HỘI CHỨNG MẬT – TIM 胆心综合征
Khái luận
Hội chứng mật – tim là tình trạng bệnh lý của túi mật hoặc đường mật gây ra những biểu hiện giống bệnh Tâm mạch, như đau vùng trước Tâm, tức ngực, hồi hộp, nhịp Tâm chậm, rối loạn nhịp hoặc biến đổi điện tâm đồ.
Trong y học hiện đại, tình trạng này có thể được mô tả bằng những tên gọi như hội chứng túi mật – Tâm, phản xạ mật – Tâm hoặc phản xạ Tâm mạch do bệnh đường mật. Cơ chế thường liên quan đến sự kích thích thần kinh tự chủ, đặc biệt là thần kinh phế vị, khi túi mật bị viêm, căng giãn, co thắt hoặc tắc nghẽn do sỏi.
Túi mật, đường mật và Tâm đều chịu sự điều hòa của hệ thần kinh tự chủ. Khi cơn đau quặn mật hoặc viêm túi mật kích thích mạnh các thụ thể nội tạng, phản xạ thần kinh có thể làm nhịp Tâm chậm, xuất hiện block dẫn truyền, hồi hộp, đau ngực hoặc những biến đổi điện tâm đồ giống thiếu máu cơ tim.
Tuy nhiên, hội chứng mật – tim không có nghĩa Tâm hoàn toàn không có bệnh. Người bệnh có thể đồng thời mắc sỏi mật, viêm túi mật và bệnh mạch vành. Đau thượng vị, buồn nôn, vã mồ hôi hoặc tức ngực cũng có thể là biểu hiện của nhồi máu cơ tim, nhất là ở người cao tuổi, người đái tháo đường, tăng huyết áp hoặc rối loạn mỡ máu.
Trong Trung y, hội chứng mật – tim có thể thuộc phạm vi Đởm thống (胆痛), Hiếp thống (胁痛), Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Tâm quý (心悸), Đởm Vị bất hòa (胆胃不和), Can Đởm thấp nhiệt (肝胆湿热), Đàm nhiệt nhiễu Tâm (痰热扰心) và Khí trệ huyết ứ (气滞血瘀).
Bệnh cơ thường là Can Đởm mất sơ tiết, Đởm khí không thông, thấp nhiệt hoặc đàm nhiệt uất kết, ảnh hưởng khí cơ vùng ngực và Tâm mạch. Bệnh kéo dài có thể làm khí trệ, huyết ứ và đàm trọc cùng kết, khiến đau ngực, hồi hộp và khó chịu vùng thượng vị tái phát nhiều lần.
Khi người bệnh có đau ngực, khó thở, vã mồ hôi, choáng, ngất hoặc rối loạn nhịp, phải ưu tiên loại trừ bệnh Tâm mạch cấp trước. Không nên tự cho rằng đó chỉ là “đau mật lan lên Tâm” rồi điều trị tại nhà bằng thuốc thang, cạo gió hoặc bấm huyệt.
Hội chứng mật – tim là gì
Hội chứng mật – tim là hiện tượng bệnh lý ở túi mật hoặc đường mật gây ra triệu chứng biểu hiện tại vùng ngực hoặc hệ Tâm mạch.
Người bệnh có thể đến khám vì:
Đau vùng trước Tâm.
Tức ngực.
Hồi hộp.
Nhịp Tâm chậm.
Nhịp Tâm không đều.
Buồn nôn và vã mồ hôi.
Biến đổi điện tâm đồ.
Trong khi đó, nguyên nhân chính lại là:
Sỏi túi mật.
Viêm túi mật.
Cơn đau quặn mật.
Sỏi ống mật chủ.
Viêm đường mật.
Rối loạn co bóp túi mật.
Rối loạn cơ vòng Oddi.
Bệnh đường mật gây đau và phản xạ thần kinh.
Khi túi mật bị viêm hoặc căng giãn, tín hiệu đau truyền qua hệ thần kinh nội tạng có thể ảnh hưởng hoạt động thần kinh tự chủ của Tâm. Phản xạ phế vị tăng có thể làm nhịp Tâm chậm hoặc dẫn truyền nhĩ thất bị chậm.
Cơn đau dữ dội, sốt, viêm, nôn và mất nước cũng có thể làm nhịp Tâm, huyết áp và điện giải thay đổi. Vì vậy, biểu hiện Tâm mạch trong bệnh gan mật không phải lúc nào cũng chỉ do một phản xạ đơn thuần.
Mối liên hệ giữa túi mật và Tâm
Liên hệ qua thần kinh tự chủ
Túi mật và Tâm đều chịu sự chi phối của hệ giao cảm và phó giao cảm.
Kích thích mạnh từ túi mật có thể gây phản xạ phế vị, làm nhịp Tâm chậm, huyết áp giảm hoặc dẫn truyền điện bị ảnh hưởng.
Liên hệ qua cảm giác đau nội tạng
Đau nội tạng thường không khu trú hoàn toàn chính xác. Đau túi mật có thể lan ra thượng vị, vai phải, lưng, giữa hai bả vai hoặc vùng ngực.
Người bệnh có thể cảm thấy đau gần vùng trước Tâm dù nguồn gốc nằm ở hạ sườn phải.
Liên hệ qua phản ứng viêm
Viêm túi mật và viêm đường mật làm cơ thể giải phóng các chất trung gian viêm. Trong trường hợp nặng, nhiễm trùng và độc tố có thể ảnh hưởng huyết áp, nhịp Tâm và chức năng tuần hoàn.
