Khái niệm
Tiêu chảy là tình trạng đi ngoài phân lỏng hoặc nhiều nước từ ba lần trở lên trong ngày, hoặc phân lỏng và số lần đại tiện tăng rõ so với thói quen bình thường của mỗi người.
Một người có thể đại tiện hai hoặc ba lần mỗi ngày nhưng phân vẫn thành khuôn và không có triệu chứng bất thường; trường hợp đó chưa được xem là tiêu chảy. Ngược lại, chỉ một hoặc hai lần đi phân rất nhiều nước ở trẻ nhỏ, người cao tuổi hoặc người suy yếu vẫn có thể gây mất nước đáng kể và cần được theo dõi.
Phân tiêu chảy có thể:
Nhiều nước.
Lỏng, không thành khuôn.
Có thức ăn chưa tiêu.
Có chất nhầy.
Có mủ hoặc máu.
Có nhiều dầu mỡ.
Có màu hoặc mùi bất thường.
Tiêu chảy có thể kèm theo:
Đau quặn bụng.
Sôi bụng.
Mót rặn.
Nôn.
Sốt.
Đầy hơi.
Mệt mỏi.
Không kiểm soát được phân.
Đau hoặc rát quanh hậu môn.
Phần lớn tiêu chảy cấp nhẹ có thể tự giới hạn. Tuy nhiên, tiêu chảy làm mất nước và điện giải, đặc biệt là natri và kali. Trẻ nhỏ, người cao tuổi, phụ nữ mang thai, người suy giảm miễn dịch và người có bệnh tim, gan hoặc thận dễ gặp biến chứng hơn.
Phân loại theo thời gian
Tiêu chảy cấp
Tiêu chảy cấp thường kéo dài dưới 14 ngày.
Nguyên nhân thường gặp:
Virus.
Vi khuẩn.
Ký sinh trùng.
Độc tố thực phẩm.
Thuốc.
Thực phẩm không dung nạp.
Ngộ độc.
Tiêu chảy kéo dài
Tiêu chảy kéo dài từ 14 đến dưới 30 ngày.
Tình trạng này cần được đánh giá kỹ hơn vì có thể liên quan đến nhiễm trùng kéo dài, ký sinh trùng, thuốc hoặc bệnh lý đường ruột.
Tiêu chảy mạn
Tiêu chảy mạn kéo dài từ khoảng bốn tuần trở lên hoặc tái diễn thường xuyên trong thời gian dài.
Nguyên nhân có thể gồm:
Hội chứng ruột kích thích.
Bệnh viêm ruột.
Bệnh celiac.
Không dung nạp lactose.
Suy tụy.
Bệnh nội tiết.
Thuốc.
Nhiễm trùng mạn.
Bệnh đại trực tràng.
Không nên dùng mốc hai tháng mới gọi là tiêu chảy mạn, vì điều này có thể làm chậm việc tìm nguyên nhân.
Cơ sở hình thành tiêu chảy
Trong một ngày, một lượng lớn nước từ thức ăn, đồ uống và dịch tiêu hóa đi vào đường ruột. Phần lớn lượng nước này được ruột non và đại tràng hấp thu trở lại; chỉ còn một lượng nhỏ theo phân ra ngoài.
Tiêu chảy xuất hiện khi:
Ruột tiết quá nhiều nước và điện giải.
Khả năng hấp thu nước giảm.
Thức ăn không được tiêu hóa hoặc hấp thu đầy đủ.
Các chất tan giữ nước lại trong lòng ruột.
Niêm mạc ruột bị viêm và tiết dịch.
Nhu động ruột tăng nhanh.
Một đoạn ruột bị tổn thương hoặc bị cắt bỏ.
Nhiều cơ chế có thể cùng tồn tại ở một người bệnh.
PHÂN LOẠI THEO CƠ CHẾ
Tiêu chảy xuất tiết
Niêm mạc ruột bị viêm hoặc tổn thương, làm tiết dịch, chất nhầy, protein, mủ hoặc máu.
Thường gặp trong:
Nhiễm khuẩn xâm lấn.
Bệnh viêm ruột.
Viêm đại tràng.
Một số khối u.
Tiêu chảy bài tiết
Ruột tiết nhiều nước và điện giải vào lòng ruột.
Đặc điểm:
Phân rất nhiều nước.
Có thể vẫn tiếp tục khi nhịn ăn.
Nguy cơ mất nước cao.
Thường gặp trong:
Bệnh tả.
