Phế khí thũng là tình trạng các cấu trúc nằm phía xa tiểu phế quản tận cùng, gồm tiểu phế quản hô hấp, ống phế nang, túi phế nang và phế nang, bị giãn rộng kéo dài. Khi vách phế nang bị tổn thương, tính đàn hồi của phổi giảm, khí khó thoát ra ngoài và lượng khí tồn lưu trong phổi tăng lên.
Nói một cách dễ hiểu, phổi giống như bị căng phồng bởi lượng khí không được thải hết. Khi bệnh tiến triển, khả năng trao đổi oxy suy giảm, khiến trẻ dễ khó thở khi vận động, sau đó có thể khó thở ngay cả khi nghỉ ngơi.
Phế khí thũng thực sự ở trẻ em ít gặp hơn người lớn. Khi trẻ có biểu hiện khí giữ trong phổi, cần tìm nguyên nhân như dị vật đường thở, hen phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi, tổn thương phế quản mạn tính hoặc bệnh bẩm sinh.
Theo Trung y, những biểu hiện ho, suyễn, ngực đầy trướng, đàm nhiều và khí nghịch kéo dài có thể thuộc phạm vi chứng Phế trướng 肺胀.
I. PHÂN LOẠI PHẾ KHÍ THŨNG Ở TRẺ EM
Đây là tình trạng phần phổi còn lành giãn ra để bù đắp cho vùng phổi bị giảm thể tích hoặc mất chức năng.
Có thể gặp trong các tình trạng như:
Viêm phổi.
Xẹp phổi.
Tràn khí màng phổi.
Tràn dịch hoặc mủ màng phổi.
Tổn thương khu trú làm một phần phổi co nhỏ.
Trong loại này, phế nang chủ yếu giãn do bù trừ, chưa nhất thiết có phá hủy vách phế nang hoặc tắc nghẽn đường thở kéo dài. Khi nguyên nhân được điều trị, tình trạng giãn bù có thể giảm.
Loại này hình thành khi phế quản hoặc tiểu phế quản bị hẹp một phần, tạo cơ chế giống van một chiều.
Khi trẻ hít vào, không khí vẫn đi qua chỗ hẹp để vào phổi. Khi thở ra, đường thở nhỏ lại, khí không thoát hết ra ngoài và bị giữ lại trong phế nang. Tình trạng này kéo dài làm phế nang căng quá mức, vách phế nang có thể bị tổn thương và các khoang khí hợp lại.
Nguyên nhân thường gặp gồm:
Dị vật đường thở.
Hen phế quản.
Viêm tiểu phế quản.
Viêm phế quản kéo dài.
Viêm phổi.
Ho gà.
Tổn thương lao tại phế quản.
Các bệnh làm hẹp hoặc bít tắc đường thở nhỏ.
II. VÌ SAO TRẺ BỊ KHÓ THỞ?
Khi đường thở bị hẹp, sức cản tăng lên, không khí ra vào phổi khó khăn. Trong thì thở ra, các đường thở nhỏ càng dễ xẹp, khiến khí bị giữ lại.
Đồng thời, nếu nhiều vách phế nang bị tổn thương, diện tích trao đổi oxy giảm. Máu đi qua phổi không được nhận đủ oxy, làm trẻ cảm thấy thiếu hơi.
Giai đoạn nhẹ, khó thở chỉ xuất hiện khi chạy, leo cầu thang hoặc vận động mạnh.
Khi bệnh nặng hơn, trẻ có thể khó thở khi đi bộ hoặc thực hiện hoạt động thông thường.
Trong đợt nhiễm trùng hô hấp, dịch tiết phế quản tăng, đường thở càng hẹp, làm ho, khò khè, tức ngực và khó thở tăng rõ.
III. BIỂU HIỆN THƯỜNG GẶP
Khó thở khi vận động.
Thở ra kéo dài.
Thở ngắn, cảm giác không đủ hơi.