Liên hệ qua nôn và rối loạn điện giải
Nôn nhiều, ăn uống kém và mất nước có thể làm điện giải bất thường, từ đó gây ngoại tâm thu, nhịp nhanh hoặc những rối loạn nhịp khác.
Liên hệ qua bệnh nền chung
Béo phì, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường và ăn uống nhiều chất béo vừa làm nguy cơ sỏi mật tăng, vừa làm nguy cơ bệnh mạch vành tăng.
Do đó, bệnh mật và bệnh Tâm có thể cùng tồn tại chứ không nhất thiết loại trừ lẫn nhau.
Nguyên nhân thường gặp
Một. Sỏi túi mật
Sỏi túi mật là nguyên nhân thường gặp của đau quặn mật và viêm túi mật.
Khi sỏi di chuyển đến cổ túi mật hoặc làm tắc ống túi mật, túi mật co bóp mạnh nhưng dịch mật không thoát được. Áp lực tăng làm người bệnh đau vùng hạ sườn phải hoặc thượng vị.
Đau có thể lan lên vai phải, lưng, giữa hai bả vai hoặc vùng ngực. Người bệnh thường buồn nôn, nôn, đầy bụng và khó chịu sau bữa ăn nhiều dầu mỡ.
Hai. Viêm túi mật cấp
Viêm túi mật cấp thường xảy ra khi sỏi làm tắc ống túi mật kéo dài.
Người bệnh có thể đau hạ sườn phải liên tục, sốt, buồn nôn, nôn và đau tăng khi hít sâu hoặc ấn vùng túi mật.
Trong một số trường hợp, phản xạ thần kinh do viêm túi mật làm nhịp Tâm chậm hoặc điện tâm đồ thay đổi, khiến bệnh dễ bị nhầm với hội chứng vành cấp.
Ba. Sỏi ống mật chủ
Sỏi từ túi mật có thể rơi xuống ống mật chủ, làm dòng mật bị tắc.
Người bệnh có thể đau thượng vị hoặc hạ sườn phải, vàng da, nước tiểu sẫm và phân bạc màu.
Nếu kèm sốt hoặc rét run, cần nghĩ đến viêm đường mật, là tình trạng cần xử trí khẩn cấp.
Bốn. Viêm đường mật
Viêm đường mật thường liên quan đến tắc nghẽn dòng mật và nhiễm khuẩn.
Người bệnh có thể đau bụng, sốt, rét run, vàng da, tụt huyết áp hoặc rối loạn ý thức.
Nhiễm trùng nặng có thể ảnh hưởng tuần hoàn và Tâm, nhưng đây không còn là một hội chứng phản xạ đơn giản mà là tình trạng toàn thân nguy hiểm.
Năm. Rối loạn vận động túi mật
Có người không thấy sỏi rõ nhưng túi mật co bóp không hiệu quả hoặc rối loạn.
Triệu chứng thường là đau sau ăn dầu mỡ, buồn nôn, đầy bụng và khó chịu vùng thượng vị.
Việc chẩn đoán cần loại trừ những nguyên nhân khác, không nên chỉ dựa vào triệu chứng.
Sáu. Rối loạn cơ vòng Oddi
Cơ vòng Oddi điều hòa dòng mật và dịch tụy đổ vào tá tràng.
Rối loạn chức năng hoặc co thắt cơ vòng này có thể gây đau thượng vị hoặc hạ sườn phải, đôi khi lan lên ngực và lưng.
Bảy. Viêm tụy do sỏi mật
Sỏi đường mật có thể làm tắc vùng chung của ống mật và ống tụy, gây viêm tụy cấp.
Người bệnh thường đau thượng vị dữ dội lan ra sau lưng, nôn nhiều, bụng chướng và mệt lả.
Đây là tình trạng cấp cứu, không được xem là đau mật thông thường.
Tám. Bệnh Tâm và bệnh mật cùng tồn tại
Người lớn tuổi hoặc có nhiều yếu tố nguy cơ có thể vừa mắc bệnh mạch vành vừa mắc sỏi mật.
Ăn quá no hoặc ăn nhiều dầu mỡ vừa có thể khởi phát cơn đau mật, vừa làm Tâm phải làm việc nhiều hơn và gây đau thắt ngực.
Vì vậy, không nên chỉ điều trị một phía khi triệu chứng chưa được xác định rõ.
Biểu hiện lâm sàng
Triệu chứng vùng gan mật
Đau hạ sườn phải.
Đau vùng thượng vị.
Đau lan vai phải.
Đau giữa hai bả vai.
Đau lưng phải.
Đau tăng sau ăn dầu mỡ.
Buồn nôn.
Nôn.
Đầy bụng.
Ợ hơi.
Miệng đắng.
Sốt hoặc ớn lạnh.
Vàng da.
Nước tiểu sẫm.
Phân nhạt màu.
Triệu chứng giống bệnh Tâm
Tức ngực.
Đau vùng trước Tâm.
Hồi hộp.
Nhịp Tâm chậm.
Nhịp Tâm không đều.
Vã mồ hôi.
Buồn nôn.
Choáng.
Biến đổi điện tâm đồ.
Cảm giác nặng ngực sau ăn.
Biểu hiện có tính gợi ý bệnh mật
Cơn đau thường liên quan rõ với bữa ăn nhiều dầu mỡ.
