là do mô cơ thể ở một vùng bị đè ép lâu dài, tuần hoàn máu cản trở, mô bị thiếu máu liên tục và dinh dưỡng kém dẫn đến hoại tử mô, là biến chứng thường gặp ở bệnh nhân đột quỵ. Hậu quả của loét rất nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến tiên lượng của người bệnh, nên sau khi xuất hiện phải tích cực xử lý và chăm sóc. Các phương pháp thường dùng như sau:
(1) Trước hết phải giữ giường chiếu khô ráo, bằng phẳng, không có vụn rác, chú ý không để tiểu tiện đại tiện làm ô nhiễm vết loét, tránh nhiễm trùng.
(2) Cố gắng không để vùng loét tiếp xúc trực tiếp với giường, nếu bắt buộc phải tiếp xúc thì có thể dùng vòng bông, vòng hơi… để làm vùng loét lơ lửng, tránh bị đè ép thêm.
(3) Tùy theo tình trạng vết loét mà điều trị: Nếu có bóng nước thì nên sát trùng rồi dùng kim hút dịch bên trong, hoặc thoa dung dịch hồng hoa 5%–10%, thuốc đỏ, cồn 90% ngày 1–2 lần, cũng có thể chiếu hồng ngoại để hỗ trợ. Nếu bóng nước bị vỡ, nhiều dịch tiết, vết loét sâu rộng thì phải mở rộng làm sạch mô hoại tử, giữ vết loét khô, có thể dùng thuốc đỏ 5%–10% hoặc dùng màng lòng trắng trứng tươi dán. Nếu vết thương sâu nhưng không có dịch tiết thì có thể dùng Sinh cơ tán mỗi ngày thay thuốc một lần; nếu nhiễm trùng thì ngày thay thuốc hai lần, sau khi làm sạch có thể dùng gạc thấm dung dịch hồng hoa ấm để đắp giúp vết thương mau lành.
(4) Nếu loét ở mắt cá ngoài, có thể ngâm vùng tổn thương trong dung dịch thuốc tím 1/5000 khoảng 10–15 phút sẽ có hiệu quả tốt hơn. Nếu đã bôi gentian violet, hôm sau nên rửa bằng dung dịch thuốc tím, tuyệt đối không được bôi gentian violet liên tục mỗi ngày vì sẽ đóng vảy bên ngoài, bên dưới tích mủ không thấy được, làm loét trầm trọng hơn.
(5) Nếu đã loét tới lớp dưới da hoặc cơ thì phải rửa vết thương bằng nước muối sinh lý, sau đó dùng ống tiêm hút dung dịch gentamycin để phun lên vết loét, hoặc dùng Sinh cơ tán để đắp, thúc đẩy lành loét.
(6) Nếu do tình trạng dinh dưỡng kém khiến vết loét lâu khỏi thì có thể rắc một lớp đường trắng mịn (nghiền mịn không để lại tinh thể) lên bề mặt loét để thúc đẩy lành vết thương.
Tại sao vào mùa thu đông càng cần chú ý phòng ngừa bệnh mạch máu não?
Bệnh mạch máu não thường gặp ở người bị tăng huyết áp và xơ vữa động mạch não, đặc biệt phổ biến khi làm việc quá sức hoặc cảm xúc dao động mạnh. Do đó, điều trị và kiểm soát tăng huyết áp hiệu quả, tránh căng thẳng tinh thần quá mức và lao lực là khâu then chốt trong phòng ngừa bệnh mạch máu não. Tuy nhiên, biến đổi khí hậu cũng là yếu tố không thể bỏ qua trong việc khởi phát bệnh. Theo điều tra, hơn một nửa số bệnh nhân phát bệnh vào thời điểm giao mùa cuối thu đầu đông, khi khí hậu thay đổi đột ngột. Nguyên nhân là:(1) Nhiệt độ thấp làm giảm độ đàn hồi của mạch máu dưới da, tăng sức cản ngoại vi, khiến huyết áp tăng, từ đó dẫn đến vỡ mạch máu não và xuất huyết.(2) Kích thích do lạnh làm hệ thần kinh giao cảm hưng phấn, tăng tiết hormone vỏ thượng thận, khiến các tiểu động mạch co thắt, làm tăng sức cản ngoại vi và huyết áp.(3) Thời tiết lạnh còn làm tăng hàm lượng fibrinogen trong máu, tăng độ nhớt máu, thúc đẩy hình thành huyết khối gây bệnh.
Tại sao bệnh mạch máu não cần thực hiện phục hồi chức năng?
