Viêm mô liên kết vùng chậu, còn được gọi là viêm mô tế bào vùng chậu, là tình trạng viêm mô liên kết bên ngoài phúc mạc vùng chậu. Mô liên kết vùng chậu bao gồm mô liên kết ở cả hai bên tử cung và phía trước bàng quang, cũng như mô liên kết phía sau phúc mạc vùng chậu. Mô liên kết phía sau phúc mạc vùng chậu được kết nối với mô liên kết phía sau toàn bộ phúc mạc và không có ranh giới phân biệt giữa các mô liên kết ở những phần này. Dây chằng chính và dây chằng tử cung cùng cũng chứa rất nhiều mô liên kết. Viêm mô liên kết xảy ra bên cạnh tử cung là phổ biến nhất và có thể lan sang các phần khác. Nếu tình trạng viêm đầu tiên xảy ra ở mô liên kết vùng chậu, thì đó là tình trạng viêm mô liên kết vùng chậu nguyên phát; nếu tình trạng này là thứ phát sau viêm vòi trứng và viêm phúc mạc vùng chậu nghiêm trọng, thì đó là tình trạng viêm mô liên kết vùng chậu thứ phát. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bệnh, tình trạng viêm mô liên kết vùng chậu có thể là cấp tính hoặc mãn tính.
Các yếu tố gây bệnh phổ biến của tình trạng viêm mô liên kết vùng chậu cấp tính là gì?
Mô liên kết bên cạnh tử cung chứa nhiều mạch máu và mạch bạch huyết đi vào và đi ra khỏi tử cung và cổ tử cung. Khi vết rách cổ tử cung do phá thai hoặc sinh nở nhân tạo, hoặc tụ máu và nhiễm trùng xảy ra xung quanh gốc âm đạo sau khi cắt bỏ tử cung toàn bộ (đặc biệt là cắt bỏ tử cung qua ngả âm đạo), các tác nhân gây bệnh ký sinh trong âm đạo hoặc cổ tử cung có thể xâm nhập qua vùng bị thương và lan dọc theo các mạch máu và mạch bạch huyết, gây ra tình trạng viêm mô liên kết vùng chậu cấp tính. Nhìn chung, tình trạng viêm mô liên kết vùng chậu cấp tính nguyên phát chủ yếu là do chấn thương phẫu thuật. Nếu phụ nữ mang thai bị viêm mô liên kết vùng chậu, tình trạng này thường nghiêm trọng hơn. Nguyên nhân là do mô liên kết vùng chậu bị tắc nghẽn và tăng sinh trong thời kỳ mang thai, khiến tình trạng viêm dễ lan nhanh giữa các mô liên kết vùng chậu. Các tác nhân gây bệnh gây viêm mô liên kết vùng chậu chủ yếu là vi khuẩn hiếu khí hoặc kỵ khí hoặc mycoplasma.
Các triệu chứng của tình trạng viêm mô liên kết vùng chậu cấp tính là gì?
Các triệu chứng của tình trạng viêm mô liên kết vùng chậu cấp tính thường xuất hiện từ 7 đến 14 ngày sau khi nhiễm trùng. Bệnh nhân có thể có tiền sử phẫu thuật phụ khoa trước khi phát bệnh, chẳng hạn như cắt bỏ tử cung toàn phần hoặc phá thai nhân tạo. Các triệu chứng khi phát bệnh: sốt và ớn lạnh, đau bụng dưới, dai dẳng và không chịu ấn. Hoặc có đau lưng. Khám thực thể: đau nhiều ở bụng dưới và căng cơ. Khi viêm liên quan đến phúc mạc vùng chậu, đau bụng dữ dội và có đau dội ngược. Khám phụ khoa thấy mô xung quanh tử cung dày lên và đau rõ ràng. Nếu bệnh của bệnh nhân bắt đầu sau khi cắt bỏ tử cung toàn phần, có thể thấy một lượng nhỏ dịch mủ hoặc dịch tiết mủ ở cuối âm đạo. Xét nghiệm: Cả bạch cầu và bạch cầu trung tính đều tăng.
Vì mô liên kết vùng chậu được kết nối với mô liên kết sau phúc mạc và có thể đến thận, nếu viêm mô liên kết vùng chậu cấp tính không được điều trị, tình trạng viêm không chỉ có thể lan đến ống dẫn trứng, phúc mạc vùng chậu và các mô và cơ quan khác, gây áp xe vùng chậu mà còn lan lên trên, dẫn đến áp xe quanh thận.
