Tiêu khát 消渴 là tên một chứng bệnh trong Trung y, thường biểu hiện bằng khát và uống nhiều, ăn nhiều, tiểu nhiều, cơ thể gầy sút, mệt mỏi, miệng họng khô và nước tiểu có vị ngọt.
Những biểu hiện này có nhiều điểm tương đồng với đái tháo đường trong y học hiện đại. Tuy nhiên, Tiêu khát là một chứng danh của Trung y, còn đái tháo đường là bệnh được xác định bằng xét nghiệm đường huyết. Hai khái niệm có liên quan mật thiết nhưng không hoàn toàn đồng nhất.
Có người mắc đái tháo đường mà không có đầy đủ các biểu hiện uống nhiều, ăn nhiều, tiểu nhiều và gầy sút. Ngược lại, một số người khát hoặc tiểu nhiều có thể do nguyên nhân khác. Vì vậy, chẩn đoán đái tháo đường vẫn phải căn cứ xét nghiệm và đánh giá y khoa.
I. TẠNG PHỦ CÓ LIÊN QUAN
Tiêu khát có thể ảnh hưởng nhiều tạng phủ, nhưng liên quan mật thiết nhất đến Phế, Tỳ Vị và Thận.
Phế chủ khí, tuyên phát tân dịch và thông điều thủy đạo.
Phế táo nhiệt làm tân dịch không được phân bố lên miệng họng, gây khát nhiều, uống nhiều, họng khô và da khô.
Tỳ chủ vận hóa, Vị chủ thu nạp và làm chín thức ăn.
Ăn nhiều đồ béo ngọt làm Tỳ Vị bị tổn thương, thấp nhiệt và tích nhiệt hình thành. Vị nhiệt làm thức ăn tiêu nhanh, gây ăn nhiều, mau đói nhưng cơ thể vẫn gầy.
Tỳ hư lại làm tinh vi không được vận hóa đúng mức, người bệnh mệt mỏi, cơ nhục suy giảm hoặc béo phì kèm đàm thấp.
Thận tàng tinh, chủ thủy và giữ chức năng đóng mở của hạ tiêu.
Thận âm hư làm hư hỏa bốc lên, tiếp tục thiêu đốt tân dịch. Thận khí không vững thì tinh vi không được giữ, gây tiểu nhiều, tiểu đêm và nước tiểu đục.
Bệnh kéo dài có thể từ Thận âm hư chuyển thành Thận dương hư hoặc âm dương đều hư.
Can chủ sơ tiết. Tình chí uất kết làm Can khí không thông, lâu ngày hóa hỏa, hỏa nhiệt tổn thương Phế Vị và Thận âm.
Tâm chủ thần minh. Lo nghĩ, mất ngủ và căng thẳng kéo dài có thể làm Tâm hỏa vượng, âm huyết hao tổn, ảnh hưởng thêm đến quá trình diễn biến của bệnh.
II. NGUYÊN NHÂN
Cơ địa âm dịch không đủ, Tỳ Thận vốn suy hoặc tinh khí tiên thiên bất túc là nền tảng bên trong khiến Tiêu khát dễ phát sinh.
Không phải mọi người có cơ địa này đều mắc bệnh. Bệnh thường xuất hiện khi yếu tố bên trong kết hợp với ăn uống, ít vận động, tuổi tác, tình chí và các yếu tố khác.
Ăn nhiều đồ béo, ngọt, cay, rượu và thức ăn đậm vị trong thời gian dài làm Tỳ Vị bị tổn thương.
Tỳ mất kiện vận thì thấp trọc tích lại. Thấp lâu hóa nhiệt, Vị nhiệt nung đốt tân dịch, khiến âm tinh suy hao.
Đây là nguyên nhân thường gặp ở người thừa cân, béo bụng, ít vận động và có rối loạn chuyển hóa.
Căng thẳng, tức giận, uất ức hoặc suy nghĩ quá mức làm khí cơ rối loạn.