Ho kéo dài.
Khò khè hoặc có tiếng rít khi thở.
Khạc đàm hoặc trong cổ có tiếng đàm.
Tức ngực.
Dễ mệt.
Lồng ngực có thể căng hơn bình thường khi bệnh kéo dài.
Trường hợp nặng có thể tím quanh môi, co kéo lồng ngực, không thể nói thành câu, lơ mơ hoặc buồn ngủ bất thường.
Nếu bệnh phát sinh do dị vật, trẻ thường có tiền sử đang ăn hoặc chơi thì đột ngột ho sặc dữ dội, khó thở hoặc khò khè một bên phổi.
IV. PHẾ KHÍ THŨNG VÀ CHỨNG PHẾ TRƯỚNG
Theo Trung y, Phế trướng là chứng bệnh lấy ho, suyễn, khí nghịch và ngực đầy trướng làm biểu hiện chính. Bệnh hình thành khi ho suyễn kéo dài làm Phế khí suy yếu, khí đạo không thông, đàm ẩm tích lại và khí bị uất trong lồng ngực.
Biểu hiện thường gặp gồm:
Ho suyễn kéo dài.
Hơi thở ngắn.
Ngực đầy trướng.
Đàm dãi tích tụ.
Vận động thì suyễn tăng.
Nặng có thể môi tím, mặt phù, mắt lồi hoặc không thể nằm bằng.
Ở trẻ em, Phế trướng ít gặp hơn người lớn vì trẻ chưa trải qua quá trình bệnh Phế kéo dài nhiều năm. Tuy nhiên, bệnh vẫn có thể hình thành sau hen nặng tái phát, viêm phổi kéo dài, ho gà, dị vật đường thở hoặc tổn thương phế quản mạn tính.
V. NGUYÊN NHÂN THEO TRUNG Y
Phong hàn hoặc phong nhiệt xâm nhập Phế, làm Phế mất tuyên phát và túc giáng. Nếu trẻ vốn có đàm bên trong, ngoại tà làm khí đạo càng bế tắc, ho và suyễn tăng.
Tỳ của trẻ còn yếu. Ăn uống không điều độ, thức ăn béo ngọt hoặc bệnh kéo dài có thể làm Tỳ mất vận hóa, thủy thấp tụ lại thành đàm.
Đàm dâng lên Phế, làm đường khí bị cản trở, gây ho, suyễn và ngực trướng.
Ho suyễn kéo dài làm Phế khí hao tổn. Phế không thể tuyên thông khí, khiến khí trệ trong ngực, tiếng nói nhỏ, hơi thở ngắn và vận động thì khó thở.
Phế chủ khí, Thận chủ nạp khí. Bệnh kéo dài từ Phế ảnh hưởng đến Thận, khí không thể quy căn, làm trẻ thở ra nhiều, hít vào ít và suyễn tăng khi vận động.
Khí trệ lâu ngày làm huyết vận hành không thông. Khi đó có thể xuất hiện môi lưỡi tím, sắc mặt tối, đau tức ngực và đầu ngón tay tím.
VI. BỆNH CƠ
Bệnh cơ trung tâm của Phế trướng là:
Phế mất tuyên giáng.
Khí đạo bế tắc.
Đàm ẩm tích tụ.
Khí nghịch không giáng.
Bệnh kéo dài làm Phế, Tỳ và Thận cùng hư.
Do đó, Phế trướng thường thuộc bản hư tiêu thực: Phế Tỳ Thận hư là gốc; ngoại tà, đàm, nhiệt, khí trệ và ứ huyết là ngọn.
VII. TRỌNG ĐIỂM BIỆN CHỨNG
Trước hết cần phân biệt hư và thực.
Thực chứng: Ho suyễn tương đối mạnh, đàm nhiều, tiếng thở lớn, ngực đầy rõ, mạch có lực; thường liên quan đến ngoại tà, đàm hàn hoặc đàm nhiệt.