Y học cổ truyền Trung Quốc biết gì về viêm mô liên kết vùng chậu cấp tính?
Về nguyên nhân, căn bệnh này chủ yếu bắt nguồn từ lưỡi dao kim loại làm tổn thương kinh xung và kinh nhân, tà độc nhân cơ hội xâm nhập. Tà độc tràn lan, chính tà đấu tranh gây sốt; tà ngăn chặn kinh xung và kinh nhân, khí huyết không thông, do đó xuất hiện đau bụng. Một số bệnh nhân bị tà khí thấp nhiệt trong thời gian dài, tà nhiệt ở phần dưới cơ thể không được đào thải, làm tắc nghẽn khí huyết, gây ra nhiều triệu chứng khác nhau. Do đó, trên lâm sàng có thể chia thành hai loại điều trị: tà độc xâm nhập và tà nhiệt ứ trệ.
Loại tà độc xâm nhập: Triệu chứng bao gồm ớn lạnh và sốt cao, đau bụng liên tục, ấn vào đau dữ dội. Mặt và mắt đỏ, khát nước và thích đồ uống lạnh, nước tiểu vàng và đỏ, táo bón. Hoặc có thể tăng khí hư, màu vàng như mủ. Lưỡi đỏ, rêu lưỡi dày và vàng, mạch huyền sác.
Thể thấp nhiệt ứ kết: Triệu chứng bao gồm sốt nhẹ dao động, hoặc không sốt, bụng dưới chướng hoặc đau âm ỉ, đau lưng và đau bụng, mệt mỏi, miệng dính và khát nước nhưng không muốn uống. Khí hư nhiều, màu vàng và có vị. Lưỡi đỏ hoặc có xuất huyết, rêu lưỡi vàng và nhờn, mạch hoạt.
Viêm mô liên kết vùng chậu cấp tính điều trị như thế nào?
Khi bị viêm mô liên kết vùng chậu cấp tính, phương pháp điều trị chính nên là sử dụng thuốc kháng sinh có hiệu quả cao để điều trị chống viêm, và thuốc phải kịp thời và đủ. Thuốc uống của Trung Quốc có tác dụng thanh nhiệt giải độc, thúc đẩy lưu thông máu và loại bỏ ẩm ướt có thể được sử dụng để làm giảm các triệu chứng và thúc đẩy quá trình phục hồi. Đồng thời, bệnh nhân nên nghỉ ngơi trên giường, nằm ở tư thế nửa nằm nửa ngồi và chú ý đến chế độ ăn uống và dinh dưỡng.
(1) Điều trị bằng kháng sinh: Vì tác nhân gây viêm mô liên kết vùng chậu cấp tính chủ yếu là vi khuẩn hiếu khí và kỵ khí, có thể kết hợp metronidazole và kháng sinh cephalosporin thế hệ thứ ba. Nếu các triệu chứng của bệnh nhân vẫn không cải thiện đáng kể sau khi điều trị bằng kháng sinh đầy đủ, cần xem xét sự hình thành áp xe vùng chậu khi thay băng và tiến hành kiểm tra thêm.
(2) Điều trị bằng thuốc Trung y:
① Thể tà độc xâm nhập: Phép trị: thanh nhiệt giải độc, hóa ứ chỉ thống. Dùng bài Ngân kiều hồng đằng giải độc thang (trích từ 《Thực dụng nam nữ bệnh tình bệnh lâm sàng thủ sách》).
Phương thuốc: Kim ngân hoa 10g, Liên kiều 10g, Hồng đằng 10g, Bại tương thảo 10g, Ý dĩ nhân 12g, Đan bì 9g, Chi tử 12g, Xích thược 12g, Đào nhân 12g, Nguyên hồ 9g, Xuyên luyện tử 9g, Nhũ hương 4.5g, Một dược 4.5g.
Nếu khí hư nhiều, màu vàng như mủ, thêm Hoàng bá 10g, Nhân trần 10g để thanh nhiệt lợi thấp; Nếu đại tiện táo kết, thêm Đại hoàng 6g, Chỉ thực 6g để tả hạ thông tiện; Nếu nhiệt nhập doanh huyết, xuất hiện thần hôn, nói sảng… thì lập tức dùng An cung ngưu hoàng hoàn uống để thanh doanh lương huyết, giải độc khai khiếu.
