Băng lậu là một loại rối loạn nghiêm trọng về chu kỳ và lượng máu kinh, chỉ tình trạng máu kinh ra bất thường, đột ngột và không ngừng hoặc ra rỉ rả không dứt. Trường hợp trước gọi là “băng”, trường hợp sau gọi là “lậu”. Bệnh này chủ yếu do các yếu tố bệnh lý làm tổn thương xung nhâm, khiến chức năng cố nhiếp mất điều hòa, huyết không được khống chế mà sinh ra bệnh. Các nguyên nhân thường gặp gồm:
(1) Huyết nhiệt vọng hành: Do cơ địa dương thịnh, hoặc tình chí uất kết khiến can uất hóa hỏa; hoặc cảm phải tà nhiệt, ăn quá nhiều đồ cay nóng gây thực hỏa, đốt thương xung nhâm, làm rối loạn huyết hải, thúc huyết đi sai đường gây băng lậu.
(2) Âm hư hỏa vượng: Do cơ thể vốn âm hư, hoặc mắc bệnh lâu ngày làm mất máu tổn thương âm dịch, dẫn đến âm hư hỏa vượng, làm rối loạn huyết hải, máu đi sai thời điểm. Mất máu quá nhiều lại càng tổn thương tân dịch, âm càng hư thì hỏa càng vượng, khiến bệnh kéo dài không khỏi.
(3) Huyết ứ trở trệ: Do tình chí nội thương, khí huyết xung nhâm uất trệ; hoặc trong kỳ kinh hay sau sinh, huyết chưa hết mà cảm phải ngoại tà, khiến ứ trệ mạch kinh, tân huyết không về được kinh lạc mà chảy ra ngoài.
(4) Khí hư bất nhiếp: Do lo nghĩ quá độ, ăn uống lao nhọc, tổn thương tỳ khí, khí hư hạ hãm, không nhiếp huyết được, xung nhâm mất cố nhiếp mà không điều tiết được huyết kinh gây ra băng lậu.
(5) Thận khí bất cố: Cơ thể vốn thận khí kém, hoặc do kết hôn sớm, sinh nhiều, phòng sự quá độ làm tổn thương thận khí; hoặc tuổi cao thận khí suy yếu, hoặc do phẫu thuật tổn thương làm thận khí hư, mất chức năng bế tàng, xung nhâm mất cố nhiếp gây băng lậu.
(6) Can đởm thấp nhiệt: Do thấp nhiệt tích lại lâu ngày, hoặc trong kỳ kinh, sau sinh cảm phải thấp nhiệt tà, tích lại ở can đởm, hạ xuống xung nhâm, làm rối loạn huyết thất gây xuất huyết kinh không đúng thời.
(7) Đàm thấp trở trệ: Do cơ thể vốn đàm thấp thịnh, hoặc tỳ hư sinh thấp hóa đàm, đàm thấp hạ xuống xung nhâm, cản trở mạch tử cung, khiến huyết không về được kinh lạc mà sinh ra băng lậu.
(8) Khí cơ nghịch loạn: Do giận dữ hại can, khí cơ nghịch loạn; hoặc lo sợ quá độ, tinh thần căng thẳng làm khí cơ mất điều hòa, huyết hải bất ổn, huyết theo khí mà loạn, gây băng lậu.
Phép trị băng lậu đơn giản:
(1) Phương thuốc đơn giản:
① Ích mẫu thảo 30g – sắc uống (thích hợp cho huyết ứ).
② Tiên hạc thảo, huyết kiến sầu, hạn liên thảo mỗi vị 30g – sắc uống (thích hợp cho huyết nhiệt).
③ Bạch thược 15g, hương phụ 12g, sinh thục bồ hoàng mỗi loại 10g – sắc uống (thích hợp cho khí trệ huyết ứ).
④ Hạn liên thảo, nữ trinh tử mỗi vị 15g; sơn thù nhục, quán chúng, địa du, sinh địa mỗi vị 12g – sắc uống (thích hợp cho thận âm hư).
⑤ Xích thạch chi, bổ cốt chi – lượng bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần (thích hợp cho thận khí hư hàn).
⑥ Hoè mễ, bạch truật mỗi vị 20g; hoàng kỳ, hạn liên thảo, ô tặc cốt mỗi vị 30g; cam thảo 10g – sắc uống (thích hợp cho tỳ hư không thống nhiếp huyết dịch).
⑦ Lộc giác sương 15g, bào khương thán 10g, tam thất 6g – tán bột, mỗi lần uống 3g, ngày 3 lần (thích hợp cho tỳ thận dương hư).
⑧ Tông lư thán, liên phòng thán, huyết dư thán – lượng bằng nhau, tán bột, mỗi lần 5g, ngày 3 lần.