Hư chứng: Hơi thở yếu, tiếng nói nhỏ, vận động thì suyễn tăng, tự ra mồ hôi, sắc mặt nhợt, mạch vô lực; thường liên quan đến Phế Tỳ khí hư hoặc Phế Thận khí hư.
Cũng cần phân biệt hàn và nhiệt.
Hàn: Đàm trắng loãng, sợ lạnh, tay chân lạnh, không khát, lưỡi nhạt, rêu trắng.
Nhiệt: Đàm vàng đặc, miệng khát, mặt đỏ, tiểu vàng, đại tiện táo, lưỡi đỏ, rêu vàng.
VIII. NGOẠI CẢM PHONG HÀN, PHẾ KHÍ BẾ TẮC
Triệu chứng
Ho suyễn, thở ngắn, trong họng có tiếng đàm, đàm trắng loãng có bọt, nghẹt mũi, chảy nước mũi trong, sợ lạnh, sốt nhẹ, không ra mồ hôi, lưỡi nhạt đỏ, rêu trắng mỏng, mạch phù khẩn.
Bệnh cơ
Phế vốn có hàn đàm hoặc khí hư, lại cảm phong hàn, làm Phế khí bị bó buộc và đường khí không thông.
Phép trị
Tán phong hàn, tuyên Phế, hóa đàm.
Phương thang
Phương ích khí giải biểu theo tài liệu
Thành phần: Ma hoàng 3 g, Ngũ vị tử 6 g, Đương quy 8 g, Can khương 3 g, Tử uyển 8 g, Tế tân 2 g, Đại táo 9 quả, Cam thảo 3 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Phương có Ma hoàng và Tế tân, không nên tự sử dụng cho trẻ. Liều phải được điều chỉnh theo tuổi, cân nặng, nhịp tim và tình trạng hô hấp.
IX. PHONG HÀN HÓA NHIỆT
Triệu chứng
Ho suyễn, ngực đầy, sốt, đàm bắt đầu vàng hoặc đặc hơn, miệng khát, đại tiện có thể táo, lưỡi đỏ, rêu hơi vàng.
Bệnh cơ
Phong hàn uất lâu hóa nhiệt, ngoại tà chưa giải, đàm nhiệt đã hình thành trong Phế.
Phép trị
Tuyên Phế giải biểu, thanh nhiệt hóa đàm.
Phương thang
Tài liệu nêu Hoa cái tán gia Bối mẫu, Qua lâu và Hoàng cầm.
Hoa cái tán thường gồm: Ma hoàng, Tử tô tử, Hạnh nhân, Tang bạch bì, Xích phục linh, Trần bì và Cam thảo.
Gia giảm theo tài liệu: Bối mẫu 8 g, Qua lâu 10 g, Hoàng cầm 8 g.
Phương chỉ dùng khi vừa có biểu hàn vừa có đàm nhiệt; không tự áp dụng cho trẻ đang sốt cao hoặc khó thở nặng.
X. PHONG NHIỆT PHẠM PHẾ
Triệu chứng
Sốt rõ, không sợ lạnh hoặc sợ lạnh nhẹ, có mồ hôi, hơi thở thô nóng, nước mũi đục, ho suyễn, đàm vàng, miệng khát, phiền táo, đại tiện táo, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch phù sác.
Bệnh cơ
Phong nhiệt phạm Phế, Phế mất thanh túc, nhiệt nung tân dịch thành đàm, khí đạo bị bế tắc.
Phép trị
Tân lương tuyên Phế, thanh nhiệt hóa đàm.
Phương thang
Phương thanh Phế tuyên thông theo tài liệu
Thành phần: Ma hoàng 4 g, Liên kiều 10 g, Qua lâu 10 g, Ngưu bàng tử 15 g, Hạnh nhân 6 g, Sinh thạch cao 12 g, Cam thảo 3 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Phương có Ma hoàng, Sinh thạch cao và Ngưu bàng tử liều tương đối lớn, cần được thầy thuốc kê theo tuổi và thể trạng.