② Thể thấp nhiệt ứ kết: Phép trị: thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết hóa ứ. Dùng bài Lăng nga tiêu tích thang (trích từ 《Thang phương của Học viện Trung y Thượng Hải》).
Phương thuốc: Tam lăng 10g, Nga truật 10g, Nguyên hồ 10g, Xích thược 6g, Đan bì 12g, Đào nhân 12g, Ý dĩ nhân 15g, Hồng đằng 30g, Bại tương thảo 30g.
Nếu đau trướng bụng dưới rõ, thêm Chế hương phụ 10g, Xuyên luyện tử 10g để hành khí chỉ thống; nếu khí hư nhiều, thêm Hoàng bá 10g, Ngưu tất 10g để thanh nhiệt lợi thấp.
Các bài thuốc trên đều là thuốc sắc uống, sắc theo phương pháp thông thường. Dưới đây giới thiệu hai phương thuốc thụt tháo:
Phương thuốc ① (trích từ 《Thực dụng nam nữ bệnh tình bệnh lâm sàng thủ sách》):
Xích thược 30g, Đan sâm 30g, Hồng đằng 30g, Liên kiều 30g, Hạ khô thảo 15g, Kim ngân hoa 9g, Đại hoàng 9g.
Thuốc sắc đặc 100–150ml, mỗi tối sau khi đi vệ sinh thì thụt tháo. 1 tháng là 1 liệu trình, ngưng dùng trong kỳ kinh. Công hiệu: thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tán kết.
Phương thuốc ② (trích từ 《Nữ bệnh ngoại trị lương phương diệu pháp》):
Hồng đằng 30g, Bại tương thảo 30g, Công anh 30g, Phù dung diệp 30g, Liên kiều 9g, Kim ngân hoa 9g.
Thuốc sắc còn 150ml, dùng ống hậu môn đưa thuốc vào trực tràng, giữ lại hơn 30 phút. Công hiệu: thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết hóa ứ chỉ thống.
(3) Ăn uống điều trị:
Liệu pháp ăn uống có thể dùng làm biện pháp hỗ trợ, tăng hiệu quả điều trị. Dưới đây là hai phương thuốc ăn uống:
Phương thuốc ①: Đương quy Xuyên khung Địa du thang (trích từ 《Hiện đại Trung Tây y phụ khoa học》): Đương quy 12g, Xuyên khung 12g, Sinh địa du 10g, Đường đỏ 20g.
Ba vị thuốc đầu cho vào nồi sắc 20 phút, bỏ bã lấy nước, cho đường đỏ vào đun sôi là dùng được. Ngày 1 thang, chia 2–3 lần uống. Công hiệu: hoạt huyết lương huyết.
Phương thuốc ② (trích từ 《Thực vật liệu pháp》): Mã tiên thảo tươi 60g, Gan heo tươi 100g.
Mã tiên thảo rửa sạch cắt nhỏ, gan heo thái lát, xếp xen kẽ vào đĩa sứ, hấp cách thủy chín, dùng mỗi ngày 1 lần. Công hiệu: thanh nhiệt giải độc, lương huyết tán ứ.
Phòng ngừa viêm mô liên kết vùng chậu cấp tính như thế nào?
Viêm mô liên kết vùng chậu cấp tính phần nhiều do vi khuẩn gây bệnh trực tiếp xâm nhập, thường xảy ra sau các phẫu thuật tại âm đạo, cổ tử cung, tử cung. Do đó, khi thực hiện các phẫu thuật này cần đến bệnh viện chính quy, nơi dụng cụ thường được khử trùng nghiêm ngặt, bác sĩ thao tác đúng chuẩn. Sau phẫu thuật nên dùng kháng sinh theo quy định để phòng nhiễm trùng. Ngoài ra, cần chú ý vệ sinh kinh nguyệt, kiêng quan hệ tình dục trong kỳ kinh và tránh quan hệ không an toàn, giảm nguy cơ mắc viêm nội mạc tử cung và viêm ống dẫn trứng. Trong kỳ kinh, do thay đổi hormone và ảnh hưởng của máu kinh, khả năng tự làm sạch âm đạo giảm, nếu không chú ý vệ sinh, vi khuẩn dễ xâm nhập gây nhiễm trùng. Bình thường nên chú ý điều hòa cảm xúc, giữ tinh thần vui vẻ, lạc quan, tích cực rèn luyện thân thể, nâng cao sức đề kháng. Nếu đã mắc bệnh cần điều trị kịp thời, triệt để để tránh nặng thêm hoặc kéo dài thành mãn tính.