Đau nổi bật ở hạ sườn phải hoặc thượng vị.
Đau lan về vai phải hoặc lưng phải.
Kèm miệng đắng, đầy bụng và buồn nôn.
Siêu âm phát hiện sỏi hoặc viêm túi mật.
Tuy vậy, những biểu hiện này không đủ để loại trừ bệnh Tâm.
Dấu hiệu cần cấp cứu
Đau ngực dữ dội hoặc kéo dài.
Khó thở.
Vã mồ hôi lạnh.
Choáng hoặc ngất.
Tim đập quá nhanh, quá chậm hoặc loạn rõ.
Sắc mặt tái xám.
Đau lan vai trái, tay trái, cổ hoặc hàm.
Đau thượng vị ở người có nguy cơ Tâm mạch cao.
Đau hạ sườn phải dữ dội kèm sốt hoặc rét run.
Vàng da.
Lơ mơ.
Tụt huyết áp.
Nôn nhiều.
Đau bụng lan ra sau lưng.
Không nên tự phân biệt tại nhà giữa đau mật và nhồi máu cơ tim khi có những dấu hiệu này.
Phân biệt với bệnh Tâm mạch
Đau thắt ngực
Đau thắt ngực thường xuất hiện khi gắng sức, xúc động hoặc gặp lạnh, nhưng cũng có thể xảy ra sau ăn no.
Đau thường ở sau xương ức, có tính đè ép, lan ra vai trái, tay trái, cổ hoặc hàm.
Đau túi mật thường nổi bật ở hạ sườn phải hoặc thượng vị và có thể lan vai phải, nhưng các vùng đau có thể chồng lấp.
Nhồi máu cơ tim
Nhồi máu cơ tim có thể chỉ biểu hiện bằng đau thượng vị, buồn nôn, nôn và vã mồ hôi, nhất là ở người cao tuổi hoặc người đái tháo đường.
Do đó, đau thượng vị không được mặc nhiên xem là bệnh mật hoặc bệnh dạ dày.
Viêm màng ngoài Tâm
Đau thường tăng khi nằm hoặc hít sâu, giảm khi ngồi dậy và cúi người ra trước.
Rối loạn nhịp nguyên phát
Nhịp chậm, block dẫn truyền hoặc hồi hộp có thể do bệnh hệ thống dẫn truyền của Tâm, thuốc hoặc rối loạn điện giải, không nhất thiết do phản xạ mật – Tâm.
Suy tim
Khó thở, phù chân và khó thở khi nằm cần được đánh giá chức năng Tâm, không nên chỉ quy cho đầy bụng hoặc đau mật.
Phân biệt với các bệnh tiêu hóa khác
Trào ngược dạ dày thực quản
Thường có nóng rát sau xương ức, ợ chua, tăng khi nằm hoặc sau ăn.
Loét dạ dày tá tràng
Đau thượng vị có thể liên quan bữa ăn, kèm đầy bụng và ợ hơi.
Viêm tụy cấp
Đau thượng vị dữ dội lan ra sau lưng, nôn nhiều và bụng chướng.
Bệnh gan
Viêm gan, áp-xe gan hoặc khối u gan cũng có thể gây đau hạ sườn phải và mệt.
Đau cơ xương
Đau có thể tăng khi cử động hoặc ấn vào thành ngực, nhưng điểm ấn đau không loại trừ hoàn toàn bệnh Tâm hay bệnh mật.
Chẩn đoán theo y học hiện đại
Đánh giá Tâm mạch
Điện tâm đồ.
Troponin và các xét nghiệm tổn thương cơ tim.
Siêu âm Tâm.
Theo dõi điện tâm đồ kéo dài khi có rối loạn nhịp.
Đánh giá thiếu máu cơ tim hoặc động mạch vành khi cần.
Mọi biến đổi điện tâm đồ trong bệnh túi mật vẫn phải được xem xét cẩn thận, không được mặc nhiên kết luận là phản xạ lành tính.
Đánh giá gan mật
Siêu âm bụng là phương pháp thường được sử dụng đầu tiên để phát hiện sỏi, thành túi mật dày, dịch quanh túi mật và đường mật giãn.
Xét nghiệm có thể gồm:
Công thức máu.
CRP.
Bilirubin.
Men gan.
Phosphatase kiềm.
Gamma-glutamyl transferase.
Amylase và lipase khi nghi viêm tụy.
CT bụng có thể được cân nhắc khi cần đánh giá biến chứng hoặc chẩn đoán chưa rõ.
MRCP giúp khảo sát đường mật không xâm lấn.
Nội soi mật tụy ngược dòng có thể vừa chẩn đoán vừa lấy sỏi hoặc dẫn lưu trong những trường hợp phù hợp.
Đánh giá nguyên nhân rối loạn nhịp
Cần kiểm tra điện giải, thuốc đang dùng, chức năng tuyến giáp và những bệnh Tâm nền.
Không nên cho rằng nhịp chậm chắc chắn do phản xạ túi mật khi chưa loại trừ nguyên nhân khác.
Điều trị theo y học hiện đại
Ưu tiên xử trí bệnh Tâm cấp khi nghi ngờ
Nếu triệu chứng phù hợp hội chứng vành cấp, phải thực hiện đánh giá và điều trị Tâm mạch ngay.
Không nên chờ siêu âm túi mật trước khi loại trừ nhồi máu cơ tim ở người có dấu hiệu nguy hiểm.