Sau khi phát bệnh mạch máu não cấp tính, do tổn thương trung khu thần kinh, có thể xuất hiện các triệu chứng như liệt nửa người, mất ngôn ngữ, thậm chí hôn mê. Mặc dù được điều trị, một số bệnh nhân dần cải thiện triệu chứng, nhưng khoảng 2/3 vẫn để lại di chứng như co rút khớp, teo cơ, giảm trí nhớ… Nguyên nhân chính là do không thực hiện hiệu quả điều trị phục hồi chức năng.
Tập luyện phục hồi giúp thiết lập tuần hoàn bàng hệ ở não, cải thiện tuần hoàn máu não và tình trạng cung cấp oxy, thúc đẩy phục hồi chức năng điều tiết nội tại. Thực tiễn chứng minh, người kiên trì tập luyện không chỉ ngăn ngừa teo cơ và cứng khớp, mà còn nâng cao khả năng phản ứng với môi trường bên ngoài, có ý nghĩa lớn trong nâng cao chất lượng sống.
Vậy khi nào nên tiến hành phục hồi chức năng?
Nói chung, khuyến khích bắt đầu sớm. Tập luyện sớm không chỉ thúc đẩy hồi phục chức năng vận động, rút ngắn thời gian hồi phục, mà còn phòng ngừa nhiều biến chứng. Tuy nhiên, việc tập luyện sớm phải tiến hành sau khi tình trạng bệnh đã ổn định. Bệnh mạch máu não thiếu máu có thể tập luyện sau 1 tuần phát bệnh; bệnh xuất huyết não sau 2–3 tuần thì tình trạng thường ổn định và có thể tích cực phục hồi. Có người đã theo dõi 26 ca bệnh kéo dài trên 2 tháng mà không có phục hồi chức năng sớm, kết quả có 19 người phải dùng gậy hoặc mất khả năng đi lại, chỉ có 3 người hồi phục dáng đi bình thường. Điều đó cho thấy, nếu không phục hồi sớm, thì rất khó phục hồi hoàn toàn chức năng vận động.
Cần đặc biệt lưu ý: bệnh càng nặng, gánh nặng tâm lý càng lớn, phục hồi càng khó. Bệnh nhân và gia đình càng cần phải kiên định niềm tin, tích cực thực hiện phục hồi sớm.
Điều trị dự phòng là gì? Điều trị dự phòng là chỉ việc can thiệp điều trị trước cho những người đã có các yếu tố nguy cơ rõ ràng của bệnh mạch máu não, hoặc có một số chỉ số báo trước bất thường rõ rệt. Thực hiện điều trị dự phòng phù hợp với tư tưởng “trị khi chưa bệnh” của y học cổ truyền – không chờ đến khi bệnh mạch máu não phát ra mới cấp cứu, mà là tiến hành điều chỉnh, chữa trị sớm các yếu tố và tín hiệu có khả năng dẫn đến bệnh. Hiệu quả của phương pháp này đã được công nhận. Ví dụ, Nhật Bản và Mỹ sau khi triển khai phòng trị tăng huyết áp, đã ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh mạch máu não giảm rõ rệt, đặc biệt là xuất huyết não.Vậy, những yếu tố nguy cơ và chỉ số báo trước nào cần điều trị và điều chỉnh? Trước tiên là tăng huyết áp – yếu tố nguy hiểm nhất. Những người có huyết áp cao hơn 140/90 mmHg đều phải điều trị lâu dài.Sau cơn thiếu máu não thoáng qua, cần phòng tái phát bằng thuốc giãn mạch não. Đối với bệnh mạch vành, rối loạn nhịp tim, tim to (bao gồm cả phì đại thất trái), rung nhĩ, suy tim…, cần điều trị để duy trì chức năng tim và đảm bảo cung cấp máu cho não.
Ngoài ra, cần áp dụng các biện pháp làm chậm quá trình xơ vữa động mạch. Kiểm soát tốt đái tháo đường giúp làm chậm tiến triển xơ vữa.
Điều trị thoái hóa đốt sống cổ giúp giảm nguy cơ thiếu máu động mạch đốt sống nền. Những người có chỉ số huyết học bất thường hoặc ở trạng thái máu tăng đông, tiểu cầu tăng kết tụ đều phải dùng thuốc điều trị để đưa các chỉ số về mức an toàn. Các dấu hiệu khác như tiếng thổi động mạch cổ, điện tâm đồ cho thấy thiếu máu cơ tim, xuất huyết đáy mắt, lưu lượng máu não bất thường… cũng cần được điều trị kịp thời để tránh phát triển hoặc biến chứng. Điều trị dự phòng lâu dài là một biện pháp hiệu quả để phòng ngừa bệnh mạch máu não. Việc điều trị sớm các yếu tố và bệnh lý tiềm tàng có xu hướng gây bệnh là một biện pháp tích cực để kiểm soát và phòng bệnh mạch máu não.