XI. PHẾ NHIỆT, ĐÀM NHIỆT
Triệu chứng
Ho nghịch, thở ngắn, ngực đầy, đàm vàng dính, tiểu vàng ít, đại tiện táo, lưỡi đỏ, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Phế nhiệt kéo dài làm hao tổn tân dịch và Phế khí. Nhiệt luyện tân dịch thành đàm, đàm nhiệt bế tắc đường khí và làm Phế khí uất trệ.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa đàm, tuyên Phế bình suyễn.
Phương thang
Phương thanh nhiệt hóa đàm theo tài liệu
Thành phần: Vi hành 15 g, Đào nhân 12 g, Đông qua nhân 12 g, Ý dĩ nhân 10 g, Qua lâu 15 g, Hoàng cầm 12 g, Chiết bối mẫu 15 g, Cát cánh 12 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Vi hành thường chỉ thân non của cây lau, có công dụng thanh Phế, bài nùng. Đào nhân có tác dụng hoạt huyết, không tự dùng khi trẻ đang ho ra máu, giảm tiểu cầu hoặc có rối loạn đông máu.
XII. PHẾ TỲ KHÍ HƯ
Triệu chứng
Hơi thở ngắn, ho yếu, đàm trong họng, thở khò khè, ăn kém, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch hư hoặc sác vô lực.
Nặng có thể thở gấp, môi tím và cơ thể mệt mỏi rõ.
Bệnh cơ
Phế khí hư không chủ được hô hấp; Tỳ khí hư không vận hóa được thủy thấp, khiến đàm tiếp tục sinh ra.
Phép trị
Ích khí kiện Tỳ, tuyên Phế hóa đàm.
Phương thang
Phương bổ khí theo tài liệu
Thành phần: Hoàng kỳ 15 g, Nhân sâm 6 g, Cam thảo 6 g, Nhục quế 4 g, Sinh khương 4 lát.
Phương này thiên về ôn bổ, chỉ thích hợp khi có khí hư và hàn rõ. Không dùng khi trẻ sốt, đàm vàng, họng đỏ hoặc táo bón.
Trường hợp khí hư nhiều đàm, tài liệu nêu phương gồm: Bối mẫu 8 g, Bán hạ 8 g, Ma hoàng 6 g, Khoản đông hoa 8 g, Cam thảo 4 g, Hạnh nhân 8 g, Sinh khương 4 lát.
Phương có Ma hoàng, Bán hạ và Hạnh nhân, không tự sắc cho trẻ khi chưa được thầy thuốc khám.
XIII. PHẾ THẬN KHÍ HƯ
Triệu chứng
Ho và suyễn kéo dài, hơi thở lạnh, ngắn yếu, hoạt động thì hồi hộp và khó thở tăng, sợ lạnh, tự ra mồ hôi, sắc mặt nhợt, tay chân không ấm, tiểu trong dài hoặc tiểu són, đại tiện có thức ăn chưa tiêu, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế.
Bệnh cơ
Phế khí hư không tuyên giáng; Thận khí hư không nạp khí. Khí không quy căn nên hoạt động nhẹ cũng gây suyễn.
Phép trị
Bổ Phế ích Thận, nạp khí bình suyễn.
Phương thang
Phương bổ Phế nạp khí theo tài liệu
Thành phần: Nhân sâm 6 g, Hồ đào nhân 9 g, Hoàng kỳ 10 g, Bạch truật 8 g, Trần bì 9 g, Ngũ vị tử 8 g, Nhục quế 8 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Nhục quế 8 g là liều tương đối cao đối với trẻ em. Không áp dụng nguyên liều trong tài liệu mà phải được điều chỉnh theo tuổi và biểu hiện hàn nhiệt.