Một số độc tố vi khuẩn.
Một số thuốc và khối u nội tiết hiếm gặp.
Tiêu chảy thẩm thấu
Các chất không được hấp thu giữ nước trong lòng ruột.
Đặc điểm:
Thường giảm khi nhịn loại thực phẩm gây bệnh.
Có thể kèm đầy hơi.
Phân chua hoặc có nhiều khí.
Thường gặp trong:
Không dung nạp lactose.
Dùng nhiều sorbitol.
Dùng thuốc chứa magnesi.
Kém hấp thu carbohydrate.
Tiêu chảy do kém tiêu hóa và hấp thu
Thức ăn, đặc biệt là chất béo, không được tiêu hóa hoặc hấp thu đầy đủ.
Đặc điểm:
Phân nhiều.
Nhạt màu.
Bóng mỡ.
Khó xả trôi.
Mùi rất hôi.
Sụt cân.
Thiếu vitamin.
Nguyên nhân có thể là bệnh tụy, bệnh ruột non, bệnh celiac hoặc tắc mật.
Tiêu chảy do rối loạn vận động
Nhu động ruột quá nhanh làm nước không kịp hấp thu.
Có thể gặp trong:
Hội chứng ruột kích thích.
Cường giáp.
Sau phẫu thuật.
Một số thuốc.
Rối loạn thần kinh tự chủ.
Không nên quy mọi tiêu chảy do lạnh bụng là “loạn khuẩn”. Nhiệt độ lạnh có thể kích thích nhu động ở một số người nhưng không phải nguyên nhân nhiễm trùng.
TIÊU CHẢY GIẢ
Khái niệm
Người bị ứ phân nặng ở trực tràng có thể rỉ phân lỏng và nhầy quanh khối phân cứng. Người bệnh đi ngoài nhiều lần, mót rặn nhưng vẫn có cảm giác không hết.
Tình trạng này gọi là tiêu chảy tràn hoặc tiêu chảy giả, thực chất là táo bón kèm ứ phân.
Thường gặp ở:
Người cao tuổi.
Người nằm lâu.
Người mắc bệnh thần kinh.
Người dùng thuốc gây táo bón.
Trẻ táo bón mạn.
Dấu hiệu gợi ý
Tiền sử nhiều ngày không đại tiện bình thường.
Bụng đầy.
Phân lỏng từng ít một.
Rỉ phân không kiểm soát.
Có khối phân cứng ở trực tràng.
Không được tự móc phân hoặc thụt dung dịch không rõ thành phần. Người bệnh cần được đánh giá và xử lý ứ phân an toàn.
NGUYÊN NHÂN THƯỜNG GẶP
Virus đường ruột
Virus là nguyên nhân thường gặp của tiêu chảy cấp.
Biểu hiện:
Nôn.
Tiêu chảy phân nước.
Đau quặn bụng.
Sốt nhẹ.
Mệt mỏi.
Rotavirus
Rotavirus thường gây bệnh nặng hơn ở trẻ nhỏ chưa có miễn dịch đầy đủ.
Trẻ có thể:
Nôn trước.
Sau đó tiêu chảy nhiều nước.
Sốt.
Mất nước nhanh.
Phân không nhất thiết có mùi chua hoặc hình dạng “hoa cà hoa cải”. Không thể chẩn đoán rotavirus chỉ bằng màu và mùi phân.
Vaccine rotavirus giúp giảm nguy cơ bệnh nặng nhưng không phòng được mọi loại tiêu chảy.
Norovirus
Norovirus dễ gây ổ dịch trong gia đình, trường học, tàu du lịch và cơ sở chăm sóc.
Triệu chứng nổi bật:
Nôn đột ngột.
Tiêu chảy.
Đau bụng.
Nhiều người cùng mắc.
Lỵ trực khuẩn do Shigella
Shigella gây viêm đại tràng và lây mạnh theo đường phân – miệng.
Triệu chứng:
Sốt.
Đau quặn bụng.
Đi ngoài nhiều lần.
Phân ít.
Nhầy hoặc máu.
Mót rặn.
Trẻ dưới một tuổi vẫn có thể mắc Shigella; không nên cho rằng nhóm tuổi này hiếm đến mức có thể bỏ qua.
Chẩn đoán có thể cần xét nghiệm phân và kháng sinh đồ.