⑨ Tiên hạc thảo, sinh long mẫu mỗi vị 50g, ô tặc cốt 30g – sắc uống (thích hợp cho nhiều thể bệnh).
(2) Phép trị bằng ăn uống:
① Nước ép ngó sen tươi thêm ít đường trắng – dùng cho huyết nhiệt vọng hành.
② Sinh địa tươi 60g, gạo tẻ 100g – nấu cháo ăn (thích hợp cho âm hư huyết nhiệt).
③ Bắp tươi, hoài sơn mỗi vị 50g, gạo tẻ 100g – nấu cháo ăn (thích hợp cho thấp nhiệt hạ chú hoặc tỳ hư thấp thịnh).
④ Sơn tra 30g, đường phèn vừa đủ – hãm uống thay trà (thích hợp cho huyết ứ).
⑤ Đào nhân 6g, mực tươi 1 con – nấu chín nêm nếm rồi ăn thịt, uống nước.
⑥ Hoàng kỳ 50g, nhân sâm 10g, nhục quế 3g, gà sống 1 con – hầm chín ăn thịt, uống nước.
⑦ Hoài sơn, khiếm thực, đại táo mỗi vị 30g; liên tử 50g; gạo tẻ 100g – nấu cháo ăn (thích hợp cho tỳ khí hư).
⑧ Thận lợn 1 cặp, nhân hạt óc chó, liên tử mỗi vị 50g, tục đoạn (bọc), tang ký sinh (bọc) mỗi vị 15g – hầm ăn thịt, uống nước (thích hợp cho thận hư bất cố).
⑨ Hoàng kỳ, mộc nhĩ mỗi vị 15g; củ sen, đậu đen mỗi vị 30g; thịt heo nạc 100g – nấu canh ăn (thích hợp cho tỳ thận hư).
(3) Châm cứu:
① Châm huyệt toàn thân:
– Trường hợp ra huyết nhiều: chọn Thần khuyết, Ẩn bạch – cứu ngải 20 phút (sau 10 phút sẽ giảm huyết).
– Các huyệt dùng: Tam âm giao, Túc tam lý, Âm lăng tuyền, Quan nguyên, Trung cực, Huyết hải, Thận du, Tỳ du, Thái xung, Thủy tuyền, Khí hải.
=> Mỗi lần chọn 3–4 huyệt, châm cứu, tùy bệnh cơ mà dùng phép bổ hay tả.
② Châm huyệt tai:
– Các huyệt: Tử cung, nội phân tiết, bì chất hạ, tỳ, thận, can, buồng trứng.
=> Mỗi lần chọn 2–3 huyệt châm cứu hoặc dùng chôn kim (mai châm).
Các loại thuốc thành phẩm chữa băng lậu:
(1) Thập hôi hoàn, mỗi lần 6g, ngày uống 3 lần (thích hợp cho người huyết nhiệt).
(2) Cố kinh hoàn, mỗi lần 9g, ngày uống 3 lần (thích hợp cho người âm hư huyết nhiệt).
(3) Hà diệp hoàn, mỗi lần 9g, ngày uống 3 lần (thích hợp cho người huyết nhiệt hoặc âm hư hỏa vượng).
(4) Long đởm tả can hoàn, mỗi lần 6g, ngày uống 2 lần (thích hợp cho người can đởm thấp nhiệt).
(5) Ích mẫu hoàn, mỗi lần 6g, ngày uống 2 lần (thích hợp cho người huyết ứ).
(6) Chấn linh hoàn, mỗi lần 9g, ngày uống 2 lần (thích hợp cho người khí trệ huyết ứ).
(7) Ô kim hoàn, mỗi lần 6g, ngày uống 3 lần (thích hợp cho người can khí uất trệ).
(8) Băng lậu hoàn, mỗi lần 6g, ngày uống 3 lần (thích hợp cho người can thận âm hư).
(9) Toàn lộc hoàn, mỗi lần 9g, ngày uống 2 lần (thích hợp cho người tỳ thận dương hư).
(10) Nhân sâm quy tỳ hoàn, mỗi lần 6g, ngày uống 2 lần (thích hợp cho người tỳ khí hư không nhiếp được huyết).
(11) Bổ trung ích khí hoàn, mỗi lần 6g, ngày uống 3 lần (thích hợp cho người khí hư hạ hãm).
(12) Kim quỹ thận khí hoàn, mỗi lần 6g, ngày uống 3 lần (thích hợp cho người thận dương bất túc).
(13) Phụ huyết ninh, mỗi lần 5 viên, ngày uống 3 lần.