Bệnh nhân mạch máu não nên tập phục hồi sớm như thế nào?
Sau giai đoạn cấp tính, bệnh nhân có thể bắt đầu tập luyện ngay trên giường bằng các động tác massage nhẹ nhàng, vận động thụ động rồi chuyển dần sang vận động chủ động, nhằm đạt mục tiêu tự chăm sóc.
Massage không những thúc đẩy tuần hoàn máu ở chi bên bị liệt, kích thích dinh dưỡng thần kinh, mà còn giúp thả lỏng cơ co cứng, giảm trương lực cơ, có lợi cho phục hồi sức mạnh cơ. Tuy nhiên, lúc đầu nên massage nhẹ nhàng, tránh kích thích mạnh gây phản xạ co cơ nặng hơn. Nên bắt đầu bằng xoa dịu, miết, xát, bóp nhẹ, sau khi cơ đã thích nghi thì tăng dần lực.
Vận động thụ động là vận động chi bị liệt dưới sự trợ giúp của nhân viên y tế hoặc người nhà, giúp hoạt hóa tuần hoàn, kéo giãn gân cơ co rút, phục hồi cử động khớp. Cần vận động các khớp theo trình tự: vai, khuỷu tay, cổ tay, ngón tay, đầu gối, cổ chân, ngón chân. Mỗi khớp nên được duỗi hết cỡ, gập tối đa, mỗi lần vận động 20–30 lượt, sau đó đặt tay chân về vị trí chức năng.
Với bệnh nhân bán liệt hoặc liệt hoàn toàn một bên, khi đã có hồi phục cơ lực, nên tích cực tập vận động chủ động như giơ tay, dang tay, khép tay, nhấc chân, duỗi gối, gập gối… Nếu đã có thể rời giường, ban đầu nên tập đứng và đi lại với sự hỗ trợ, sau đó dần tự bám vật đi, và cuối cùng là dùng gậy hoặc đi bộ độc lập.
Bệnh nhân mạch máu não nên thực hiện vận động thụ động như thế nào?
Vận động thụ động là chỉ các vận động được thực hiện hoàn toàn nhờ lực từ bên ngoài hỗ trợ. Mục đích là để thúc đẩy tuần hoàn máu, duy trì độ linh hoạt của các khớp và dây chằng, phòng ngừa co cứng cơ và teo cơ do bất động. Hình thức vận động này bao gồm sử dụng lực cơ học, lực từ người khác hoặc từ các chi khỏe mạnh của chính bản thân bệnh nhân.Lực cơ học như sử dụng giường phục hồi chức năng, các thiết bị điều trị phục hồi chức năng hoặc máy móc giúp chi liệt vận động theo thiết bị. Lực từ người khác chủ yếu là do nhân viên y tế hoặc người nhà bệnh nhân giúp vận động chi liệt của bệnh nhân. Việc dùng chi khỏe mạnh của chính bệnh nhân để hỗ trợ vận động chi liệt là phương pháp thường được sử dụng, ví dụ như dùng tay bên khỏe giúp tay bên liệt co duỗi, nâng lên hoặc xoay tròn; dùng chân khỏe đặt dưới chân liệt để giúp nâng lên,…
Vận động thụ động cần tiến hành theo trình tự: trước tiên vận động khớp lớn, sau đó đến khớp nhỏ. Biên độ vận động từ nhỏ đến lớn, cố gắng đạt mức duỗi thẳng hoàn toàn khi duỗi, gập tối đa khi gập, đồng thời thực hiện các động tác co, duỗi, khép, dang, xoay tròn… theo phạm vi vận động sinh lý bình thường của từng khớp. Ví dụ: khớp vai cần vận động theo các hướng gập về trước, duỗi ra sau, dang ra ngoài, khép vào trong, xoay tròn và nâng lên. Cẳng tay cần thực hiện động tác khép, xoay ngoài; khuỷu tay cần gập, duỗi, sấp, ngửa; bàn tay và ngón tay cần gập, duỗi, khép – dang ngón tay và đối chiếu ngón cái với các ngón khác; hông cần xoay trong – xoay ngoài, khép – dang; khớp gối cần gập – duỗi; cổ chân cần gập lưng bàn chân, xoay trong – xoay ngoài; ngón chân cần gập – duỗi…Đồng thời, cần chú ý: vận động phải chậm rãi, nhẹ nhàng, có tiết tấu, tránh dùng lực mạnh cưỡng bức kéo giãn hoặc vận động mạnh gây tổn thương khớp và cơ, gây đau. Nếu xuất hiện đau nghĩa là vận động quá mức, cần điều chỉnh lại. Quan điểm cho rằng “không đau thì không hiệu quả” là sai. Đặc biệt ở bệnh nhân mềm liệt giai đoạn sớm, cơ nhão, trương lực cơ thấp, phạm vi vận động khớp càng không nên quá lớn, tránh gây bán trật khớp hoặc tổn thương khớp.