Viêm mô liên kết vùng chậu mãn tính phát sinh như thế nào?
Do hệ thống bạch huyết cổ tử cung thông trực tiếp với mô liên kết cạnh tử cung, nên khi có viêm cổ tử cung mãn tính nặng như lộ tuyến cổ tử cung mức độ nặng, vi khuẩn có thể theo đường bạch huyết xâm nhập vào mô liên kết cạnh tử cung, gây ra viêm mô liên kết vùng chậu mãn tính. Ngoài ra, một số trường hợp do viêm mô liên kết vùng chậu cấp tính không được điều trị triệt để, vi khuẩn vẫn còn tồn tại trong ổ bệnh mà gây ra tình trạng mãn tính.
Viêm mô liên kết vùng chậu mạn tính có những biểu hiện lâm sàng nào?
Khi mắc viêm mô liên kết vùng chậu mạn tính, nếu bệnh nhẹ, người bệnh có thể không có biểu hiện khó chịu rõ ràng, triệu chứng thường gặp là cảm giác âm ỉ hoặc đầy trướng vùng hạ vị, đau khi giao hợp. Do có thể kèm theo viêm khớp cùng chậu, người bệnh có thể đau vùng thắt lưng và xương cùng. Khi khám phụ khoa: dây chằng cùng tử cung dày lên, có cảm giác đau khi ấn, tử cung có thể lệch về bên trái hoặc bên phải của tiểu khung, khả năng di động hạn chế; một bên hoặc hai bên tổ chức cạnh tử cung dày lên, có cảm giác đau khi ấn. Khi bệnh nặng, do tổ chức xơ phát triển, mô liên kết vùng chậu trở nên xơ cứng, tử cung có thể bị cố định hoàn toàn, không di động được.
Trung y nhìn nhận như thế nào về viêm mô liên kết vùng chậu mạn tính?
Bệnh này thuộc bệnh mạn tính, phần nhiều do cảm nhiễm tà độc thấp trọc, không được điều trị triệt để, dẫn đến bệnh kéo dài không khỏi. Tà khí ngăn trở Xung Nhâm, khí huyết không thông, lâu ngày dẫn đến khí trệ huyết ứ. Thấp trọc trở trệ ở hạ tiêu, có thể hóa nhiệt hoặc hóa hàn. Nếu thấp hóa nhiệt, sẽ làm hao tổn âm dịch; nếu hóa hàn, tất sẽ tổn thương dương khí. Lâm sàng chia thành ba thể: thấp nhiệt hạ chú, khí trệ huyết ứ, chính hư tà luyến, để biện chứng luận trị.
Thấp nhiệt hạ chú: Hạ vị nặng trướng đau, ấn vào đau tăng. Khí hư ra nhiều, màu vàng, có mùi. Có thể kèm đau lưng và vùng cùng, đau khi giao hợp, miệng dính nhớt, đắng, tiểu vàng, đại tiện nhớt, mùi hôi. Lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
Khí trệ huyết ứ: Triệu chứng là đau trướng hoặc đau nhói vùng bụng dưới, đau khi giao hợp. Kinh nguyệt có thể nhiều hoặc ít, màu sẫm, có cục. Trước kỳ kinh có cảm giác căng tức vú. Lưỡi sẫm, có điểm ứ huyết, mạch huyền tế.
Chính hư tà luyến (lưu luyến): Bệnh kéo dài, đau bụng âm ỉ, lúc có lúc không. Đau mỏi vùng thắt lưng, tinh thần mệt mỏi, sức yếu. Nếu tỳ thận dương hư sẽ thấy bụng đau thích ấm, thích xoa, khí hư nhiều, màu trong loãng, đau lạnh thắt lưng và đầu gối, tiểu trong dài, giảm ham muốn, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt, rìa có dấu răng, rêu lưỡi trắng mỏng dính, mạch trầm tế. Nếu thận âm tổn thương sẽ thấy đau thắt lưng như gãy, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, lòng bàn tay chân nóng, miệng khô thích uống, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác.