Điều trị viêm túi mật cấp
Người bệnh thường cần được đánh giá tại bệnh viện.
Điều trị có thể gồm:
Nhịn ăn tạm thời.
Truyền dịch.
Giảm đau.
Kiểm soát nôn.
Kháng sinh khi có nhiễm trùng.
Theo dõi huyết động.
Phẫu thuật cắt túi mật khi có chỉ định.
Điều trị sỏi ống mật chủ
Có thể cần nội soi lấy sỏi, dẫn lưu mật hoặc phương pháp can thiệp khác.
Điều trị viêm đường mật
Cần kháng sinh và giải quyết tắc nghẽn đường mật sớm.
Điều trị viêm tụy do sỏi
Cần bù dịch, giảm đau, theo dõi biến chứng và xử lý nguyên nhân đường mật theo chỉ định.
Điều trị rối loạn nhịp
Nhịp chậm hoặc block dẫn truyền cần được theo dõi.
Nếu huyết động không ổn định, phải xử trí theo nguyên tắc cấp cứu Tâm mạch, không chỉ chờ điều trị túi mật.
Phẫu thuật cắt túi mật
Phẫu thuật có thể giúp giải quyết căn nguyên ở người có sỏi gây đau tái phát, viêm túi mật hoặc biến chứng.
Thời điểm phẫu thuật phụ thuộc mức độ viêm, tình trạng Tâm, thuốc chống đông và nguy cơ gây mê.
Không nên dùng một tỷ lệ cố định để khẳng định mọi triệu chứng Tâm sẽ biến mất sau cắt túi mật. Hiệu quả phụ thuộc nguyên nhân thực sự và bệnh Tâm đi kèm.
Nhận thức của Trung y
Can Đởm chủ sơ tiết
Can chủ sơ tiết, giúp khí cơ điều đạt; Đởm có quan hệ biểu lý với Can và tham gia vào sự lưu thông của mật.
Khi Can Đởm khí cơ điều hòa, vùng ngực sườn khoan khoái, Vị khí giáng và tiêu hóa thuận.
Can Đởm khí trệ
Tình chí uất kết, ăn uống không điều độ hoặc bệnh Đởm kéo dài làm khí cơ vùng hiếp sườn bị trở.
Khí trệ có thể lan lên ngực, gây tức ngực, đau vùng trước Tâm và hồi hộp.
Can Đởm thấp nhiệt
Ăn nhiều béo ngọt, rượu, thấp tà hoặc Tỳ mất kiện vận làm thấp nhiệt uất kết ở Can Đởm.
Người bệnh đau hạ sườn phải, miệng đắng, buồn nôn, rêu vàng nhầy và có thể vàng da.
Đởm Vị bất hòa
Đởm khí không thông làm Vị khí không giáng, gây buồn nôn, ợ hơi, đầy thượng vị và đau lan lên ngực.
Đàm nhiệt nhiễu Tâm
Thấp nhiệt lâu ngày sinh đàm; đàm nhiệt thượng nhiễu Tâm thần, gây hồi hộp, mất ngủ, bứt rứt và ngực tức.
Khí trệ huyết ứ
Khí trệ lâu ngày làm huyết vận hành không thuận. Huyết ứ khiến đau có vị trí tương đối cố định và kéo dài.
Tỳ hư đàm thấp
Tỳ mất kiện vận, thủy thấp tụ thành đàm. Đàm thấp làm Đởm Vị không hòa và vùng ngực nặng nề.
Bệnh cơ tổng quát
Bệnh thường bắt đầu từ Can Đởm mất sơ tiết, Đởm khí uất trệ.
Thấp nhiệt, đàm trọc và Vị khí nghịch làm triệu chứng tiêu hóa nổi bật.
Khí trệ, huyết ứ và đàm nhiệt ảnh hưởng vùng ngực, Tâm mạch và Tâm thần, từ đó xuất hiện đau ngực, hồi hộp hoặc rối loạn giấc ngủ.
Nguyên tắc điều trị theo Trung y
Giai đoạn cấp hoặc có sốt, vàng da
Không dùng Trung y thay thế cấp cứu, kháng sinh, can thiệp hoặc phẫu thuật.
Can Đởm khí trệ
Sơ Can lợi Đởm, lý khí chỉ thống, hòa Vị.
Can Đởm thấp nhiệt
Thanh nhiệt lợi thấp, lợi Đởm và thông phủ khi phù hợp.
Đởm Vị bất hòa
Hòa Vị giáng nghịch, hóa đàm và lý khí.
Đàm nhiệt nhiễu Tâm
Thanh nhiệt hóa đàm, khoan hung và an thần.
Khí trệ huyết ứ
Sơ Can lý khí, hoạt huyết thông lạc.
Tỳ hư đàm thấp
Kiện Tỳ hóa thấp, lý khí hòa Trung.
Một. Can Đởm khí trệ, khí cơ phạm Tâm
Chứng trạng
Đau tức hạ sườn phải hoặc thượng vị, đau lan vùng ngực, vai phải hoặc lưng; cơn đau liên quan đến stress, giận dữ hoặc ăn uống không điều độ; ngực tức, hay thở dài, ợ hơi, buồn nôn nhẹ, miệng đắng; lưỡi rêu mỏng, mạch huyền.
Bệnh cơ
Can khí uất, Đởm khí không thông, khí cơ vùng ngực sườn bị trở. Khí trệ lan lên vùng trước Tâm, gây hồi hộp và tức ngực.