Can khí uất có thể hóa hỏa, làm Phế Vị táo nhiệt và Thận âm suy. Lo nghĩ lâu ngày lại tổn thương Tỳ, khiến khí huyết sinh hóa không đủ.
Tình chí là một yếu tố ảnh hưởng, không nên quy toàn bộ nguyên nhân bệnh cho cảm xúc của người bệnh.
Làm việc quá sức, thiếu ngủ, sinh hoạt không điều độ và bệnh lâu ngày làm khí âm cùng tổn thương.
Khí hư khiến chuyển hóa suy yếu, âm hư làm táo nhiệt tăng, tạo điều kiện để bệnh biểu hiện rõ hơn.
Rượu có tính cay nóng, dùng nhiều lâu ngày làm tổn thương Tỳ Vị, sinh thấp nhiệt và tiêu hao tân dịch.
Rượu còn làm đường huyết dao động, tăng nguy cơ hạ đường huyết ở người dùng insulin hoặc một số thuốc hạ đường huyết.
Y thư cổ từng ghi nhận việc dùng đan dược khoáng vật kéo dài có thể sinh nội nhiệt, tổn thương âm dịch và phát sinh Tiêu khát.
Hiện nay, một số thuốc hiện đại cũng có thể làm đường huyết tăng. Vì vậy, người dùng thuốc kéo dài cần được theo dõi theo chỉ định.
Một số tài liệu cổ cho rằng táo, hỏa, nhiệt hoặc độc tà có thể xâm nhập, làm tổn thương tân dịch và tạng phủ.
Cách lý giải này có thể dùng để nhận thức một số trường hợp bệnh khởi phát sau nhiễm trùng hoặc bệnh cấp, nhưng không nên hiểu ngoại tà là nguyên nhân duy nhất gây đái tháo đường.
III. BỆNH CƠ CĂN BẢN
Bệnh cơ kinh điển của Tiêu khát thường được khái quát là:
Âm hư làm bản.
Táo nhiệt làm tiêu.
Phế, Vị và Thận là những tạng phủ chủ yếu.
Tuy nhiên, bệnh kéo dài thường không còn chỉ là âm hư táo nhiệt mà có thể xuất hiện:
Khí âm lưỡng hư.
Đàm thấp nội trở.
Thấp nhiệt.
Huyết ứ.
Âm dương lưỡng hư.
Đàm, ẩm và huyết ứ cùng kết.
Do đó, không thể dùng một phép tư âm thanh nhiệt cho mọi giai đoạn.
IV. QUÁ TRÌNH DIỄN BIẾN
Ở giai đoạn đầu, âm dịch bị hao tổn, táo nhiệt tương đối thịnh.
Táo nhiệt càng nhiều thì tân dịch càng hao. Tân dịch càng thiếu thì hư nhiệt càng dễ sinh. Hai mặt này ảnh hưởng lẫn nhau, tạo thành vòng xoắn bệnh lý.
Người bệnh thường có:
Miệng họng khô.
Khát nước.
Ăn nhiều.
Đại tiện khô.
Tiểu nhiều.
Lưỡi đỏ, ít tân dịch.
Âm hư kéo dài làm khí cũng suy. Táo nhiệt vừa hao tân dịch vừa tiêu khí, khiến người bệnh mệt mỏi, hơi thở ngắn, tự ra mồ hôi và sức lực giảm.
Lúc này, các biểu hiện “tam đa” có thể không còn rõ như giai đoạn đầu.
Khí hư không vận hành được huyết. Tân dịch mất điều hòa sinh đàm thấp. Khí trệ, đàm và huyết ứ cùng cản trở kinh lạc.
Người bệnh có thể xuất hiện:
Tê đau chân tay.
Nhìn mờ.
Đau ngực.
Chóng mặt.
Phù.
Da sạm.
Vết thương lâu lành.
Tổn thương thận, mắt, tim và thần kinh.