Điều trị viêm mô liên kết vùng chậu mạn tính như thế nào?
Viêm mô liên kết vùng chậu mạn tính do bệnh kéo dài, tổ chức đã xơ hóa nên quá trình điều trị cũng kéo dài. Trị bệnh cần điều trị viêm cổ tử cung mạn tính trước để giảm đường lan bệnh. Kháng sinh có thể dùng cho trường hợp cấp tính, nhưng không nên dùng lâu dài. Bình thường có thể kết hợp vật lý trị liệu và trung dược điều trị, kết hợp nội trị và ngoại trị, kiên trì mới có hiệu quả. Ngoài ra, người bệnh cần chú ý điều dưỡng, lao động nghỉ ngơi hợp lý, rèn luyện cơ thể, ăn uống đầy đủ chất nhưng tránh bổ dưỡng thái quá.
Vật lý trị liệu cũng là một trong những phương pháp điều trị, có nhiều loại thường dùng như: điều trị phổ tần, liệu pháp nhiệt sóng ngắn và sóng trung bình, điều trị bằng vi sóng, dẫn thuốc bằng dòng điện một chiều v.v., tất cả đều cần kiên trì lâu dài mới đạt hiệu quả tốt.
Dưới đây giới thiệu phương pháp trung dược nội trị và ngoại trị:
Trung dược uống trong điều trị:
(1) Thể thấp nhiệt hạ chú: Trị bằng phép thanh nhiệt lợi thấp, giải độc.
Phương thuốc (Trương Gia Nam · Phúc Kiến Trung y dược 1995; 3:33):
Bồ công anh 15g, Bại tương thảo 15g, Hạ khô thảo 15g, Đan sâm 15g, Táo thích 15g, Sơn tra 10g, Xuyên luyện tử 10g, Diên hồ sách 10g, Ô dược 10g, Hương phụ 10g, Ý dĩ nhân 30g
Nếu khí hư nhiều, màu vàng: Gia Hoàng bá 12g, Trạch tả 10g, Ngưu tất 10g để thanh lợi thấp nhiệt.
(2) Thể khí trệ huyết ứ: Trị bằng phép hoạt huyết hóa ứ, hành khí chỉ thống. Dùng bài Cách hạ trục ứ thang (trích 《Y lâm cải thác》).
Phương thuốc: Ngũ linh chi 10g, Đương quy 10g, Xuyên khung 6g, Đào nhân 10g, Đan bì 10g, Xích – Bạch thược mỗi vị 10g, Ô dược 10g, Nguyên hồ 10g, Hương phụ 10g, Hồng hoa 10g, Chỉ xác 10g, Cam thảo 3g.
Nếu căng tức vú rõ rệt trước kỳ kinh, thêm Sài hồ 10g, Uất kim 10g để sơ can lý khí; nếu kinh nguyệt ít, màu sẫm, thêm Ích mẫu thảo 15g để hoạt huyết hóa ứ.
(3) Chính hư tà luyến: Nên phép trị là phù chính khu tà. Nếu thuộc tỳ thận dương hư, trị bằng kiện tỳ ích thận, ôn dương tán kết. Dùng bài Ôn kinh thang gia vị (trích 《Thực dụng nam nữ bệnh tính bệnh lâm sàng thủ sách》).
Phương thuốc: Ngô thù du 6g, Quế chi 6g, Xuyên khung 6g, Bán hạ 6g, Cam thảo 6g, Đương quy 9g, Sao thược 9g, Đảng sâm 9g, Đan bì 9g, Mạch môn 9g, A giao (hòa tan) 9g, Can khương 6g, Chế phụ tử 10g, Quế chi 6g, Bạch giới tử 10g, Côn bố 10g, Hạ khô thảo 12g, Táo thích 10g. Nếu thuộc thận âm bị tổn thương thì trị bằng tư bổ thận âm, thanh hư nhiệt, dùng bài Tả quy hoàn (trích 《Cảnh Nhạc toàn thư》) đổi thành dạng thang: Thục địa 24g, Sơn dược 12g, Câu kỷ tử 12g, Sơn thù du 12g, Xuyên ngưu tất 9g, Thỏ ty tử 12g, Quy bản giao 12g, Lộc giác giao 12g; nếu ra mồ hôi trộm, nóng lòng bàn tay chân rõ rệt, thêm Nữ trinh tử 12g, Hạn liên thảo 12g để tư thận âm.