Pháp trị
Sơ Can lợi Đởm, lý khí khoan hung, hòa Vị chỉ thống.
Phương thang
Sài hồ sơ Can tán gia giảm (柴胡疏肝散加减): Sài hồ (柴胡), Hương phụ (香附), Chỉ xác (枳壳), Bạch thược (白芍), Xuyên khung (川芎), Trần bì (陈皮), Cam thảo (甘草), Uất kim (郁金), Kim tiền thảo (金钱草), Kê nội kim (鸡内金), Đan sâm (丹参).
Gia giảm
Đau rõ gia Huyền hồ sách (玄胡索), Xuyên luyện tử (川楝子); buồn nôn gia Bán hạ (半夏), Trúc nhự (竹茹), Sinh khương (生姜); hồi hộp, ngủ kém gia Toan táo nhân (酸枣仁), Dạ giao đằng (夜交藤).
Ý nghĩa
Sài hồ, Hương phụ, Chỉ xác và Trần bì sơ Can lý khí; Bạch thược hòa Can; Xuyên khung và Đan sâm hoạt huyết; Uất kim sơ Can lợi Đởm; Kim tiền thảo hỗ trợ lợi Đởm; Kê nội kim tiêu tích; Cam thảo điều hòa.
Chú ý
Kim tiền thảo và Kê nội kim không bảo đảm làm tan mọi loại sỏi. Không dùng thuốc bài thạch kéo dài thay cho đánh giá ngoại khoa khi sỏi gây viêm hoặc tắc nghẽn.
Hai. Can Đởm thấp nhiệt
Chứng trạng
Đau hạ sườn phải hoặc thượng vị, đau tăng sau ăn dầu mỡ, miệng đắng, buồn nôn, nôn, đầy bụng, chán ăn, có thể sốt, ớn lạnh, nước tiểu vàng, vàng da; lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy, mạch huyền sác hoặc hoạt sác.
Bệnh cơ
Thấp nhiệt uất kết ở Can Đởm, mật tiết không lợi và Đởm khí không thông. Thấp nhiệt ảnh hưởng khí cơ vùng ngực, gây hồi hộp và tức ngực.
Pháp trị
Thanh nhiệt lợi thấp, sơ Can lợi Đởm, hòa Vị chỉ ẩu.
Phương thang
Long đởm tả Can thang hợp Nhân trần cao thang gia giảm (龙胆泻肝汤合茵陈蒿汤加减): Long đởm thảo (龙胆草), Hoàng cầm (黄芩), Chi tử (栀子), Sài hồ (柴胡), Trạch tả (泽泻), Mộc thông (木通), Xa tiền tử (车前子), Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Cam thảo (甘草), Nhân trần (茵陈), Đại hoàng (大黄), Kim tiền thảo (金钱草), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Đau rõ gia Huyền hồ sách (玄胡索), Xuyên luyện tử (川楝子); buồn nôn gia Bán hạ (半夏), Trúc nhự (竹茹); vàng da rõ gia Hổ trượng (虎杖) theo biện chứng.
Ý nghĩa
Long đởm thảo, Hoàng cầm và Chi tử thanh Can Đởm thấp nhiệt; Nhân trần lợi thấp thoái hoàng; Trạch tả, Mộc thông và Xa tiền tử lợi thấp; Sài hồ và Uất kim sơ Can lợi Đởm; Đại hoàng thông phủ; Đương quy và Sinh địa dưỡng huyết.
Chú ý
Sốt, rét run, vàng da và đau bụng là dấu hiệu có thể thuộc viêm đường mật. Không sắc thuốc để chờ bệnh giảm.
Ba. Đởm Vị bất hòa, Vị khí thượng nghịch
Chứng trạng
Đau thượng vị hoặc hạ sườn phải, đầy bụng, ợ hơi, ợ đắng, buồn nôn, nôn, ăn dầu mỡ thì nặng, đau lan lên ngực hoặc cảm giác nghẹn sau xương ức; lưỡi rêu nhầy, mạch huyền hoạt.
Bệnh cơ
Đởm khí không thông ảnh hưởng đến Vị, Vị khí không giáng mà thượng nghịch, gây buồn nôn, ợ hơi và đau lan lên ngực.
Pháp trị
Sơ Đởm hòa Vị, lý khí giáng nghịch, hóa đàm chỉ ẩu.
Phương thang
Ôn đảm thang hợp Bán hạ hậu phác thang gia giảm (温胆汤合半夏厚朴汤加减): Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Cam thảo (甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Hậu phác (厚朴), Tô diệp (苏叶), Uất kim (郁金), Kim tiền thảo (金钱草).
Gia giảm
Đau hạ sườn gia Xuyên luyện tử (川楝子), Huyền hồ sách (玄胡索); ợ chua, nóng rát có thể gia Hoàng liên (黄连) lượng nhỏ và Ngô thù du (吴茱萸) lượng rất nhỏ theo biện chứng; ăn kém gia Kê nội kim (鸡内金), Sơn tra (山楂), Thần khúc (神曲).
Ý nghĩa
Bán hạ, Trần bì, Trúc nhự và Phục linh hóa đàm hòa Vị; Chỉ thực và Hậu phác hành khí trừ đầy; Sinh khương giáng nghịch; Tô diệp lý khí; Uất kim sơ Can lợi Đởm; Cam thảo và Đại táo điều hòa.