Âm tổn lâu ngày ảnh hưởng đến dương. Hoặc dùng thuốc hàn lương quá mức làm tổn thương Tỳ Thận dương.
Khi đó, người bệnh vừa có miệng khô, âm dịch không đủ, vừa sợ lạnh, tay chân lạnh, phù, tiểu nhiều về đêm, đại tiện thất thường và suy giảm chức năng sinh dục.
Một số trường hợp đái tháo đường có thể khởi phát hoặc diễn biến cấp tính, biểu hiện:
Khát dữ dội.
Nôn.
Đau bụng.
Da khô.
Mắt trũng.
Thở sâu và nhanh.
Hơi thở có mùi ceton.
Lơ mơ hoặc hôn mê.
Theo Trung y, đây có thể được nhận thức là âm dịch cạn kiệt, hư dương nổi lên, chính khí sắp thoát. Nhưng về xử trí, đây là cấp cứu y khoa, không được dùng thuốc Trung y để trì hoãn insulin, dịch truyền và điều chỉnh điện giải.
V. PHÂN LOẠI THEO TAM TIÊU
Biểu hiện chính
Khát nhiều.
Uống nhiều.
Miệng họng khô.
Da khô.
Tiểu nhiều.
Bệnh cơ
Phế táo nhiệt, tân dịch không được phân bố.
Phép trị
Thanh Phế, nhuận táo, sinh tân chỉ khát.
Khi điều trị vẫn phải chú ý đến Vị và Thận vì ba tiêu thường ảnh hưởng lẫn nhau.
Biểu hiện chính
Ăn nhiều.
Mau đói.
Cơ thể gầy.
Miệng khô.
Đại tiện táo.
Lưỡi đỏ, rêu vàng khô.
Bệnh cơ
Vị hỏa thịnh, làm thức ăn tiêu nhanh và tân dịch bị hao tổn.
Phép trị
Thanh Vị tả hỏa, dưỡng âm sinh tân, đồng thời chú ý bổ Thận.
Biểu hiện chính
Tiểu nhiều.
Tiểu đêm.
Nước tiểu đục.
Lưng gối mỏi.
Ù tai.
Miệng khô.
Bệnh cơ
Thận âm hư, Thận khí không vững, tinh vi bị tiết ra ngoài.
Phép trị
Tư bổ Thận âm, cố nhiếp, đồng thời dưỡng Phế sinh tân.
Cách phân loại tam tiêu thuận tiện cho nhận thức, nhưng ba nhóm biểu hiện thường tồn tại đồng thời. Điều trị không nên tách rời tuyệt đối thượng, trung và hạ tiêu.
VI. THỂ ÂM HƯ
Chủ chứng
Miệng họng khô.
Phân khô.
Sức lực giảm.
Có thể thừa cân hoặc béo phì.
Lưỡi đỏ, ít tân dịch.
Mạch trầm huyền hoặc tế.
Bệnh cơ
Âm dịch chưa đầy đủ, táo nhiệt chưa quá rõ.
Phép trị
Dưỡng âm, tăng dịch, sinh tân.
Phương thang tham khảo
Tăng dịch thang gia giảm.
Thành phần thường dùng: Sinh địa, Huyền sâm, Mạch môn, Cát căn, Thiên hoa phấn, Nam sa sâm.
Thể này có thể gặp ở giai đoạn sớm hoặc ở người rối loạn dung nạp glucose có biểu hiện âm hư. Tuy nhiên, không nên chỉ dựa vào lưỡi mạch để kết luận bệnh hay tự dùng thuốc.
VII. THỂ ÂM HƯ NHIỆT THỊNH
Chủ chứng
Khát nhiều.
Uống nhiều.
Ăn nhiều, mau đói.
Tiểu nhiều.
Đại tiện táo.
Nước tiểu vàng đục.
Lưỡi đỏ, ít dịch.
Rêu vàng khô.
Mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Âm dịch hao tổn, táo nhiệt và Vị nhiệt tương đối thịnh.
Phép trị
Tư âm, thanh nhiệt, sinh tân.