Không nên tự dùng norfloxacin hoặc fluoroquinolone cho trẻ em và người lớn chỉ dựa vào triệu chứng. Tình trạng kháng thuốc thay đổi theo khu vực, và việc lựa chọn kháng sinh phải do bác sĩ quyết định.
Nhiễm Salmonella
Salmonella thường liên quan đến:
Gia cầm.
Trứng.
Thịt.
Sữa chưa tiệt trùng.
Rau quả nhiễm bẩn.
Bò sát và gia cầm sống.
Triệu chứng:
Sốt.
Đau bụng.
Tiêu chảy.
Buồn nôn hoặc nôn.
Phân có thể lẫn nhầy hoặc máu.
Không phải mọi viêm ruột do Salmonella đều cần kháng sinh. Ở người khỏe mạnh bị bệnh nhẹ, kháng sinh đôi khi không rút ngắn đáng kể thời gian bệnh và có thể kéo dài thời gian mang khuẩn.
Kháng sinh thường được cân nhắc cho:
Trẻ sơ sinh.
Người cao tuổi.
Người suy giảm miễn dịch.
Người có bệnh nặng.
Nhiễm khuẩn huyết.
Không tự dùng chloramphenicol, ampicillin, cotrimoxazole hoặc cephalosporin nếu chưa có chỉ định.
Nhiễm Campylobacter
Thường liên quan đến gia cầm chưa chín, sữa chưa tiệt trùng và nước nhiễm bẩn.
Triệu chứng:
Sốt.
Đau bụng rõ.
Tiêu chảy.
Có thể có máu.
Nhiễm E. coli gây bệnh
Các chủng E. coli khác nhau gây bệnh theo những cơ chế khác nhau.
Một số gây tiêu chảy phân nước.
Một số gây tiêu chảy du lịch.
Một số gây đau bụng dữ dội và tiêu chảy máu.
Tiêu chảy máu do E. coli sinh độc tố có nguy cơ hội chứng tán huyết – tăng urê huyết, biểu hiện bằng thiếu máu, giảm tiểu cầu và suy thận.
Không tự dùng kháng sinh hoặc thuốc cầm tiêu chảy trong trường hợp tiêu chảy máu chưa rõ nguyên nhân.
Bệnh tả
Bệnh tả có thể gây:
Tiêu chảy nước ồ ạt.
Phân như nước vo gạo.
Nôn.
Khát dữ dội.
Co rút cơ.
Mất nước nhanh.
Mạch yếu.
Huyết áp giảm.
Không phải mọi trường hợp phân nước đều là tả. Chẩn đoán cần căn cứ yếu tố dịch tễ và xét nghiệm.
Điều trị quan trọng nhất là bù nước và điện giải nhanh chóng. Kháng sinh chỉ có vai trò hỗ trợ trong trường hợp phù hợp.
Lỵ amíp
Do Entamoeba histolytica.
Triệu chứng có thể gồm:
Đau bụng.
Mót rặn.
Phân nhầy máu.
Bệnh kéo dài hoặc tái diễn.
Sụt cân.
Không thể chẩn đoán chỉ bằng hình ảnh phân “sốt cà”, màu đỏ bầm hoặc mùi tanh. Cần xét nghiệm phù hợp và phân biệt với viêm đại tràng do vi khuẩn hoặc bệnh viêm ruột.
Giardia
Giardia thường gây:
Tiêu chảy kéo dài.
Phân nhiều, hôi.
Đầy hơi.
Sụt cân.
Phân có thể nhạt màu và nhiều mỡ.
Máu và sốt cao không phải biểu hiện điển hình.
Tiêu chảy do Clostridioides difficile
Thường xuất hiện sau khi dùng kháng sinh hoặc nằm viện.
Triệu chứng:
Tiêu chảy nhiều lần.
Đau bụng.
Sốt.
Bạch cầu tăng.
Nặng có thể viêm đại tràng giả mạc và giãn đại tràng nhiễm độc.
Không nên chỉ gọi chung là “loạn khuẩn”. Đây là một nhiễm trùng cụ thể có thể nghiêm trọng.
Dị ứng và không dung nạp thực phẩm
Dị ứng protein thức ăn
Có thể gây:
Nôn.
Đau bụng.
Tiêu chảy.
Phân nhầy hoặc máu.
Phát ban.
Khò khè hoặc phản vệ trong trường hợp nặng.
Không dung nạp lactose
Thường gây:
Đầy hơi.
Đau quặn.
Phân lỏng chua.
Nhiều hơi.
Không gây sốt hoặc phân máu.