XIV. ĐIỀU TRỊ THEO NGUYÊN NHÂN
Khi trẻ đột ngột ho sặc, khò khè hoặc khó thở sau khi ăn hoặc chơi đồ vật nhỏ, cần nghĩ đến dị vật.
Thuốc sắc không thể lấy dị vật ra khỏi đường thở. Trẻ cần được khám cấp cứu và nội soi lấy dị vật khi có chỉ định.
Cần dùng thuốc giãn phế quản, thuốc kiểm soát viêm đường thở và kế hoạch điều trị hen theo hướng dẫn y tế.
Không dùng Trung y thay cho thuốc cắt cơn khi trẻ đang lên cơn hen.
Kháng sinh chỉ có tác dụng khi có nhiễm khuẩn phù hợp và phải do bác sĩ chỉ định.
Không tự dùng kháng sinh khi chỉ có ho, khò khè hoặc đàm.
Trẻ tím môi, co kéo lồng ngực, lơ mơ hoặc độ bão hòa oxy thấp cần được thở oxy và đánh giá tại bệnh viện.
XV. ĐIỀU DƯỠNG VÀ PHỤC HỒI
Không hút thuốc trong nhà.
Tránh khói bếp, hương, thuốc xịt và mùi hóa chất.
Giữ phòng thông thoáng.
Giữ ấm phù hợp khi trời lạnh.
Rửa tay thường xuyên.
Hạn chế tiếp xúc với người đang mắc bệnh hô hấp.
Tiêm chủng theo chương trình và hướng dẫn của bác sĩ.
Khi bệnh ổn định, cho trẻ vận động nhẹ và tăng dần theo sức.
Không bắt trẻ chạy hoặc tập quá sức khi đang khó thở.
Ngừng vận động nếu xuất hiện tím môi, chóng mặt, đau ngực hoặc khó thở tăng.
Trẻ lớn có thể tập thở chúm môi: Hít vào nhẹ qua mũi, sau đó chúm môi thở ra từ từ, thời gian thở ra dài hơn hít vào.
Không tập khi trẻ đang khó thở cấp hoặc không thể phối hợp.
Ăn đủ chất, chia thành nhiều bữa nhỏ.
Không ép ăn khi trẻ đang thở nhanh vì dễ gây sặc.
Giảm thức ăn quá béo, quá ngọt khi trẻ nhiều đàm và Tỳ hư.
Hạn chế thức ăn lạnh sống khi đàm trắng loãng, sợ lạnh và đại tiện lỏng.
XVI. MỘT SỐ MÓN ĂN HỖ TRỢ TƯƠNG ĐỐI AN TOÀN
Thành phần: Bột Bách hợp 20 g, gạo nếp hoặc gạo tẻ 50 g, đường phèn lượng vừa phải.
Cách làm: Nấu gạo thành cháo, cho Bách hợp vào nấu tiếp đến khi mềm.
Phù hợp hơn với trẻ ho khan, họng khô, Phế âm bất túc.
Không thích hợp khi trẻ đàm trắng loãng, bụng lạnh và tiêu chảy.
Thành phần theo tài liệu: Lai phục tử 15 g, gạo tẻ 100 g.
Cách làm: Lai phục tử sắc lấy nước, bỏ bã, dùng nước thuốc nấu cháo.
Công dụng hỗ trợ: Hành khí, hóa đàm, tiêu thực.
Không dùng khi trẻ khí hư rõ, ăn ít, đại tiện lỏng và không có thực tích.
Thành phần theo tài liệu: Bột Xuyên bối mẫu 10 g, gạo tẻ 50 g, đường phèn lượng vừa phải.
Cách làm: Nấu cháo gần chín, cho bột Xuyên bối vào, đun nhỏ lửa thêm một thời gian ngắn.
Liều Xuyên bối 10 g có thể cao với trẻ nhỏ, cần giảm theo tuổi và được người có chuyên môn hướng dẫn.
Thành phần theo tài liệu: Hạnh nhân 6 g, lê 1 quả.