Phương thang tham khảo
Tăng dịch thang hợp Bạch hổ thang và Tiêu khát phương gia giảm.
Các vị thường được dùng gồm Sinh địa, Huyền sâm, Mạch môn, Sinh thạch cao, Tri mẫu, Cát căn, Thiên hoa phấn và Hoàng liên.
Chú ý
Phương có nhiều vị hàn lương, không nên sử dụng kéo dài ở người Tỳ Vị hư, ăn kém, đau bụng hoặc tiêu chảy.
VIII. THỂ KHÍ ÂM LƯỠNG HƯ
Chủ chứng
Khát và tiểu nhiều không còn rõ.
Miệng họng khô.
Mệt mỏi.
Hơi thở ngắn.
Tự ra mồ hôi.
Hồi hộp.
Đau mỏi lưng gối.
Chóng mặt, ù tai.
Tê đau chân tay.
Lưỡi to hoặc có dấu răng.
Rêu trắng.
Mạch trầm tế.
Bệnh cơ
Bệnh lâu làm cả khí và âm đều tổn thương. Khí không đủ để vận hóa, âm không đủ để nhu dưỡng.
Phép trị
Ích khí dưỡng âm, sinh tân.
Phương thang tham khảo
Sinh mạch tán hợp Tăng dịch thang gia giảm.
Các vị thường dùng gồm Hoàng kỳ, Hoàng tinh, Thái tử sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử, Sinh địa, Huyền sâm, Cát căn, Thiên hoa phấn, Sơn dược và Sơn thù du.
IX. THỂ KHÍ ÂM LƯỠNG HƯ KIÊM HUYẾT Ứ
Chủ chứng
Miệng khô.
Mệt mỏi.
Hồi hộp.
Hơi thở ngắn.
Đau ngực.
Tê đau chân tay.
Chóng mặt.
Nhìn mờ.
Có thể phù nhẹ.
Lưỡi to, sắc tím tối hoặc có điểm ứ.
Tĩnh mạch dưới lưỡi tím và nổi.
Mạch trầm tế hoặc sáp.
Bệnh cơ
Khí âm cùng hư, khí không vận huyết, huyết ứ trở lạc.
Phép trị
Ích khí dưỡng âm, hoạt huyết hóa ứ, thông lạc.
Phương thang tham khảo
Ích khí dưỡng âm hoạt huyết thang gia giảm.
Các vị thường dùng gồm Hoàng kỳ, Hoàng tinh, Thái tử sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử, Sinh địa, Huyền sâm, Đan sâm, Đương quy, Đào nhân, Cát căn và Thiên hoa phấn.
Chú ý
Người có xuất huyết võng mạc, đang dùng thuốc chống đông, thuốc kháng tiểu cầu hoặc có bệnh thận cần thận trọng với các vị hoạt huyết.
X. THỂ ÂM DƯƠNG LƯỠNG HƯ
Chủ chứng
Lưng gối đau mỏi.
Mệt mỏi.
Hơi thở ngắn.
Miệng khô nhưng uống ít.
Sợ lạnh.
Tay chân lạnh.
Phù mặt hoặc chân.
Ăn kém.
Đại tiện lúc lỏng lúc táo.
Tiểu nhiều, tiểu đục.
Răng lung lay.
Tóc rụng.
Giảm chức năng sinh dục.
Lưỡi nhạt tối.
Mạch trầm tế vô lực.
Bệnh cơ
Âm hư lâu ngày ảnh hưởng đến dương. Tỳ Thận suy yếu, khí hóa bất lợi, thủy thấp và huyết ứ cùng đình trệ.
Phép trị
Dưỡng âm, ôn dương, bổ Thận, hoạt huyết, lợi thấp.
Phương thang tham khảo
Kim quỹ Thận khí hoàn hợp Thủy lục nhị tiên đan gia giảm.