Bốn. Đàm nhiệt nhiễu Tâm
Chứng trạng
Tức ngực, hồi hộp, Tâm đập không yên, bứt rứt, mất ngủ, miệng đắng, buồn nôn, đàm dính, đầy bụng; lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy, mạch hoạt sác. Có thể kèm đau hạ sườn phải hoặc tiền sử sỏi mật.
Bệnh cơ
Can Đởm thấp nhiệt hóa đàm, đàm nhiệt thượng nhiễu Tâm thần và bế trở vùng ngực, gây hồi hộp, bứt rứt và ngực tức.
Pháp trị
Thanh nhiệt hóa đàm, lợi Đởm khoan hung, an thần định quý.
Phương thang
Hoàng liên ôn đảm thang gia giảm (黄连温胆汤加减): Hoàng liên (黄连), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Cam thảo (甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Uất kim (郁金), Kim tiền thảo (金钱草), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Mất ngủ gia Dạ giao đằng (夜交藤), Liên tử tâm (莲子心), Trân châu mẫu (珍珠母); miệng đắng, sốt nhẹ gia Chi tử (栀子), Hoàng cầm (黄芩); đau hạ sườn gia Xuyên luyện tử (川楝子), Huyền hồ sách (玄胡索).
Ý nghĩa
Hoàng liên thanh Tâm hỏa; Bán hạ, Trần bì và Phục linh hóa đàm; Trúc nhự thanh đàm nhiệt; Chỉ thực hành khí; Uất kim lợi Đởm; Đan sâm thông mạch; Toan táo nhân dưỡng Tâm.
Năm. Khí trệ huyết ứ, Tâm Đởm lạc trở
Chứng trạng
Đau hạ sườn phải kéo dài, đau lan vùng ngực hoặc trước Tâm, vị trí tương đối cố định, sắc mặt tối, môi hơi tím; lưỡi tím hoặc có điểm ứ, mạch huyền sáp. Cơn đau dễ phát sau ăn nhiều dầu mỡ hoặc căng thẳng.
Bệnh cơ
Can Đởm khí trệ lâu ngày làm huyết ứ, mạch lạc vùng ngực sườn không thông. Huyết ứ ảnh hưởng Tâm mạch, gây đau ngực và hồi hộp.
Pháp trị
Sơ Can lợi Đởm, hoạt huyết hóa ứ, thông lạc chỉ thống.
Phương thang
Huyết phủ trục ứ thang hợp Sài hồ sơ Can tán gia giảm (血府逐瘀汤合柴胡疏肝散加减): Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Ngưu tất (牛膝), Sài hồ (柴胡), Chỉ xác (枳壳), Cát cánh (桔梗), Cam thảo (甘草), Hương phụ (香附), Uất kim (郁金), Đan sâm (丹参), Kim tiền thảo (金钱草).
Gia giảm
Đau rõ gia Huyền hồ sách (玄胡索), Xuyên luyện tử (川楝子); đàm trọc gia Qua lâu (瓜蒌), Bán hạ (半夏); ngủ kém gia Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁).
Ý nghĩa
Đào nhân, Hồng hoa, Xích thược, Xuyên khung và Đan sâm hoạt huyết; Đương quy và Sinh địa dưỡng huyết; Sài hồ, Hương phụ và Chỉ xác sơ Can lý khí; Cát cánh tuyên thông vùng ngực; Uất kim vừa lý khí vừa hoạt huyết.
Chú ý
Người đang dùng aspirin, thuốc chống kết tập tiểu cầu hoặc thuốc chống đông không được tự sử dụng phương hoạt huyết.
Sáu. Tỳ hư đàm thấp
Chứng trạng
Đầy bụng, ăn kém, thân thể nặng, béo bụng, đại tiện không đều, đau hạ sườn phải âm ỉ, sau ăn dầu mỡ dễ buồn nôn, ngực tức nhẹ; lưỡi rêu trắng nhầy, mạch nhu hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ hư không vận hóa thủy thấp, thấp tụ thành đàm. Đàm thấp ảnh hưởng Đởm Vị và bế vùng ngực, gây tiêu hóa kém, đau âm ỉ và hồi hộp nhẹ.
Pháp trị
Kiện Tỳ hóa thấp, lý khí hòa Vị, lợi Đởm.
Phương thang
Lục quân tử thang hợp Nhị trần thang gia giảm (六君子汤合二陈汤加减): Đảng sâm (党参), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Chích cam thảo (炙甘草), Trần bì (陈皮), Bán hạ (半夏), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Sa nhân (砂仁), Kê nội kim (鸡内金), Kim tiền thảo (金钱草), Uất kim (郁金).
Gia giảm
Bụng đầy gia Hậu phác (厚朴), Chỉ xác (枳壳); thấp nặng gia Ý dĩ nhân (薏苡仁), Trạch tả (泽泻); ăn dầu mỡ đau tăng gia Sơn tra (山楂), Thần khúc (神曲).
Ý nghĩa
Đảng sâm, Bạch truật và Phục linh kiện Tỳ ích khí; Trần bì và Bán hạ hóa đàm; Sa nhân lý khí tỉnh Tỳ; Kê nội kim tiêu tích; Uất kim sơ Can lợi Đởm.
Châm cứu hỗ trợ
Châm cứu chỉ nên được sử dụng khi bệnh đã ổn định và không có dấu hiệu cấp cứu Tâm mạch hoặc gan mật.