Bệnh viêm ruột
Bệnh Crohn và viêm loét đại tràng có thể gây:
Tiêu chảy kéo dài.
Phân nhầy máu.
Đau bụng.
Sụt cân.
Thiếu máu.
Sốt nhẹ.
Chậm phát triển ở trẻ em.
Không nên chẩn đoán viêm loét đại tràng chỉ vì tiêu chảy cấp có mủ máu. Cần nội soi, xét nghiệm và loại trừ nhiễm trùng.
Hội chứng ruột kích thích
Có thể gây:
Tiêu chảy.
Táo bón.
Hai tình trạng xen kẽ.
Đau bụng liên quan đại tiện.
Đầy hơi.
Phân có nhầy.
Hội chứng ruột kích thích không gây sốt, thiếu máu, sụt cân, tiêu chảy đánh thức người bệnh ban đêm hoặc máu trong phân. Có các dấu hiệu này cần tìm bệnh thực thể.
Cường giáp
Có thể gây:
Đại tiện nhiều lần.
Phân lỏng.
Sụt cân dù ăn được.
Hồi hộp.
Run tay.
Sợ nóng.
Ra nhiều mồ hôi.
Tiêu chảy do thuốc
Các thuốc thường liên quan gồm:
Kháng sinh.
Metformin.
Thuốc nhuận tràng.
Magnesi.
Một số thuốc điều trị ung thư.
Colchicine.
Thuốc ức chế acid.
Một số thuốc hạ huyết áp và thuốc chống trầm cảm.
Không tự ngừng thuốc. Cần trao đổi với bác sĩ hoặc dược sĩ.
PHÂN BIỆT QUA TRIỆU CHỨNG
Tiêu chảy kèm mót rặn
Gợi ý tổn thương trực tràng hoặc đại tràng đoạn thấp.
Thường gặp trong:
Shigella.
Viêm trực tràng.
Viêm loét đại tràng.
Lỵ amíp.
Tiêu chảy lượng nhiều, không mót rặn
Gợi ý bệnh ở ruột non hoặc tiêu chảy bài tiết.
Có thể kèm:
Đau quanh rốn.
Sôi bụng.
Phân nhiều nước.
Thức ăn chưa tiêu.
Sụt cân nếu kéo dài.
Tiêu chảy kèm nôn
Thường gặp trong:
Viêm dạ dày – ruột do virus.
Ngộ độc thực phẩm.
Nhiễm khuẩn.
Tắc ruột giai đoạn đầu.
Ngộ độc hóa chất.
Nôn liên tục, nôn dịch xanh hoặc bụng chướng cần được đánh giá cấp cứu.
Tiêu chảy kèm sốt
Gợi ý nhiễm trùng hoặc viêm.
Có thể gặp trong:
Shigella.
Salmonella.
Campylobacter.
Viêm đại tràng.
Bệnh Crohn.
Sốt cao kèm tiêu chảy máu cần khám sớm.
Tiêu chảy về đêm
Tiêu chảy làm người bệnh thức giấc có thể gợi ý bệnh thực thể như:
Bệnh viêm ruột.
Nhiễm trùng.
Rối loạn bài tiết.
Bệnh nội tiết.
Tiêu chảy chức năng thường ít gây thức giấc về đêm, nhưng dấu hiệu này không tuyệt đối.
Tiêu chảy sau ăn và giảm khi nhịn
Có thể gặp trong tiêu chảy thẩm thấu, không dung nạp thực phẩm hoặc phản xạ dạ dày – đại tràng mạnh.
Không nên nhịn ăn kéo dài để tự chẩn đoán.
Tiêu chảy xen kẽ táo bón
Có thể liên quan đến:
Hội chứng ruột kích thích.
Lạm dụng thuốc nhuận tràng.
Ứ phân kèm tiêu chảy tràn.
Bệnh viêm ruột.
Hẹp hoặc bán tắc ruột.
Khối u đại trực tràng.
Ở người lớn tuổi có thay đổi thói quen đại tiện mới xuất hiện, cần khám để loại trừ bệnh thực thể.
Phân nhiều mỡ
Đặc điểm:
Màu nhạt.
Bóng nhờn.
Nổi trên nước.
Khó xả.
Mùi hôi.
Gợi ý kém hấp thu chất béo, nhưng không nên chỉ dựa vào mùi hoặc bọt để chẩn đoán.
Phân máu
Có thể gặp trong:
Shigella.