Bệnh nhân mạch máu não nên thực hiện vận động chủ động như thế nào?
Với những bệnh nhân bán liệt hoặc liệt hoàn toàn một bên, khi bệnh đã ổn định và lực cơ đã phục hồi dần, cần khuyến khích bệnh nhân chủ động tập vận động chức năng chi để phục hồi sức cơ, tăng phạm vi vận động khớp, cải thiện khả năng phối hợp của cơ thể và cơ bắp.
Vận động chủ động nên được lựa chọn dựa vào tình trạng lực cơ của bệnh nhân, nguyên tắc tổng thể là từ dễ đến khó, phạm vi vận động mở rộng dần, từ một khớp đến nhiều khớp, thời gian từ ngắn đến dài, cường độ từ nhẹ đến mạnh, tiến hành tuần tự, không nóng vội. Cần đảm bảo an toàn để tránh tổn thương khớp và cơ.
Bệnh nhân không thể xuống giường có thể tự dang vai, đưa tay ra sau, gập – duỗi khuỷu tay và cổ tay, đồng thời nắm chặt – duỗi bàn tay. Chi dưới nên tập dang – xoay trong và gập chân để rèn luyện sức cơ và chức năng khớp.
Ở bệnh nhân liệt nửa người, chi dưới thường hồi phục sớm hơn chi trên, nên cần tích cực rèn luyện chức năng chi dưới sớm. Khi tập đi, có thể bắt đầu bằng tập bước tại chỗ, sau đó tập bước đi. Nếu bệnh nhân khó nhấc chân, có thể buộc dây vào chân rồi nhờ người hỗ trợ nhấc chân lên để bước, sau đó dần chuyển sang tự bám vật để đi lại, rồi đến đi bộ không cần hỗ trợ khi lực cơ cải thiện. Chi trên của bệnh nhân, ngoài các động tác gập – duỗi cơ bản, cũng cần tập đẩy, kéo, cầm nắm vật thể. Nếu khuỷu tay bị gập, có thể dùng cánh tay ôm vật hình tròn để kéo và duỗi cánh tay, hoặc thường xuyên nhún vai, xoay khớp vai, dùng tay bị liệt vỗ nhẹ lên vật thể để kích thích vận động.
Bệnh nhân mạch máu não nên tập thể dục như thế nào?
Tập thể dục có thể tăng cường thể chất, nâng cao khả năng chống bệnh, làm chậm lão hóa – điều này đã được công nhận.
Vậy tập thể dục có hiệu quả gì trong việc phòng ngừa bệnh mạch máu não?