Không tự dùng Phụ tử hoặc các vị ôn dương mạnh. Phụ tử có độc tính tim mạch và chỉ được dùng khi đã bào chế đúng, có chẩn đoán phù hợp và được theo dõi chuyên môn.
XI. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
Lấy dưỡng âm, sinh tân và thanh nhiệt làm chính.
Lấy ích khí dưỡng âm làm chủ, kiêm điều hòa Tỳ Thận.
Phối hợp ích khí, dưỡng âm, hoạt huyết, hóa ứ và thông lạc.
Điều bổ âm dương, bổ Thận, kiện Tỳ, lợi thấp và hóa trọc.
Bản hư thường là khí, âm hoặc dương hư.
Tiêu thực thường là táo nhiệt, đàm thấp, thấp nhiệt và huyết ứ.
Điều trị cần xác định bên nào nổi bật để phối hợp, không nên bổ hoặc tả đơn thuần.
XII. NHẬN THỨC VỀ THUỐC THÀNH PHẨM
Một số thuốc thành phẩm Trung y trị đái tháo đường có thể chứa thêm thuốc hạ đường huyết hiện đại như glibenclamide.
Người dùng không biết thành phần có thể đồng thời uống thêm thuốc kê đơn, dẫn đến hạ đường huyết nặng.
Vì vậy:
Không tự mua thuốc ghi “Tiêu khát hoàn”, “Giáng đường” hoặc “hạ đường huyết” mà không kiểm tra thành phần.
Không dùng đồng thời nhiều thuốc thành phẩm có tác dụng hạ đường huyết.
Không tự giảm insulin hoặc thuốc kê đơn khi bắt đầu dùng Trung dược.
Không tin vào tỷ lệ “hiệu quả” trong tài liệu cũ như bằng chứng chữa khỏi bệnh.
Không dùng thuốc thành phẩm không rõ nhà sản xuất và hàm lượng.
XIII. CHÂM CỨU HỖ TRỢ TIÊU KHÁT
Y thư cổ đã ghi chép nhiều huyệt dùng cho chứng Tiêu khát, như Ý xá, Thừa tương và Uyển cốt.
Châm cứu hiện nay chỉ nên được xem là biện pháp hỗ trợ cải thiện triệu chứng và thể trạng, không thay thế insulin, thuốc hạ đường huyết, dinh dưỡng và vận động.
Bàng quang-20 Tỳ du.
Bàng quang-17 Cách du.
Huyệt kinh nghiệm Tụy du.
Vị-36 Túc tam lý.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Có thể phối hợp:
Bàng quang-13 Phế du.
Bàng quang-21 Vị du.
Bàng quang-18 Can du.
Nhâm-12 Trung quản.
Nhâm-4 Quan nguyên.
Tâm-7 Thần môn.
Thận-2 Nhiên cốc.
Tỳ-9 Âm lăng tuyền.
Khát nhiều: Bàng quang-13 Phế du, Bàng quang-49 Ý xá, Nhâm-24 Thừa tương.
Ăn nhiều, mau đói, táo bón: Bàng quang-21 Vị du, Vị-40 Phong long.
Tiểu nhiều, đau lưng, ù tai: Bàng quang-23 Thận du, Nhâm-4 Quan nguyên, Thận-7 Phục lưu.
Mệt mỏi, tiêu chảy: Bàng quang-21 Vị du, Tỳ-6 Tam âm giao, Tỳ-9 Âm lăng tuyền.
Thượng tiêu: Tâm-8 Thiếu phủ, Bàng quang-15 Tâm du, Phế-9 Thái uyên, Bàng quang-13 Phế du, Tụy du.
Trung tiêu: Vị-44 Nội đình, Tỳ-6 Tam âm giao, Bàng quang-20 Tỳ du, Bàng quang-21 Vị du, Tụy du.
Hạ tiêu: Thận-3 Thái khê, Can-3 Thái xung, Bàng quang-18 Can du, Bàng quang-23 Thận du, Tụy du.
Không châm khi nhiễm toan ceton hoặc tăng đường huyết tăng thẩm thấu.