Campylobacter.
E. coli sinh độc tố.
Salmonella.
Lỵ amíp.
Bệnh viêm ruột.
Thiếu máu cục bộ đại tràng.
Ung thư đại trực tràng.
Tiêu chảy máu không được tự điều trị bằng thuốc cầm tiêu chảy.
CHẨN ĐOÁN
Hỏi bệnh
Cần tìm hiểu:
Thời điểm khởi phát.
Số lần và lượng phân.
Tính chất phân.
Có máu, nhầy, mỡ hay thức ăn chưa tiêu không.
Đau bụng ở vị trí nào.
Có sốt, nôn hoặc mất nước không.
Thực phẩm đã dùng.
Người xung quanh có cùng bệnh không.
Lịch sử du lịch.
Nguồn nước.
Tiếp xúc động vật.
Thuốc đang dùng.
Tiền sử kháng sinh.
Sụt cân.
Bệnh nền.
Tiền sử phẫu thuật.
Khám lâm sàng
Đánh giá:
Mạch.
Huyết áp.
Nhiệt độ.
Tình trạng ý thức.
Mức độ mất nước.
Bụng chướng hay mềm.
Vị trí đau.
Âm ruột.
Khối bất thường.
Vùng hậu môn.
Thăm trực tràng không phải lúc nào cũng cần, nhưng có thể hữu ích khi nghi ứ phân, chảy máu, bệnh trực tràng hoặc khối u. Thủ thuật phải được thực hiện phù hợp và nhẹ nhàng.
Xét nghiệm phân
Có thể bao gồm:
Xét nghiệm vi khuẩn.
Cấy phân.
Xét nghiệm sinh học phân tử.
Tìm ký sinh trùng.
Tìm độc tố Clostridioides difficile.
Đánh giá viêm.
Tìm máu ẩn.
Không phải mọi trường hợp tiêu chảy cấp nhẹ đều cần xét nghiệm.
Xét nghiệm thường được cân nhắc khi:
Phân có máu.
Sốt cao.
Bệnh nặng.
Tiêu chảy kéo dài.
Người suy giảm miễn dịch.
Nghi ổ dịch.
Có tiền sử du lịch.
Sau dùng kháng sinh.
Xét nghiệm máu
Có thể đánh giá:
Điện giải.
Chức năng thận.
Công thức máu.
Dấu hiệu viêm.
Chức năng gan.
Tuyến giáp.
Tình trạng dinh dưỡng.
Nội soi và chẩn đoán hình ảnh
Có thể cần khi:
Tiêu chảy mạn.
Phân máu kéo dài.
Sụt cân.
Thiếu máu.
Nghi bệnh viêm ruột.
Nghi khối u.
Đau bụng hoặc khối ở bụng.
Không nên sử dụng barium hoặc X-quang cản quang một cách thường quy cho mọi bệnh nhân tiêu chảy. Lựa chọn phương tiện phải căn cứ tình trạng cụ thể.
BIẾN CHỨNG
Mất nước
Dấu hiệu nhẹ đến vừa:
Khát.
Miệng khô.
Mệt.
Tiểu ít.
Nước tiểu sẫm.
Chóng mặt.
Dấu hiệu nặng:
Lơ mơ.
Mạch nhanh, yếu.
Huyết áp thấp.
Da lạnh.
Mắt trũng.
Không tiểu.
Thở bất thường.
Rối loạn điện giải
Mất natri, kali, magnesi và các điện giải khác có thể gây:
Yếu cơ.
Chuột rút.
Rối loạn nhịp tim.
Liệt ruột.
Lú lẫn.
Co giật.
Không nên tự uống kali hoặc các dung dịch điện giải đậm đặc khi chưa được hướng dẫn.
Nhiễm toan chuyển hóa
Mất bicarbonate qua phân và giảm tưới máu do mất nước có thể gây toan chuyển hóa.
Biểu hiện nặng có thể gồm:
Thở nhanh, sâu.
Mệt lả.
Lơ mơ.
Huyết áp thấp.
Tổn thương thận
Mất nước làm giảm lượng máu đến thận, gây tiểu ít hoặc suy thận cấp.
Suy dinh dưỡng
Tiêu chảy kéo dài gây:
Giảm hấp thu năng lượng.
Sụt cân.
Mất cơ.
Thiếu protein.
Phù do suy dinh dưỡng trong trường hợp nặng.