Trước tiên, vận động có thể tăng cường chức năng tim, cải thiện độ đàn hồi mạch máu, tăng cường tuần hoàn toàn thân và lưu lượng máu lên não. Thực tiễn cho thấy, vận động có thể làm hạ huyết áp, giãn mạch, tăng tốc độ lưu thông máu, giảm độ nhớt máu và khả năng kết tụ tiểu cầu, từ đó giảm nguy cơ hình thành huyết khối. Tập thể dục còn thúc đẩy chuyển hóa mỡ; theo báo cáo, vận động làm tăng hàm lượng lipoprotein tỷ trọng cao trong máu, giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch. Tập luyện lâu dài giúp giảm cân, phòng ngừa béo phì. Những yếu tố nguy cơ chính gây bệnh mạch máu não như tăng huyết áp, bệnh tim, xơ vữa động mạch, đái tháo đường, máu nhiễm mỡ, béo phì… đều có thể được cải thiện thông qua tập luyện, thậm chí đạt hiệu quả điều trị. Do đó, tập thể dục là phương pháp không thể thiếu trong phòng bệnh mạch máu não. Tập luyện giúp làm giảm mức độ nguy hiểm của các yếu tố gây bệnh mạch máu não, cải thiện toàn diện thể trạng – bao gồm tinh thần, cảm xúc, ăn uống, giấc ngủ… có khi còn hiệu quả hơn thuốc. Vậy nên chọn môn thể thao nào để phòng ngừa bệnh mạch máu não? Cần căn cứ vào độ tuổi, thể trạng, bệnh lý, nghề nghiệp và điều kiện môi trường của từng người để lựa chọn hình thức phù hợp.Vì đối tượng phòng ngừa bệnh này chủ yếu là trung lão niên, nên bài tập thường nên đơn giản, dễ học, thay đổi tư thế ít, tiêu hao thể lực thấp mà vẫn có hiệu quả. Đối với người trung lão niên mắc tăng huyết áp, nên tham gia các môn vận động nhẹ, có tiết tấu như: thái cực quyền, khí công, luyện công thập bát pháp, đi bộ nhanh, thể dục dưỡng sinh…Những người trung niên có thể lực tốt hơn có thể tham gia bóng bàn, cầu lông, tennis, leo núi, đi xe đạp, bơi lội… nhưng nên tránh vận động mạnh.Yếu tố then chốt của tập thể dục là:
(1) Cần tiến hành từ từ, vừa sức. Việc kiểm soát lượng và cường độ vận động là một trong những điều quan trọng để đạt hiệu quả. Khối lượng vận động cần phù hợp với thể trạng, độ tuổi và bệnh lý. Ban đầu nên tập ngắn, ít lần, sau đó tăng dần. Tránh mệt mỏi quá độ. Nếu tim đập nhanh, cần nghỉ ngơi. Nếu tập xong bị mất ngủ, đau đầu, nghĩa là tập quá sức, cần điều chỉnh ngay. Bởi vận động quá mức ở người lớn tuổi ngược lại có thể nguy hiểm.
(2) Cần kiên trì luyện tập, bền bỉ không ngừng.
Bất cứ loại hình luyện tập nào đều quý ở chỗ kiên trì. Phải có lòng kiên nhẫn và nghị lực, không được tập rồi bỏ dở, nếu có thể duy trì đều đặn sẽ đạt được hiệu quả. Tất nhiên, khi bị sốt, mệt mỏi hoặc đang bệnh thì có thể tạm ngừng luyện tập; khi trời mưa, đường trơn, gió to, tuyết rơi cũng có thể chuyển sang hoạt động trong nhà.
(3) Phải kết hợp giữa lao động và nghỉ ngơi, giữa vận động và tĩnh dưỡng.
Tập luyện thể dục nên được sắp xếp hợp lý trong nhịp sống và công việc hằng ngày. Không cần luyện tập quá nhiều môn, chỉ cần chọn 1–2 môn là đủ, như thái cực quyền kết hợp đi bộ, khí công kết hợp thể dục dưỡng sinh, chạy bộ chậm kết hợp thể dục,… Mỗi ngày nên luyện tập khoảng 20–30 phút, người đã nghỉ hưu và có điều kiện có thể luyện khoảng 1 tiếng, miễn sao không cảm thấy quá mệt hay căng thẳng. Tốt nhất nên luyện vào giờ cố định, buổi sáng là thời gian thích hợp nhất để luyện tập, buổi tối đi bộ cũng rất tốt. Nếu không thể luyện mỗi ngày, thì ít nhất cách ngày một lần cũng có tác dụng tích cực.
Bệnh nhân mạch máu não bị táo bón thì phải làm sao?
Bệnh nhân mạch máu não do nằm lâu không vận động, ăn uống ít, đặc biệt là thiếu thực phẩm giàu vitamin nên rất dễ bị táo bón. Mặc dù táo bón không phải là bệnh cấp tính, nhưng thường gây đau đớn cho bệnh nhân, hoặc khi rặn mạnh có thể làm huyết áp tăng đột ngột, gây xuất huyết não tái phát, nguy hiểm đến tính mạng. Vì vậy cần tích cực điều trị.