(14) Vân Nam bạch dược, mỗi lần 0,3g, ngày uống 3 lần (thích hợp cho nhiều thể bệnh khác nhau).
Các biến chứng thường gặp trong quá trình bệnh băng lậu gồm: Hư thoát, thiếu máu, và cảm nhiễm tà độc.
(1) Hư thoát:
Bệnh tình khởi phát cấp, lượng huyết ra nhiều, xuất hiện thần trí mờ mịt, mặt trắng bệch, tứ chi lạnh ngắt, mồ hôi ra như tắm, thở gấp ngắn. Mạch phù hoặc trầm phục không hiện rõ.
– Trị pháp: Ích khí cố thoát.
– Phương thuốc tuyển chọn ưu tiên: Độc sâm thang (theo 《Thập Dược Thần Thư》): nhân sâm 12g – sắc uống.
– Phương tham khảo: Sâm phụ thang (theo 《Hiệu Chú Phụ Nhân Lương Phương》): Nhân sâm 15g, phụ tử 10g – sắc uống (thích hợp cho chứng hư thoát nặng, tứ chi lạnh ngắt, mồ hôi ra như tắm).
– Châm cứu cấp cứu: chọn Nhân trung, Hợp cốc, Bách hội, Dũng tuyền – châm với kích thích mạnh.
(2) Thiếu máu:
Mất huyết quá nhiều, thấy môi lưỡi nhợt nhạt, mặt không có sắc, mệt mỏi vô lực, hoa mắt chóng mặt, hồi hộp bất an, mạch trầm tế vô lực.
– Trị pháp: Bổ khí dưỡng huyết.
– Phương thuốc chọn đầu: Quy tỳ thang (theo 《Hiệu Chú Phụ Nhân Lương Phương》) – đã nêu trong phần điều trị kinh nguyệt đến sớm.
– Có thể gia thêm: a giao (hòa tan) 10g, kỷ tử 30g, tang thầm 15g, tử hà xa tán (hòa tan) 3g để bổ thận, ích tinh, dưỡng huyết.
– Nếu ăn uống kém, gia trần bì, kê nội kim mỗi vị 12g để kiện tỳ khai vị.
– Phương tham khảo:
① Tứ vật thang – đã nêu trong phần điều trị kinh sắc nhạt (thích hợp cho huyết hư là chính).
② Thập toàn đại bổ thang – đã nêu trong phần điều trị thống kinh (thích hợp cho khí huyết lưỡng hư).
(3) Nhiễm tà độc:
Đau bụng không chịu ấn nắn, lưng đau mỏi, khí hư đặc dính, màu vàng, mùi hôi, hoặc năm màu lẫn lộn. Kèm theo bứt rứt khát nước, đại tiện khô, tiểu tiện vàng, hoặc có sốt. Lưỡi rêu vàng nhớt, mạch hoạt sác.
– Trị pháp: Thanh nhiệt giải độc hóa thấp.
– Phương thuốc chọn ưu tiên: Ngũ vị tiêu độc ẩm (theo 《Y Tông Kim Giám》): Kim ngân hoa, dã cúc hoa, bồ công anh, tử hoa địa đinh mỗi vị 30g, tử bối thiên quy 15g.
– Nếu nhiệt độc nặng, gia liên kiều 15g, hoàng cầm 10g để tăng công dụng giải độc.
– Nếu nhiệt độc nặng hơn, có thể chọn dùng Hoàng liên giải độc thang (đã nêu trong phần can đởm thấp nhiệt), hoặc Tê giác địa hoàng thang (theo 《Thiên Kim Phương》): Tê giác 3g, sinh địa 30g, thược dược 12g, mẫu đơn bì 9g – phối hợp sử dụng.
– Nếu đau bụng nhiều, gia hương phụ 12g, ngũ linh chi (bọc) 10g để hoạt huyết hành khí chỉ thống.
– Nếu xuất huyết nhiều, gia sao thăng ma, tây thảo mỗi vị 12g, tiểu kế 15g để chỉ huyết.
– Nếu tâm phiền khát nước, gia huyền sâm 15g, sơn chi tử, mạch môn mỗi vị 12g để dưỡng âm sinh tân, trừ phiền.
– Phương tham khảo: Tiên phương hoạt mệnh ẩm (theo 《Phụ Nhân Lương Phương》): Bạch chỉ, bối mẫu, phòng phong, xích thược, đương quy, cam thảo tiết, sao tạo thích, chế xuyên sơn giáp, thiên hoa phấn, nhũ hương, một dược mỗi vị 3g, kim ngân hoa, trần bì mỗi vị 9g (thích hợp cho nhiệt độc ủng tắc, dinh vệ bế tắc).
Ly Trường Xuân