Thiếu vitamin và khoáng chất
Kém hấp thu kéo dài có thể gây thiếu:
Vitamin A.
Vitamin D.
Vitamin E.
Vitamin K.
Vitamin nhóm B.
Sắt.
Folate.
Calci.
Magnesi.
Không nên quy rụng tóc hoặc viêm lưỡi cho một loại vitamin cụ thể khi chưa xét nghiệm và đánh giá toàn diện.
Tổn thương hậu môn
Tiêu chảy kéo dài có thể gây:
Viêm da quanh hậu môn.
Đau rát.
Nứt kẽ hậu môn.
Làm trĩ có sẵn sưng đau.
Sa trực tràng, đặc biệt ở trẻ suy dinh dưỡng hoặc người rặn nhiều.
Không nên khẳng định tiêu chảy trực tiếp gây áp xe hoặc rò hậu môn trong mọi trường hợp. Các bệnh này thường liên quan đến nhiễm trùng tuyến hậu môn và nhiều yếu tố khác.
NGUY CƠ Ở NGƯỜI CAO TUỔI
Người cao tuổi dễ bị biến chứng vì:
Cảm giác khát giảm.
Dự trữ tim, thận kém.
Đang dùng thuốc lợi tiểu hoặc thuốc huyết áp.
Dễ rối loạn điện giải.
Khả năng phục hồi chậm.
Có nhiều bệnh nền.
Tiêu chảy có thể làm huyết áp hạ, chức năng thận xấu đi, gây lú lẫn hoặc làm mất ổn định bệnh tim.
Hạ đường huyết có thể xảy ra ở người cao tuổi, đặc biệt người mắc đái tháo đường đang dùng insulin hoặc thuốc hạ đường huyết nhưng ăn uống kém. Không nên cho rằng mọi người cao tuổi tiêu chảy đều dễ hạ đường huyết chỉ vì dự trữ glycogen ít.
Các dấu hiệu cần chú ý:
Vã mồ hôi.
Run.
Lú lẫn.
Tim đập nhanh.
Buồn ngủ bất thường.
Cần đo đường huyết nếu có điều kiện và đi khám sớm.
BÙ NƯỚC VÀ DINH DƯỠNG
Dung dịch bù nước điện giải
ORS pha đúng hướng dẫn là lựa chọn phù hợp nhất để bù nước do tiêu chảy.
Cách dùng:
Pha toàn bộ gói với đúng lượng nước ghi trên bao bì.
Không thêm đường hoặc muối.
Uống từng ngụm nhỏ.
Uống thêm sau mỗi lần đi ngoài.
Nếu nôn, tạm ngừng vài phút rồi uống chậm lại.
Không tự pha nước muối đặc hoặc ước lượng muối đường bằng cảm giác. Dung dịch sai tỷ lệ có thể gây tăng natri máu hoặc làm tiêu chảy nặng hơn.
Không nhịn ăn
Không nên tạm thời nhịn ăn như tài liệu cũ khuyến nghị.
Người bệnh nên tiếp tục ăn theo khả năng:
Cháo.
Cơm.
Khoai.
Súp.
Thịt nạc hoặc cá nấu mềm.
Rau củ chín.
Chuối.
Sữa chua nếu dung nạp.
Chia thành bữa nhỏ.
Trẻ bú mẹ cần tiếp tục bú.
Nên hạn chế tạm thời:
Rượu.
Nước ngọt quá nhiều đường.
Thức ăn nhiều dầu mỡ.
Thực phẩm sống.
Món làm tiêu chảy nặng rõ.
Không phải ai cũng cần kiêng sữa. Người bị không dung nạp lactose tạm thời sau viêm ruột có thể cần điều chỉnh.
KHÁNG SINH
Vì sao không được tự dùng?
Không phải mọi tiêu chảy đều do vi khuẩn. Virus, ký sinh trùng, thuốc, kém hấp thu, bệnh viêm ruột và rối loạn chức năng đều có thể gây bệnh.
Dùng kháng sinh không đúng có thể:
Không cải thiện triệu chứng.
Gây buồn nôn và tiêu chảy.
Gây dị ứng.
Làm tổn thương gan, thận.
Tạo vi khuẩn kháng thuốc.
Gây nhiễm Clostridioides difficile.
Làm thay đổi hệ vi sinh đường ruột.
Tăng nguy cơ biến chứng trong một số nhiễm E. coli sinh độc tố.
Khi nào có thể cần kháng sinh?