Các huyệt thường dùng gồm Bàng quang-19 Đởm du (胆俞), Bàng quang-18 Can du (肝俞), Đởm-24 Nhật nguyệt (日月), Can-14 Kỳ môn (期门), Đởm-34 Dương lăng tuyền (阳陵泉), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Nhâm-12 Trung quản (中脘), Tâm bào-6 Nội quan (内关), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Tâm-7 Thần môn (神门), Vị-40 Phong long (丰隆) và Can-3 Thái xung (太冲).
Can Đởm khí trệ phối Đởm-34 Dương lăng tuyền, Can-3 Thái xung, Can-14 Kỳ môn và Đởm-24 Nhật nguyệt.
Đầy bụng, buồn nôn phối Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý và Tâm bào-6 Nội quan.
Tức ngực, hồi hộp phối Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung và Tâm-7 Thần môn.
Đàm thấp phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản và Vị-36 Túc tam lý.
Không châm cứu khi đau ngực cấp, đau bụng dữ dội, sốt, vàng da, rét run, tụt huyết áp hoặc nghi viêm tụy.
Bấm huyệt
Trong giai đoạn ổn định, có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Đởm-34 Dương lăng tuyền, Can-3 Thái xung, Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-12 Trung quản và Nhâm-17 Chiên trung.
Không ấn mạnh hạ sườn phải khi người bệnh đang đau dữ dội hoặc có sốt.
Bấm huyệt không thay thế điện tâm đồ, xét nghiệm men Tâm, siêu âm gan mật hoặc phẫu thuật.
Cứu ngải
Cứu ngải chỉ phù hợp với thể hư hàn, đau âm ỉ, thích ấm, tiêu hóa kém, lưỡi nhạt và rêu trắng.
Không cứu khi có sốt, miệng đắng, rêu vàng nhầy, vàng da, đau dữ dội, nôn nhiều hoặc viêm cấp.
Phối hợp Trung y và thuốc hiện đại
Người mắc bệnh Tâm mạch có thể đang dùng aspirin, thuốc chống kết tập tiểu cầu, thuốc chống đông, nitrate, statin hoặc thuốc huyết áp.
Các vị Đan sâm (丹参), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Xuyên khung (川芎), Uất kim (郁金), Huyền hồ sách (玄胡索) và những vị hoạt huyết khác có thể làm nguy cơ chảy máu tăng.
Không tự dùng thuốc hoạt huyết khi chưa biết rõ thuốc hiện đại đang sử dụng.
Người bị tắc mật hoặc viêm đường mật không nên tự dùng thuốc lợi Đởm hoặc bài thạch để trì hoãn can thiệp.
Không tự ngừng thuốc Tâm mạch chỉ vì cho rằng nguyên nhân đau là ở túi mật.
Ăn uống điều dưỡng
Nguyên tắc chung
Ăn thanh đạm, ít dầu mỡ và không quá no.
Nên chia lượng thức ăn phù hợp, tránh một bữa quá lớn sau thời gian nhịn đói dài.
Hạn chế:
Đồ chiên rán.
Mỡ động vật.
Nội tạng.
Thịt chế biến sẵn.
Kem.
Bánh ngọt nhiều chất béo.
Rượu bia.
Thức ăn quá cay.
Người bệnh có thể dùng rau củ, ngũ cốc, các loại đậu, cá và thịt nạc lượng vừa phải.
Không phải mọi người có sỏi mật đều cần kiêng tuyệt đối mọi chất béo. Chế độ ăn cần cân đối, nhưng nên tránh lượng chất béo quá lớn trong một bữa nếu dễ khởi phát cơn đau.
Thể Can Đởm khí trệ
Trà Mai khôi hoa Trần bì: Mai khôi hoa (玫瑰花), Trần bì (陈皮), hãm uống lượng nhẹ.
Người âm hư, họng khô rõ không nên dùng nhiều Trần bì.
Thể Can Đởm thấp nhiệt
Nước Nhân trần: Nhân trần (茵陈), dùng lượng nhẹ theo hướng dẫn.
Nếu có sốt, đau nhiều hoặc vàng da, không tự dùng tại nhà.
Thể Tỳ hư đàm thấp
Cháo Ý dĩ nhân Phục linh: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Phục linh (茯苓), gạo tẻ.
Thể Đởm Vị bất hòa
Cháo Trần bì Sơn dược: Trần bì (陈皮), Sơn dược (山药), gạo tẻ.
Thể khí trệ huyết ứ
Canh mộc nhĩ đen và rau củ có thể dùng như món ăn thông thường với lượng vừa phải.
Người đang dùng thuốc chống đông hoặc chống kết tập tiểu cầu không nên dùng quá nhiều với mục đích hoạt huyết.
Sinh hoạt điều dưỡng
Tránh bữa ăn quá nhiều dầu mỡ
Cơn đau mật thường dễ xuất hiện sau những bữa ăn rất nhiều chất béo.
Không ăn quá no rồi nằm
Sau ăn nên ngồi nghỉ hoặc đi lại nhẹ nếu sức khỏe cho phép.
Giữ cân nặng phù hợp
Béo phì làm nguy cơ sỏi mật và bệnh Tâm mạch tăng.
Tuy nhiên, giảm cân quá nhanh cũng có thể làm nguy cơ hình thành sỏi mật tăng. Nên giảm cân từ từ và có chế độ ăn cân đối.
Điều hòa tình chí
Căng thẳng làm khí cơ vùng ngực sườn mất điều đạt và có thể làm cảm giác đau tăng.