Với trường hợp nhẹ, có thể điều chỉnh chế độ ăn uống, ăn nhiều rau quả giàu chất xơ. Hoặc cho bệnh nhân uống một ít mật ong mỗi ngày, kết hợp xoa bóp vùng bụng. Sau những biện pháp này, táo bón thường sẽ cải thiện. Nếu cần thiết có thể dùng thuốc hỗ trợ. Thường dùng glycerin dạng bơm (1–2 ống), cắt đầu và bơm trực tiếp vào hậu môn; hoặc dùng xà phòng cắt thành thanh dài, ngâm nước ấm rồi nhét vào hậu môn, cố giữ lại cho đến khi cảm giác muốn đi cầu trở nên mạnh. Ngoài ra có thể cho uống dầu paraffin 30ml, hoặc uống 2–3 viên thuốc nhuận tràng (như quả lô hội). Thuốc Trung y như lá phan tả 10–30g pha nước uống như trà, hoặc dùng thuốc hoàn như “Ma nhân nhuận tràng hoàn”, kết hợp châm cứu, đều có hiệu quả tốt đối với táo bón, có thể thử áp dụng.
Nếu dùng thuốc không hiệu quả, có thể mang găng tay cao su và dùng tay móc phân cứng ra khỏi trực tràng. Nếu tất cả các biện pháp trên đều không hiệu quả, có thể tiến hành thụt tháo. Thụt tháo là phương pháp hiệu quả nhất để điều trị táo bón, nhưng đối với bệnh nhân mạch máu não thì không nên dùng thường xuyên, chỉ áp dụng khi táo bón đặc biệt khó chữa.
Cách thụt tháo: Dùng khoảng 1000ml nước muối sinh lý hoặc nước ấm 1000ml pha một ít xà phòng lỏng, cho vào túi thụt, nhiệt độ vừa phải (không quá nóng). Đưa ống cao su vào hậu môn khoảng 10–15mm, nâng cao túi thụt, mở van cho dung dịch chảy vào ruột. Sau khi thụt xong, rút ống ra, kê bô cho bệnh nhân và dặn cố gắng giữ nước trong ruột khoảng 3–5 phút trước khi đi đại tiện.
Vì sao bệnh nhân mạch máu não cần thường xuyên giữ đại tiện thông suốt?
Trước khi trả lời câu hỏi này, xin kể một câu chuyện.Tương truyền vào năm 582 trước Công nguyên, vua Cảnh công nước Tấn bị trọng bệnh, bèn mời thầy thuốc họ Tang Điền đến khám. Sau khi chẩn đoán, ông thẳng thắn nói: “Bệnh của quốc quân đã nguy kịch, e rằng không sống nổi đến mùa gặt lúa mạch mới.” Vua Cảnh công nghe vậy vừa kinh vừa giận, bèn triệu thầy thuốc nổi tiếng của nước Tần là Y Hoãn đến hội chẩn. Sau khi khám bệnh, Y Hoãn cũng có kết luận tương tự. Sau đó, khi lúa mạch bắt đầu chín, vua Cảnh công tức giận nói: “Tên Tang Điền kia nguyền rủa ta không sống đến mùa gặt mạch mới, hôm nay ta sẽ ăn cho hắn thấy.” Liền sai đầu bếp nấu món ăn từ lúa mạch mới và mời Tang Điền đến xem.Ngay lúc đang ăn, vua Cảnh công đột nhiên cảm thấy đau bụng, trướng bụng, buồn đại tiện cấp bách, vội vào nhà vệ sinh, nhưng ngã lăn xuống hố xí và qua đời.
Vậy rốt cuộc vua Cảnh công chết vì bệnh gì? Theo tài liệu thì có thể ông bị xuất huyết não. Do tức giận quá mức, cộng với ăn no gây trướng bụng và táo bón, khi rặn đại tiện cố gắng quá sức đã dẫn đến tăng huyết áp đột ngột, gây xuất huyết não và tử vong tại chỗ.
Ngày nay, dù y học đã phát triển nhưng bệnh mạch máu não vẫn là mối đe dọa lớn đến sức khỏe người trung – lão niên. Do đó, việc chăm sóc bản thân trong sinh hoạt hằng ngày là vô cùng quan trọng. Một trong những biện pháp tự chăm sóc thiết yếu là phải thường xuyên giữ cho đại tiện được thông suốt. Vì táo bón khiến khi đại tiện phải nín thở rặn mạnh, làm huyết áp tăng cao đột ngột; khi buông lỏng thì lại hạ nhanh, đặc biệt là khi đi vệ sinh ở tư thế ngồi xổm, huyết áp càng dao động mạnh, dễ gây xuất huyết não. Cho nên, bệnh nhân mạch máu não cần đặc biệt chú ý việc duy trì đại tiện thông suốt mỗi ngày.
Bệnh nhân mạch máu não bị bí tiểu thì phải làm sao?
