Áp xe tuyến tiền liệt là tình trạng trong mô tuyến tiền liệt hình thành ổ mủ, thường phát sinh từ viêm tuyến tiền liệt cấp không được kiểm soát hiệu quả. Đây là bệnh nhiễm trùng nặng, có thể dẫn đến bí tiểu, nhiễm khuẩn huyết, vỡ ổ áp xe vào niệu đạo, trực tràng hoặc các mô xung quanh.
Theo Trung y, bệnh có thể thuộc phạm vi Nhiệt lâm, Ung thư, Hạ tiêu ung độc và Tinh thất ung. Bệnh cơ chủ yếu là thấp nhiệt và nhiệt độc kết lại ở hạ tiêu, khí huyết bị bế trở, lâu ngày nhiệt thắng làm thịt thối thành mủ.
I. NGUYÊN NHÂN VÀ BỆNH CƠ
Thấp nhiệt uất lại ở Bàng quang và tinh thất, làm khí hóa không thông, gây tiểu gấp, tiểu buốt, tiểu khó, đau vùng hội âm và bụng dưới.
Viêm cấp kéo dài, chính khí suy hoặc điều trị không đầy đủ làm nhiệt độc ngày càng mạnh, kết tụ trong tuyến tiền liệt, gây sưng, đau và hình thành mủ.
Thấp nhiệt và độc tà làm khí cơ bế tắc, huyết hành không thông. Khí trệ huyết ứ khiến đau tăng, ổ viêm khó tiêu và mủ khó thoát.
Người cao tuổi, người mắc đái tháo đường, suy giảm miễn dịch hoặc bệnh mạn tính thường có chính khí suy, khả năng kháng tà yếu, vì vậy ổ viêm dễ tiến triển thành áp xe.
Nói tóm lại, bệnh lấy thấp nhiệt độc thịnh làm chủ, khí huyết ứ trệ làm điều kiện, chính khí suy là nền tảng khiến bệnh khó hồi phục.
II. DẤU HIỆU GỢI Ý ÁP XE TUYẾN TIỀN LIỆT
Cần nghĩ đến áp xe tuyến tiền liệt khi viêm tuyến tiền liệt cấp đã điều trị nhưng sau khoảng một tuần vẫn sốt, đau tăng, bạch cầu tiếp tục cao hoặc tiểu tiện ngày càng khó.
Biểu hiện thường gặp: Sốt cao hoặc sốt kéo dài, rét run, đau dữ dội vùng hội âm, trực tràng hoặc bụng dưới, đau tăng khi ngồi hoặc đại tiện, tiểu gấp, tiểu buốt, tia tiểu yếu, bí tiểu, mệt lả, chán ăn, có thể có mủ từ niệu đạo.
Khám trực tràng có thể thấy tuyến tiền liệt sưng to, rất đau, không đối xứng hoặc có vùng mềm dao động. Việc khám phải do bác sĩ thực hiện nhẹ nhàng; không được xoa bóp tuyến tiền liệt khi nghi có áp xe.
III. CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán dựa vào bệnh sử, biểu hiện nhiễm trùng, khám chuyên khoa, xét nghiệm máu, nước tiểu, cấy vi khuẩn và hình ảnh học.
Siêu âm qua trực tràng, siêu âm vùng chậu, CT hoặc MRI có thể giúp xác định vị trí, kích thước và số lượng ổ áp xe. Mẫu mủ hoặc nước tiểu có thể được nuôi cấy để lựa chọn kháng sinh thích hợp.
Chú ý: Không tự chọc hút hoặc bóp tuyến tiền liệt để lấy mủ. Những thao tác này có thể làm nhiễm trùng lan vào máu, gây chảy máu hoặc tổn thương trực tràng và niệu đạo.
IV. THỂ NHIỆT ĐỘC UẤT THỊNH
Chủ chứng: Sốt cao, rét run, đau dữ dội vùng hội âm và bụng dưới, cảm giác căng tức trực tràng, tiểu buốt, tiểu khó hoặc bí tiểu, nước tiểu vàng đục, miệng khát, bứt rứt, đại tiện có thể táo, lưỡi đỏ, rêu vàng dày hoặc vàng nhờn, mạch hồng sác hoặc hoạt sác hữu lực.
Bệnh cơ: Nhiệt độc kết tụ ở hạ tiêu, khí huyết bị bế trở, thịt thối thành mủ.
Phép trị: Thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng, bài nùng, hoạt huyết chỉ thống.
Phương thang: Tiên phương Hoạt mệnh ẩm gia giảm: Bạch chỉ 12 g, Phòng phong 9 g, Bối mẫu 12 g, Xích thược 9 g, Đương quy vĩ 9 g, Tạo giác thích 15 g, Nhũ hương 6 g, Một dược 6 g, Thiên hoa phấn 15 g, Cam thảo 6 g.
