Bệnh nhân: Nam, 52 tuổi.Khám lần đầu – 17/10/1999
Triệu chứng chính: bầm-sưng và đau tinh hoàn trái 2 tháng. Tiền sử: đầu tháng 8, trong lúc bốc gỗ va đập mạnh vào tinh hoàn trái, sưng đau dữ dội; tự đắp thuốc dân gian không đỡ. Cuối tháng 8, mổ dẫn lưu tại bệnh viện khác, hút 200 ml máu tụ ở cực trên tinh hoàn. Đến nay tinh hoàn trái vẫn to bằng nắm tay (≈ 5 × 6 cm). Vết mổ căng tức, đêm mất ngủ. Lưỡi rêu nhớt, gốc rêu dày; mạch huyền hoãn. Biện chứng: Ứ huyết gây sưng đau – thuộc chứng huyết sán.
Nguyên tắc trị: hoạt huyết, hành ứ, lý sán tiêu thũng.
Bài thuốc (5 thang – uống; sắc 2 nước, mỗi lần uống ấm):
chiết trùng 10 g đào nhân 10 g hồng hoa 10 g sơn giáp sao 10 g hổ trượng 10 g nhũ hương 10 g một dược 10 g quất hạch 10 g Lệ chi hạch 10 g tiểu hồi hương 6 g
Dùng kèm Vân nam bạch dược: 2 viên/lần × 3 lần/ngày (uống).
Bã thuốc: Sắc thêm lần thứ ba lấy 500 ml, còn nóng xông-rửa vùng bìu.
Khám lần hai – 19/10/1999
Kết quả: tinh hoàn trái giảm sưng còn ≈ 4 × 3 cm, hết đau, ngủ ngon. Vết sẹo còn hơi căng tức; ngồi lâu mỏi lưng, đi lâu bìu hơi nặng. Rêu lưỡi phía trước đã mỏng, gốc còn hơi nhớt; mạch hoãn.
Kê đơn (7 thang): giữ nguyên bài trên gia đỗ trọng 15 g tục đoạn 15 g đương quy vĩ 15 g.
Nhận xét
Tác dụng dược liệu:
Chiết trùng, đào nhân, hồng hoa, nhũ hương, một dược, hổ trượng, Vân Nam bạch dược → hoạt huyết, hành ứ, tiêu sưng, giảm đau.
Quất hạch Lệ chi hạch, tiểu hồi hương → chủ trị đau sán (thoát vị, đau bìu).
sơn giáp sao → thông kinh hoạt lạc.
Pháp “uống trong – xông rửa ngoài”: hơi ấm thuốc thẩm thấu tại chỗ, bệnh nhân cảm thấy dễ chịu rõ rệt. Sau đặt dẫn lưu cả tháng vẫn sưng đau, uống 2 thang đã hết đau, sưng rút dần; khỏi hoàn toàn sau khoảng 10 ngày, chứng tỏ hiệu quả đặc thù của phép hoạt huyết hành ứ trong ngoại thương Đông y.
(Nguồn: Ban biên tập Sức khỏe Mỗi ngày – www.cmn.com.cn)
Trường Xuân dịch