Bí tiểu tức là không tiểu tiện được. Bí tiểu có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó, bí tiểu do bệnh mạch máu não thường gặp có hai nguyên nhân chính:Do tổn thương lan tới vùng trung tâm cao cấp điều khiển tiểu tiện – thuỳ trung tâm bên cạnh, làm ảnh hưởng đến chức năng bài tiết nước tiểu. Do bệnh nhân không quen tiểu trên giường, khi được đỡ xuống giường thì có thể tự đi tiểu được.
Các phương pháp điều trị bí tiểu như sau:
1/ Liệu pháp chườm nóng: Dùng túi nước nóng hoặc muối ăn rang nóng rồi bọc bằng vải (tránh bỏng), đặt lên vùng bàng quang để chườm nóng, thường có hiệu quả tốt.
2/Liệu pháp xoa bóp: Nếu chườm nóng không hiệu quả, có thể đặt tay lên vùng bàng quang, theo nhịp thở của bệnh nhân mà từ nhẹ đến sâu dần xoa bóp nhẹ nhàng. Độ sâu xoa bóp phải trong ngưỡng bệnh nhân có thể chịu được. Tránh dùng lực quá mạnh để đề phòng bàng quang quá đầy bị vỡ.
3/ Liệu pháp châm cứu: Châm các huyệt Quan nguyên, Thuỷ phân, Tam âm giao, Âm lăng tuyền,… mỗi lần chọn 2–3 huyệt, kích thích mạnh hoặc cứu (hơ ngải) tại các huyệt trên.
4/ Liệu pháp tiêm vào huyệt: Chọn 2 trong các huyệt nêu trên, mỗi huyệt tiêm 0,2–0,5ml dung dịch vitamin B1 hoặc neostigmine.
5/ Liệu pháp đặt ống thông tiểu: Nếu các phương pháp trên không hiệu quả, có thể đặt ống thông tiểu trong điều kiện vô trùng nghiêm ngặt, thay ống 1 lần mỗi tuần. Trong thời gian đặt ống, nên rửa bàng quang mỗi ngày 1 lần bằng 500ml nước muối sinh lý pha với 400.000 đơn vị gentamycin.
Nguyên nhân nào gây ra chứng tiểu không tự chủ ở bệnh nhân mạch máu não? Điều trị như thế nào?
Tiểu không tự chủ do bệnh mạch máu não cũng thường do hai nguyên nhân: Do rối loạn ý thức, trung tâm điều khiển tiểu tiện ở não không được tín hiệu kích thích từ cảm giác buồn tiểu nên không điều khiển việc đi tiểu. Khi bệnh nhân tỉnh táo trở lại, thường có thể tự tiểu. Xuất hiện ở giai đoạn hồi phục hoặc di chứng, đặc biệt phổ biến ở bệnh nhân sa sút trí tuệ do mạch máu. Đây là hậu quả của tổn thương đường dẫn truyền giữa vỏ não và tuỷ sống, làm suy giảm xung động ức chế từ trung tâm cao xuống trung tâm thấp, dẫn đến bàng quang bị kích thích phản xạ, gây co bóp không kiểm soát được. Lâm sàng biểu hiện chủ yếu là tiểu gấp, tiểu nhiều lần và tiểu không tự chủ.
Các phương pháp điều trị tiểu không tự chủ bao gồm: Đối với bệnh nhân nam: Có thể sử dụng bình đựng nước tiểu hoặc ống bao dương vật, đầu còn lại cắt mở nhỏ rồi nối với ống nhựa để dẫn nước tiểu ra ngoài. Phải vệ sinh dương vật và thay bao mỗi ngày để tránh nhiễm trùng. Đối với bệnh nhân nữ: Dựa theo thói quen đi tiểu, có thể chủ động cho bệnh nhân dùng bô đúng giờ hoặc thay tã đúng lúc.
Huấn luyện chức năng bàng quang: Duy trì khả năng co giãn của bàng quang.
1/ Phương pháp đặt ống thông tiểu có kiểm soát: Mở ống thông theo giờ để bàng quang được làm đầy và xả nước đúng chu kỳ, giúp khôi phục trương lực cơ bàng quang. Ban ngày tuỳ lượng nước uống, 2–3 giờ mở ống một lần. Ban đêm thì mở ống liên tục. Nếu bệnh nhân xuất hiện đỏ mặt, rùng mình, nổi gai ốc hoặc đổ mồ hôi lạnh – là dấu hiệu muốn đi tiểu, thì có thể mở ống ngay. Khi phục hồi khá, khuyến khích bệnh nhân cố gắng co bóp tiểu khi mở ống, tập vài lần mỗi ngày, cho đến khi rút ống và bệnh nhân tự tiểu được.2/ Phương pháp thông tiểu ngắt quãng: Phương pháp điều trị tốt, đặc biệt hiệu quả với nữ giới. Cứ 4–6 giờ thông tiểu một lần, ban đêm duy trì mở ống. Trước khi thông tiểu khoảng 30 phút, cho bệnh nhân thử tiểu tự nhiên. Nếu tiểu được, cần đo lượng nước tiểu tồn dư, nếu giảm dần thì có thể kéo dài khoảng cách giữa các lần thông tiểu, cuối cùng dừng hẳn.