Không châm vào vùng nhiễm trùng, loét hoặc tuần hoàn kém.
Không châm khi người bệnh đói, mệt lả hoặc đang hạ đường huyết.
Phụ nữ mang thai cần được đánh giá riêng, không áp dụng phác đồ thông thường.
Phải sát khuẩn nghiêm ngặt vì người bệnh đái tháo đường dễ nhiễm trùng và vết thương lâu lành.
Không châm cứu để xử trí cơn đau ngực, khó thở, hôn mê hoặc biến chứng cấp.
XIV. KHÍ CÔNG VÀ DƯỠNG SINH
Khí công có thể hỗ trợ thư giãn, điều hòa hô hấp, cải thiện giấc ngủ và giúp duy trì vận động nhẹ.
Không nên khẳng định khí công có thể thay thế thuốc hoặc trực tiếp chữa khỏi đái tháo đường.
Thả lỏng thân thể.
Giữ tâm tương đối yên.
Hô hấp tự nhiên, nhẹ và đều.
Động tĩnh kết hợp.
Tập từng bước và duy trì lâu dài.
Không cố nín thở hoặc kéo dài hơi thở quá mức.
Chuẩn bị
Chọn nơi yên tĩnh, thoáng khí và tránh gió lùa.
Nới lỏng quần áo.
Nghỉ ngơi trước khi tập.
Tư thế
Có thể ngồi, nằm hoặc đứng, miễn là ngay ngắn và thoải mái.
Đầu cổ giữ tự nhiên, vai thả lỏng, ngực không ưỡn, eo không gượng.
Phương pháp thả lỏng
Thả lỏng lần lượt từ đầu, cổ, vai, ngực, bụng, lưng, tay và chân.
Không cố ép cơ thể vào trạng thái “không suy nghĩ”.
Phương pháp thở
Thở tự nhiên bằng mũi.
Khi hít vào có thể thầm niệm “tĩnh”, khi thở ra thầm niệm “tùng”.
Không gồng bụng hoặc nín thở.
Thời gian
Người mới tập có thể bắt đầu từ 5–10 phút, sau đó tăng dần đến khoảng 20–30 phút tùy sức.
Thu công
Sau khi tập, cử động nhẹ tay chân, mở mắt từ từ rồi mới đứng lên.
Người bị hạ huyết áp tư thế cần ngồi lại một lúc trước khi đứng.
Nội dưỡng công thiên về tĩnh, phối hợp tư thế, hô hấp và ý niệm.
Người có bệnh tim mạch, rối loạn thần kinh tự chủ, chóng mặt hoặc khó thở không nên luyện các phương pháp nín thở, dừng thở hay ép khí xuống bụng.
Hô hấp phù hợp nhất vẫn là tự nhiên, chậm, nhẹ và không gắng sức.
XV. XOA BÓP HỖ TRỢ
Xoa bóp có thể giúp thư giãn, cải thiện cảm giác căng cứng cơ và hỗ trợ vận động.
Các vùng và huyệt thường được tác động gồm:
Bàng quang-18 Can du.
Bàng quang-19 Đởm du.
Bàng quang-20 Tỳ du.
Bàng quang-23 Thận du.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Thận-1 Dũng tuyền.
Vùng Bát liêu.
Huyệt kinh nghiệm Tụy du.
Có thể dùng các thủ pháp xoa, day, ấn và lăn nhẹ vùng lưng hai bên cột sống.
Không xoa bóp mạnh trên:
Vùng da mất cảm giác.
Bàn chân có loét.
Vùng sưng nóng đỏ.
Vùng có huyết khối hoặc tuần hoàn kém.
Vùng đang đau cấp chưa rõ nguyên nhân.
XVI. ĂN UỐNG VÀ SINH HOẠT THEO TRUNG Y
Không ăn quá no, không bỏ bữa và không nhịn đói kéo dài.
Những thức ăn này dễ sinh đàm thấp, thấp nhiệt và làm đường huyết dao động.