Gia giảm: Sốt cao không hạ gia Sinh thạch cao, Bại tương thảo, Hoàng liên; đại tiện táo gia Đại hoàng với liều thích hợp; tiểu buốt gia Xa tiền thảo, Biển súc, Cù mạch; nước tiểu đục gia Tỳ giải; đau nhiều gia Diên hồ sách, Uất kim.
Chú ý: Không dùng Xuyên sơn giáp. Tạo giác thích, Nhũ hương và Một dược cần thận trọng ở người đang dùng thuốc chống đông hoặc có nguy cơ chảy máu. Phương thuốc chỉ có vai trò phối hợp, không thay thế dẫn lưu và kháng sinh khi đã hình thành ổ mủ.
V. THỂ THẤP NHIỆT NỘI UẤT
Chủ chứng: Sốt vừa hoặc sốt dao động, đau và nặng vùng hội âm, tiểu gấp, tiểu buốt, tiểu nhỏ giọt, nước tiểu vàng đục hoặc có mủ, bụng dưới đầy tức, miệng đắng, buồn nôn, lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ: Thấp và nhiệt cùng kết ở hạ tiêu, làm Bàng quang khí hóa không thông, tinh thất bị hun đốt.
Phép trị: Thanh nhiệt lợi thấp, thông lâm, tiêu thũng bài nùng.
Phương thang: Bát chính tán gia giảm: Mộc thông 6 g, Cù mạch 9 g, Xa tiền tử 15 g, Biển súc 15 g, Hoạt thạch 20 g, Chích cam thảo 9 g, Đại hoàng chế 6 g, Chi tử 6 g.
Gia giảm: Sốt cao gia Kim ngân hoa, Bồ công anh, Bại tương thảo; tiểu ra mủ gia Xa tiền thảo, Tỳ giải, Trạch tả; táo bón gia Hỏa ma nhân; đau vùng hội âm gia Xích thược, Đan sâm, Diên hồ sách.
Chú ý: Mộc thông phải dùng đúng loại an toàn, không dùng Quan mộc thông. Người suy thận, mất nước hoặc rối loạn điện giải cần thận trọng với các vị lợi thủy và tả hạ.
VI. THỂ KHÍ HUYẾT Ứ TRỆ, MỦ KHÓ THOÁT
Chủ chứng: Đau cố định và dữ dội vùng hội âm hoặc bụng dưới, sờ vùng tuyến tiền liệt thấy căng đau, sốt kéo dài, tiểu khó, lưỡi đỏ tối hoặc có điểm ứ, rêu vàng nhờn, mạch sáp sác.
Bệnh cơ: Nhiệt độc kết tụ làm khí huyết bế tắc, ổ mủ đã hình thành nhưng khó dẫn thoát.
Phép trị: Hoạt huyết hóa ứ, giải độc, tiêu thũng bài nùng.
Phương thang: Tiên phương Hoạt mệnh ẩm gia Đan sâm, Xích thược, Vương bất lưu hành, Bại tương thảo, Bồ công anh và Thiên hoa phấn.
Chú ý: Khi ổ mủ đã hình thành rõ, thuốc uống thường không thể làm mủ tự tiêu hoàn toàn. Nếu ổ áp xe lớn, có nhiều ngăn, gây bí tiểu hoặc không đáp ứng kháng sinh, dẫn lưu là biện pháp quan trọng.
VII. THỂ CHÍNH HƯ ĐỘC LƯU
Chủ chứng: Bệnh kéo dài, sốt không cao nhưng dai dẳng, mệt mỏi rõ, sắc mặt nhợt, ăn kém, ra mồ hôi, ổ áp xe lâu hồi phục, mủ loãng, vết dẫn lưu lâu liền, lưỡi nhạt đỏ, rêu mỏng, mạch tế nhược.
Bệnh cơ: Nhiệt độc chưa hết nhưng chính khí đã suy, khí huyết không đủ để đẩy độc và sinh cơ.
Phép trị: Ích khí dưỡng huyết, giải độc, sinh cơ; không bổ quá sớm khi độc nhiệt còn thịnh.
Phương thang: Thác lý Tiêu độc tán gia giảm: Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Đương quy, Bạch thược, Kim ngân hoa, Liên kiều, Bồ công anh và Cam thảo.
Chú ý: Hoàng kỳ chỉ thích hợp khi sốt cao và độc nhiệt đã giảm, người bệnh có biểu hiện khí hư rõ. Không dùng Hoàng kỳ liều lớn trong giai đoạn nhiệt độc còn bế thịnh.