Thứ ba, điều trị bằng thuốc: 1/ Thuốc kháng cholinergic và thuốc chống co thắt: Dùng phổ biến là Propiverine và Oxybutynin. Thuốc đầu chỉ có tác dụng kháng cholinergic, thuốc sau có cả tác dụng kháng cholinergic và chống co thắt. Có báo cáo cho thấy propiverine giúp 60% bệnh nhân hết tiểu không tự chủ; oxybutynin giúp tăng dung tích bàng quang 160%. Dùng kết hợp hai thuốc có thể giúp 60–80% bệnh nhân kiểm soát triệu chứng. Thường sau vài ngày sẽ có hiệu quả, nếu không hiệu quả thì không nên tiếp tục dùng.
2/ Thuốc chẹn kênh canxi: Giúp ức chế dòng ion canxi vào tế bào cơ trơn, từ đó giảm co bóp bàng quang. Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy nifedipine có thể giảm co bóp bàng quang và tăng lượng nước tiểu tồn dư; cinnarizine có thể tăng thể tích bàng quang, giảm cơn tiểu gấp và tiểu không kiểm soát.
3/Thuốc ức chế prostaglandin: Prostaglandin (PG) có thể làm co cơ bàng quang, các kích thích thần kinh ở bàng quang có thể thúc đẩy PG tiết ra. Nghiên cứu cho thấy, thuốc ức chế tổng hợp PG như flurbiprofen và indomethacin có thể làm giảm hoạt động bất thường của cơ bàng quang.
Bệnh nhân mạch máu não bị nấc cụt thì nên làm gì?
Nấc cụt là một triệu chứng phổ biến ở bệnh nhân mạch máu não. Nguyên nhân bao gồm: 1/ Do tổn thương cấu trúc lưới ở thân não, có liên quan đến trung tâm hô hấp, trung tâm nôn và bó dọc giữa trong thân não. 2/Do bệnh mạch máu não kèm xuất huyết tiêu hoá trên, giãn dạ dày, co thắt dạ dày,… làm kích thích dây thần kinh phế vị và thần kinh hoành. 3/Do sử dụng quá nhiều thuốc lợi tiểu gây rối loạn nước – điện giải và mất cân bằng kiềm toan, làm tăng kích thích dây thần kinh hoành và phế vị, dẫn đến nấc cụt.
Một khi bệnh nhân mạch máu não xuất hiện nấc cụt, thường kéo dài không dứt, trở thành nấc cụt dai dẳng, điều trị khá khó khăn và là dấu hiệu tiên lượng xấu.
Các biện pháp xử lý nấc cụt:
1/ Nhịn thở: Hít sâu, nín thở một lúc rồi thở ra mạnh, lặp lại nhiều lần.
2/Kích thích họng bằng ống thông mũi: Dùng ống thông mũi để kích thích vùng họng ít nhất 20 phút, thường sẽ làm dừng cơn nấc.
3/Tiêm bắp metoclopramide hoặc diazepam 10mg, hoặc uống metoclopramide 10mg, ngày 3 lần.
4/Nếu áp lực nội sọ và huyết áp không cao, có thể dùng methylphenidate 10–20mg tiêm bắp hoặc truyền tĩnh mạch chậm, thường trong 5–10 phút có thể ngừng nấc.
5/ Hít CO₂: Dùng túi nhựa 200ml trùm mũi và miệng bệnh nhân, để bệnh nhân hít thở khí CO₂ vừa thở ra, đến khi thấy thở gấp thì duy trì thêm 1 phút nữa; hoặc hít khí CO₂ trực tiếp.
6/Châm cứu: Chọn các huyệt Cự khuyết, Trung quản, hai bên Túc tam lý, hai bên Nội quan, tuỳ theo thể trạng và tình hình bệnh mà chọn phương pháp kích thích nhẹ hoặc vừa.
Ly Trường Xuân dịch