Có thể được bác sĩ cân nhắc trong:
Bệnh tả nặng.
Shigella nặng.
Một số tiêu chảy du lịch.
Lỵ amíp.
Nhiễm khuẩn huyết.
Người suy giảm miễn dịch.
Một số trường hợp Salmonella nguy cơ cao.
Thuốc phải được lựa chọn dựa trên tác nhân, tuổi, bệnh nền, thai kỳ, chức năng gan thận và tình hình kháng thuốc.
Những thuốc không nên tự dùng
Norfloxacin.
Ciprofloxacin.
Gentamicin đường uống.
Tetracyclin.
Chloramphenicol.
Ampicillin.
Cotrimoxazole.
Berberine hoặc Hoàng liên tố.
Không nên xem berberine là kháng sinh thay thế cho xét nghiệm và điều trị chuẩn.
Tác hại lên hệ vi sinh
Hệ vi sinh đường ruột có vai trò trong:
Chuyển hóa thức ăn.
Bảo vệ niêm mạc.
Ức chế vi sinh vật gây bệnh.
Điều hòa miễn dịch.
Kháng sinh có thể làm mất cân bằng hệ vi sinh, nhưng không nên diễn giải mọi tiêu chảy sau dùng thuốc là “bội nhiễm tụ cầu vàng”. Tác nhân quan trọng cần nghĩ đến hiện nay là Clostridioides difficile.
Kháng sinh có thể ảnh hưởng việc tổng hợp một số vitamin trong ruột, nhưng triệu chứng tiêu chảy trong quá trình dùng thuốc thường không đơn giản chỉ do thiếu vitamin nhóm B hoặc K.
THUỐC CẦM TIÊU CHẢY VÀ CHỐNG CO THẮT
Không dùng thuốc làm giảm nhu động khi:
Phân có máu.
Sốt cao.
Nghi lỵ.
Bụng chướng.
Đau bụng dữ dội.
Nghi viêm đại tràng nặng.
Trẻ nhỏ.
Các thuốc như loperamide, diphenoxylate hoặc thuốc phiện có thể giữ vi khuẩn, độc tố và chất viêm trong ruột lâu hơn.
Không tự dùng atropin, belladonna hoặc anisodamine để giảm đau bụng. Những thuốc này có thể gây:
Khô miệng.
Bí tiểu.
Tim đập nhanh.
Nhìn mờ.
Lú lẫn.
Liệt ruột.
Che lấp bệnh cấp tính.
Các thuốc chứa thuốc phiện, cồn long não hoặc camphor không phù hợp để tự điều trị tiêu chảy.
Thuốc hấp phụ và thuốc “thu liễm” không thay thế bù nước và điều trị nguyên nhân.
MEN VI SINH VÀ MEN TIÊU HÓA
Men vi sinh
Một số chủng men vi sinh có thể rút ngắn nhẹ thời gian tiêu chảy trong một số hoàn cảnh, nhưng hiệu quả phụ thuộc chủng, liều và nguyên nhân.
Không nên dùng sản phẩm không rõ chủng hoặc coi đây là phương pháp chính.
Người suy giảm miễn dịch hoặc có đường truyền tĩnh mạch cần thận trọng.
Men tiêu hóa
Men tiêu hóa chỉ có ích khi có thiếu hụt enzym hoặc bệnh lý tiêu hóa cụ thể.
Không nên dùng thường quy cho mọi tiêu chảy do “khó tiêu”.
CHƯỜM ẤM VÀ PHƯƠNG PHÁP DÂN GIAN
Chườm ấm
Chườm ấm nhẹ có thể giúp giảm cảm giác co thắt ở người đau bụng nhẹ và không có dấu hiệu nguy hiểm.
Không chườm khi:
Sốt cao.
Đau bụng dữ dội.
Bụng cứng hoặc chướng.
Nôn liên tục.
Phân nhiều máu.
Nghi viêm ruột thừa hoặc tắc ruột.
Trẻ nhỏ không tự báo nóng.
Không dùng nước quá nóng vì có nguy cơ bỏng.
“Bắt gân bụng”
Phương pháp bóp và giật mạnh mô ở vùng giữa hai xương bả vai không có căn cứ để chữa tiêu chảy do lạnh hoặc nhiễm trùng.
Có thể gây:
Đau.
Bầm tím.
Tổn thương cơ.
Chấn thương ở người loãng xương hoặc dùng thuốc chống đông.
Không nên áp dụng, đặc biệt ở trẻ em, người cao tuổi và người suy yếu.