Trung dược ngoại trị:
Trung dược ngoại trị bao gồm nhiều phương pháp như dán huyệt, thẩm thấu qua da, dẫn thuốc bằng điện ion, thụt rửa âm đạo, tiêm bắp thuốc Trung y, thụt hậu môn… Trong đó, phương pháp thụt hậu môn là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất. Dưới đây giới thiệu hai phương thuốc dùng để thụt hậu môn:
Phương ① (Tằng Tú Phạm – Hắc Long Giang Trung y dược 1996; (1):14):
Đương quy 20g, Hương phụ 15g, Bạch truật 15g, Phục linh 15g, Xuyên khung 15g, Đan sâm 15g, Chỉ xác 10g, Đào nhân 10g, Bạch thược 10g
Sắc thuốc giữ lại để thụt hậu môn 4–12 giờ, mỗi ngày 1 thang, 10 ngày là một liệu trình. Phương này có công năng sơ can lý khí, hoạt huyết hóa ứ. Phù hợp với thể khí trệ huyết ứ.
Phương ② (trích 《Nữ bệnh ngoại trị lương phương diệu pháp》):
Hồng đằng 30g, Bại tương thảo 30g, Công anh 30g, Đan sâm 30g, Kim ngân hoa 20g, Liên kiều 20g, Áp chỉ thảo 20g, Địa đinh 25g
Sắc còn 100ml, thụt hậu môn trong vòng 30 phút, sau đó nằm nghỉ 30 phút, mỗi tối 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Phương này có công năng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết hóa ứ.
Ngoài ra, một số phương thuốc kinh nghiệm, phương pháp ăn uống trị liệu đơn giản dễ làm, có thể áp dụng đối với người không tiện mua thuốc:
Phương ① (trích 《Thực dụng Trung Tây y kết hợp lâm sàng thủ sách》):
Đại thanh diêm 0,5kg
Rang nóng rồi bọc trong vải, đắp lên vùng bụng dưới, mỗi ngày 1–2 lần, mỗi lần 30 phút. Phương này có công năng ôn kinh tán hàn, thông lạc chỉ thống.
Phương ② (trích 《Thực dụng nam nữ bệnh tính bệnh lâm sàng thủ sách》):
Hạt cải dầu 60g, Nhục quế 60g, dấm và bột mì lượng vừa đủ
Hai vị đầu sao khô, nghiền mịn, trộn với dấm và bột mì làm thành viên bằng hạt nhãn. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên, dùng rượu vàng ấm để uống. Phương này có công năng ôn kinh hoạt huyết, tán ứ chỉ thống.
Phương ③ (trích 《Thường kiến bệnh chứng đích biện chứng dữ thực liệu》):
Mã xỉ hiện (rau sam) 60g, Xa tiền thảo(cây Mã đề) 15g
Sắc uống thay trà, mỗi ngày 1 thang, uống liên tục 5–7 ngày. Phương này có công năng thanh nhiệt lợi thấp, giải độc tiêu thũng.
Phòng ngừa viêm mô liên kết vùng chậu mạn tính như thế nào?
Viêm mô liên kết vùng chậu mạn tính thường do viêm mô liên kết vùng chậu cấp tính không được điều trị kịp thời và hiệu quả dẫn đến kéo dài. Vì vậy, khi phát hiện bị viêm mô liên kết vùng chậu cấp tính, việc điều trị triệt để kịp thời là rất cần thiết. Triệu chứng biến mất không đồng nghĩa với khỏi bệnh, cần tiếp tục điều trị củng cố thêm một thời gian, đợi khi các chỉ số đều bình thường mới coi là khỏi bệnh.
Nếu đã mắc viêm mô liên kết vùng chậu mạn tính, cũng không nên bi quan, cần xây dựng lòng tin chiến thắng bệnh tật. Quan trọng nhất là kiên trì điều trị đến cùng, tránh kéo dài không khỏi và tái phát cấp tính nhiều lần, khiến bệnh trở nên nghiêm trọng và tăng độ khó điều trị. Trong quá trình điều trị, nên tăng cường dinh dưỡng, lao động nghỉ ngơi hợp lý, giữ tâm trạng vui vẻ, tránh sinh hoạt tình dục không điều độ hoặc không vệ sinh.
Ly Trường Xuân dịch