Có thể đi bộ nhẹ, thở chậm và ngủ đủ.
Theo dõi triệu chứng Tâm
Nếu xuất hiện đau ngực, hồi hộp, nhịp chậm, vã mồ hôi hoặc ngất, cần đánh giá Tâm mạch.
Tái khám khi có sỏi mật
Sỏi không triệu chứng có thể được theo dõi trong một số trường hợp.
Sỏi gây đau tái phát, viêm túi mật, tắc mật hoặc viêm tụy cần được bác sĩ đánh giá phương án điều trị dứt điểm.
Những điều nên làm
Đi khám khi đau hạ sườn phải, thượng vị hoặc đau ngực tái phát.
Làm điện tâm đồ và troponin khi có triệu chứng nghi Tâm.
Làm siêu âm bụng và xét nghiệm gan mật khi nghi bệnh túi mật.
Ăn ít dầu mỡ và không quá no.
Bỏ hoặc hạn chế rượu bia.
Giữ cân nặng phù hợp.
Dùng thuốc đúng chỉ định.
Tái khám nếu có sỏi hoặc viêm túi mật.
Đi cấp cứu khi đau ngực, sốt, vàng da, rét run hoặc đau bụng dữ dội.
Những điều không nên làm
Không tự kết luận đau ngực là do túi mật.
Không tự dùng thuốc bài sỏi trong cơn đau cấp.
Không tự dùng thuốc hoạt huyết khi đang dùng thuốc chống đông.
Không ăn nhiều dầu mỡ để thử phản ứng của túi mật.
Không cạo gió, bấm huyệt hoặc chườm nóng khi đau bụng dữ dội, sốt hoặc vàng da.
Không trì hoãn phẫu thuật hoặc can thiệp khi đã có biến chứng.
Không dùng rượu thuốc để thông mật.
Không tự ngừng thuốc Tâm mạch.
Không xem nhẹ nhịp chậm, ngất hoặc hồi hộp kèm đau bụng.
Chú ý
Hội chứng mật – tim có thể biểu hiện rất giống đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim. Khi có đau ngực dữ dội, đau kéo dài, đau lan vai, tay, lưng, cổ, hàm hoặc thượng vị, kèm khó thở, vã mồ hôi, buồn nôn, choáng, ngất, sắc mặt tái xám hoặc Tâm đập loạn, cần gọi cấp cứu ngay.
Khi đau hạ sườn phải hoặc thượng vị dữ dội kèm sốt, rét run, vàng da, nước tiểu sẫm, lơ mơ hoặc tụt huyết áp, cần nghĩ đến viêm túi mật, viêm đường mật hoặc tắc mật nặng và đi bệnh viện khẩn cấp.
Không dùng thuốc thang, thuốc bài sỏi, châm cứu, bấm huyệt, cạo gió hoặc dược thiện để trì hoãn việc chẩn đoán.
Kết luận
Hội chứng mật – tim là tình trạng bệnh túi mật hoặc đường mật gây ra những triệu chứng giống bệnh Tâm, như đau ngực, tức vùng trước Tâm, hồi hộp, nhịp Tâm chậm, rối loạn nhịp hoặc biến đổi điện tâm đồ.
Nguyên nhân thường liên quan đến sỏi túi mật, viêm túi mật, cơn đau quặn mật, sỏi ống mật chủ, viêm đường mật hoặc rối loạn vận động đường mật.
Cơ chế có thể liên quan đến phản xạ thần kinh nội tạng, đặc biệt là phản xạ phế vị, cảm giác đau lan, tình trạng viêm, mất nước và rối loạn điện giải.
Trong Trung y, bệnh thuộc phạm vi Đởm thống, Hiếp thống, Hung tý, Tâm thống, Tâm quý và Đởm Vị bất hòa. Bệnh cơ thường là Can Đởm khí trệ, Can Đởm thấp nhiệt, Đàm nhiệt nhiễu Tâm, Đởm Vị bất hòa, khí trệ huyết ứ hoặc Tỳ hư đàm thấp.
Can Đởm khí trệ thì sơ Can lợi Đởm; thấp nhiệt thì thanh nhiệt lợi thấp; Đởm Vị bất hòa thì hòa Vị giáng nghịch; đàm nhiệt thì thanh nhiệt hóa đàm; khí trệ huyết ứ thì lý khí hoạt huyết; Tỳ hư đàm thấp thì kiện Tỳ hóa thấp.
Tuy nhiên, vì bệnh rất dễ nhầm với hội chứng vành cấp, nguyên tắc an toàn là phải loại trừ nhồi máu cơ tim khi có triệu chứng vùng ngực. Khi có sốt, vàng da hoặc đau bụng dữ dội, cần loại trừ viêm túi mật, viêm đường mật, tắc mật và viêm tụy.
Trung y có thể hỗ trợ điều hòa Can Đởm, Tỳ Vị, khí cơ và giấc ngủ trong giai đoạn ổn định, nhưng không thay thế cấp cứu, kháng sinh, nội soi đường mật hoặc phẫu thuật khi có chỉ định.
Nói tóm lại, khi bệnh mật biểu hiện giống bệnh Tâm, điều quan trọng không phải vội xác định triệu chứng thuộc bên nào, mà là kiểm tra đầy đủ cả Tâm mạch và gan mật để không bỏ sót tình trạng nguy hiểm.
Trường Xuân Đường biên soạn và tổng hợp