Không dùng bánh mì cháy hoặc trà đặc để “se ruột”
Những thực phẩm này không điều trị nguyên nhân và không thay thế ORS.
Trà đặc có thể gây mất ngủ, hồi hộp và khó chịu dạ dày.
SƠ CỨU TIÊU CHẢY CẤP
Đánh giá toàn trạng
Quan sát:
Người bệnh có tỉnh không.
Có uống được không.
Có nôn liên tục không.
Có máu trong phân không.
Có sốt cao không.
Có tiểu ít không.
Có đau bụng dữ dội không.
Bù nước ngay
Dùng ORS pha đúng hướng dẫn.
Nếu không có ORS, ưu tiên tìm mua sản phẩm chuẩn hoặc đến cơ sở y tế. Không nên pha dung dịch bằng ước lượng tùy tiện.
Tiếp tục ăn
Ăn ít một, nhiều lần.
Không bắt người bệnh nhịn ăn.
Giữ mẫu khi nghi ngộ độc thực phẩm
Nếu nhiều người cùng mắc sau khi ăn một món, có thể giữ lại:
Phần thức ăn còn lại.
Bao bì.
Hóa đơn.
Thông tin nơi mua.
Không tự ăn thử lại thức ăn nghi ngờ.
Liên hệ cơ quan y tế nếu có nhiều người cùng bệnh.
Không tự dùng thuốc
Không tự sử dụng:
Kháng sinh.
Thuốc cầm tiêu chảy.
Atropin.
Thuốc phiện.
Thuốc thụt.
Thuốc Trung y không rõ thành phần.
Đi khám khi cần
Nếu mất nước, nôn nhiều, phân máu hoặc bệnh không giảm, cần đến cơ sở y tế.
DẤU HIỆU CẦN ĐI KHÁM SỚM
Tiêu chảy có máu.
Sốt cao.
Đau bụng nhiều.
Nôn nhiều.
Tiêu chảy kéo dài quá vài ngày.
Tiêu chảy sau dùng kháng sinh.
Tiêu chảy tái diễn.
Sụt cân.
Tiêu chảy về đêm.
Phân nhiều mỡ.
Thiếu máu.
Người cao tuổi.
Trẻ nhỏ.
Thai phụ.
Người suy giảm miễn dịch.
Người có bệnh gan, tim hoặc thận.
Nhiều người cùng mắc sau một bữa ăn.
DẤU HIỆU CẦN CẤP CỨU
Lơ mơ hoặc khó đánh thức.
Ngất.
Không uống được.
Nôn liên tục.
Không tiểu hoặc tiểu rất ít.
Da tái, lạnh.
Mạch nhanh, yếu.
Huyết áp thấp.
Thở nhanh hoặc sâu bất thường.
Co giật.
Đau bụng dữ dội.
Bụng cứng hoặc chướng tăng.
Nôn dịch xanh.
Đi ngoài rất nhiều máu.
Phân đen như hắc ín.
Trẻ sơ sinh tiêu chảy.
Nói tóm lại
Tiêu chảy là tình trạng phân lỏng hoặc nhiều nước, số lần đại tiện tăng so với bình thường. Bệnh có thể do virus, vi khuẩn, ký sinh trùng, thuốc, độc tố, kém hấp thu, bệnh viêm ruột, nội tiết hoặc rối loạn vận động đường ruột.
Tiêu chảy cấp thường kéo dài dưới 14 ngày; kéo dài từ 14 ngày trở lên cần được chú ý, còn tiêu chảy từ khoảng bốn tuần được xem là mạn tính và cần tìm nguyên nhân.
Không thể chỉ nhìn màu, mùi hoặc hình dạng phân để chẩn đoán Shigella, Salmonella, rotavirus, lỵ amíp hay bệnh tả. Phân máu, sốt cao, tiêu chảy kéo dài, sụt cân và tiêu chảy ban đêm là những dấu hiệu cần đánh giá y tế.
Bù nước điện giải bằng ORS pha đúng hướng dẫn là biện pháp quan trọng nhất. Người bệnh không nên nhịn ăn kéo dài.
Không tự dùng kháng sinh, atropin, thuốc phiện hoặc thuốc cầm tiêu chảy khi chưa xác định nguyên nhân. Kháng sinh dùng không đúng có thể gây tác dụng phụ, kháng thuốc và nhiễm Clostridioides difficile.
Trường Xuân biên soạn