VIII. ĐIỀU TRỊ Y HỌC HIỆN ĐẠI
Điều trị nền tảng gồm kháng sinh, hỗ trợ toàn thân và dẫn lưu ổ mủ khi cần thiết.
Kháng sinh cần được lựa chọn căn cứ mức độ bệnh, cấy nước tiểu hoặc cấy mủ, tình trạng kháng thuốc, chức năng thận và các bệnh đi kèm. Không áp dụng các liều ampicillin, metronidazole hoặc clindamycin cố định trong tài liệu cũ.
Ổ áp xe nhỏ ở người ổn định có thể được theo dõi sát trong khi dùng kháng sinh. Ổ lớn, nhiều ngăn, gây bí tiểu, nhiễm khuẩn huyết hoặc không cải thiện thường cần chọc hút hay dẫn lưu dưới hướng dẫn hình ảnh, qua đường tầng sinh môn hoặc qua niệu đạo tùy vị trí.
Chú ý: Dẫn lưu phải được thực hiện trong cơ sở y tế. Không tự tiêm kháng sinh vào khoang áp xe.
IX. CHĂM SÓC HỖ TRỢ
Nghỉ ngơi đầy đủ, uống nước căn cứ tình trạng tim và thận, theo dõi nhiệt độ, huyết áp, lượng nước tiểu và mức độ đau.
Điều chỉnh táo bón để tránh rặn mạnh.
Không ngồi lâu hoặc đạp xe.
Không quan hệ tình dục trong giai đoạn nhiễm trùng cấp.
Không uống rượu và hạn chế thức ăn cay nóng.
Giữ vùng hội âm sạch, khô.
Chú ý: Không chườm túi nước nóng trực tiếp lên hội âm hoặc bụng dưới. Nhiệt cao có thể gây bỏng, nhất là ở người đái tháo đường hoặc giảm cảm giác, và không thay thế dẫn lưu ổ mủ.
X. NGOẠI TRỊ TRUNG Y
Tài liệu cũ có ghi phương pháp thụt thuốc qua trực tràng, đắp thuốc hoặc rạch dẫn lưu vùng hội âm. Những phương pháp này không nên tự thực hiện.
Không thụt thuốc sắc vào trực tràng vì có nguy cơ tổn thương niêm mạc, nhiễm trùng và không bảo đảm vô khuẩn.
Không đắp bột thuốc hoặc cao dược liệu vào vết dẫn lưu.
Sau dẫn lưu, chăm sóc vết thương phải theo nguyên tắc vô khuẩn và hướng dẫn của bác sĩ.
XI. NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN ÁP DỤNG
Không xoa bóp tuyến tiền liệt.
Không tự khám trực tràng nhiều lần.
Không tự chọc hút mủ.
Không tiêm thuốc vào tuyến tiền liệt, niệu đạo hoặc tầng sinh môn.
Không dùng kháng sinh theo liều cũ trong tài liệu.
Không thụt thuốc sắc qua hậu môn.
Không dùng Xuyên sơn giáp.
Không đắp thuốc không vô khuẩn vào vết mổ hoặc đường dẫn lưu.
Không chườm nóng mạnh vùng hội âm.
Không trì hoãn dẫn lưu khi ổ mủ lớn hoặc bệnh không cải thiện.
XII. DẤU HIỆU CẦN KHÁM KHẨN CẤP
Sốt và rét run kéo dài, đau hội âm tăng, tiểu khó rõ, tiểu ra mủ, tiểu máu, đau trực tràng, mệt lả hoặc đã dùng kháng sinh nhưng sau vài ngày không cải thiện.
XIII. DẤU HIỆU CẦN CẤP CỨU
Bí tiểu hoàn toàn, sốt cao kèm rét run, lơ mơ, thở nhanh, tim đập nhanh, huyết áp tụt, tiểu ít, đau dữ dội tăng nhanh, nôn liên tục hoặc nghi nhiễm khuẩn huyết.
Nói tóm lại, áp xe tuyến tiền liệt theo Trung y phần nhiều thuộc thấp nhiệt độc thịnh, khí huyết ứ trệ và thịt thối thành mủ. Khi bệnh mới phát, phép thanh nhiệt lợi thấp, giải độc và hoạt huyết có thể dùng phối hợp. Khi ổ mủ đã hình thành, kháng sinh và dẫn lưu đúng thời điểm là nền tảng; thuốc Trung y không thể thay thế việc loại bỏ mủ. Điều trị sớm, theo dõi sát và tránh các thủ thuật tại nhà giúp hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn huyết, bí tiểu và chuyển thành viêm tuyến tiền liệt mạn tính.
Trường Xuân biên soạn