Cách làm: Khoét lõi lê, cho hạnh nhân ngọt đã giã vào trong, hấp chín.
Chỉ sử dụng hạnh nhân ngọt đã được xác định đúng loại. Không tự dùng khổ hạnh nhân hoặc Bắc hạnh vì có nguy cơ gây ngộ độc cyanid.
Quả sung chín có thể nấu hoặc nghiền lấy nước, dùng lượng vừa phải.
Đây chỉ là thức ăn hỗ trợ, không có tác dụng điều trị tổn thương phế nang hoặc thay thế thuốc hô hấp.
XVII. NHỮNG PHƯƠNG TRONG TÀI LIỆU KHÔNG NÊN ÁP DỤNG
Không dùng thiềm thừ nướng với trứng gà. Thiềm thừ có độc tố mạnh, có thể gây rối loạn nhịp tim, co giật và tử vong.
Không dùng thai dê làm thức ăn chữa bệnh vì không bảo đảm vệ sinh, an toàn sinh học và không có căn cứ điều trị.
Không tự dùng khổ hạnh nhân hoặc Bạch quả với lượng lớn vì có nguy cơ gây ngộ độc.
Không tự dùng Tử hà xa hoặc các chế phẩm từ nhau thai.
Không dùng Ngũ vị tử ngâm trứng với rượu cho trẻ em.
Không sử dụng các viên thuốc chế từ cành cây không rõ loài, liều lượng và quy trình sản xuất.
Không xem các món ăn như thuốc điều trị phế khí thũng thực sự.
XVIII. BIẾN CHỨNG CẦN LƯU Ý
Bóng khí phổi có thể vỡ, làm không khí tràn vào khoang màng phổi.
Biểu hiện: Đau ngực đột ngột, khó thở tăng nhanh, một bên ngực ít di động.
Đây là tình trạng cấp cứu.
Khi trao đổi khí suy giảm nghiêm trọng, trẻ có thể thiếu oxy và tăng carbon dioxide trong máu.
Biểu hiện: Tím môi, thở mệt, lơ mơ, đau đầu, buồn ngủ, nói không rõ hoặc co giật.
Tăng áp lực động mạch phổi kéo dài có thể làm tim phải phải làm việc nhiều hơn, gây phù, gan to hoặc suy tim phải.
XIX. DẤU HIỆU CẦN ĐƯA TRẺ ĐI CẤP CỨU
Đột ngột ho sặc và khó thở sau khi ăn hoặc chơi đồ vật nhỏ.
Tím môi hoặc đầu ngón tay.
Co kéo lồng ngực.
Không thể nói hoặc bú uống vì khó thở.
Thở rất nhanh, thở không đều hoặc có cơn ngừng thở.
Đau ngực đột ngột.
Lơ mơ, buồn ngủ bất thường hoặc khó đánh thức.
Khò khè chỉ xuất hiện rõ ở một bên phổi.
Sốt cao kèm khó thở tăng.
Độ bão hòa oxy thấp hơn mức bác sĩ đã hướng dẫn.
Nói tóm lại, phế khí thũng ở trẻ em thường liên quan đến tắc nghẽn đường thở, dị vật, hen, viêm tiểu phế quản hoặc tổn thương phổi kéo dài. Theo Trung y, biểu hiện ho suyễn, ngực đầy và đàm khí bế tắc có thể thuộc chứng Phế trướng. Bệnh cơ chủ yếu là Phế mất tuyên giáng, đàm làm tắc khí đạo, Phế Tỳ khí hư và lâu ngày Thận không nạp khí. Điều trị cần trước hết xác định và loại bỏ nguyên nhân gây tắc nghẽn; Trung y và thực dưỡng chỉ đóng vai trò hỗ trợ theo từng thể bệnh. Khi trẻ có tím tái, đau ngực đột ngột, khó thở tăng hoặc lơ mơ, cần đưa đi cấp cứu ngay.
Trường Xuân biên soạn