Người âm hư táo nhiệt có thể hợp với thức ăn thanh nhuận vừa phải, nhưng dùng quá nhiều đồ sống lạnh có thể làm Tỳ Vị suy yếu.
Có thể đi bộ, tập Thái Cực Quyền hoặc khí công nhẹ.
Vận động phải phù hợp với tim mạch, mắt, thận, thần kinh và bàn chân.
Nên giữ nhịp sinh hoạt ổn định, ngủ đủ, giảm căng thẳng và tìm sự hỗ trợ khi cảm thấy quá tải.
Không nên xem cảm xúc là lỗi của người bệnh hoặc là nguyên nhân duy nhất của đường huyết cao.
XVII. NHỮNG PHƯƠNG PHÁP KHÔNG NÊN TỰ ÁP DỤNG
Không tự dùng Phụ tử, Ngô công hoặc các vị có độc.
Không dùng Nhau thai người hoặc các sản phẩm nguồn gốc không rõ ràng.
Không dùng thuốc chứa động vật quý hiếm hoặc bộ phận động vật không cần thiết.
Không tự chế hoàn tán với liều lượng rất lớn theo y án cổ.
Không dùng thuốc có glibenclamide ẩn trong thành phần cùng thuốc hạ đường huyết đang uống.
Không tự dùng Đại hoàng kéo dài.
Không dùng thuốc hoạt huyết liều cao khi có xuất huyết võng mạc hoặc đang dùng thuốc chống đông.
Không tự châm cứu, cứu nóng hoặc xoa bóp mạnh vùng bàn chân mất cảm giác.
Không dùng khí công thay cho insulin.
XVIII. VAI TRÒ CỦA TRUNG Y TRONG ĐIỀU TRỊ HIỆN NAY
Trung y có thể được phối hợp nhằm hỗ trợ:
Giảm khô miệng và cảm giác khát.
Cải thiện mệt mỏi.
Điều chỉnh ăn ngủ và tiêu hóa.
Hỗ trợ một số biểu hiện khí âm hư, đàm thấp hoặc huyết ứ.
Hỗ trợ phục hồi chức năng trong một số biến chứng mạn tính.
Nhưng Trung y không thay thế:
Insulin.
Thuốc hạ đường huyết.
Theo dõi đường huyết và HbA1c.
Kiểm soát huyết áp và lipid máu.
Khám mắt, thận và bàn chân.
Điều trị cấp cứu khi có biến chứng nặng.
XIX. DẤU HIỆU CẦN ĐƯỢC KHÁM KHẨN CẤP
Đường huyết tăng cao kèm nôn hoặc đau bụng.
Thở sâu, nhanh.
Hơi thở có mùi ceton.
Lơ mơ hoặc hôn mê.
Đau ngực.
Khó thở.
Yếu liệt hoặc nói khó.
Mất thị lực đột ngột.
Bí tiểu.
Phù tăng nhanh.
Vết loét bàn chân đổi màu, có mủ hoặc mùi.
Hạ đường huyết không cải thiện sau xử trí ban đầu.
Nói tóm lại, Tiêu khát theo Trung y có nền tảng chủ yếu là âm hư, táo nhiệt và sự mất điều hòa của Phế, Tỳ Vị, Thận. Bệnh kéo dài có thể chuyển thành khí âm lưỡng hư, đàm thấp, huyết ứ và âm dương đều hư, từ đó phát sinh nhiều biến chứng ở mắt, thận, tim, thần kinh và chi thể. Việc điều trị cần căn cứ từng giai đoạn và từng thể bệnh, phối hợp dưỡng âm, thanh nhiệt, ích khí, ôn dương, hóa đàm và hoạt huyết một cách thích hợp. Tuy nhiên, mọi phương pháp Trung y chỉ nên được sử dụng hỗ trợ trên nền tảng kiểm soát đường huyết và phòng ngừa biến chứng bằng y học hiện đại.
Trường Xuân biên soạn