Phế nuy 肺痿 là chứng bệnh hình thành khi Phế bị tổn thương lâu ngày, Phế khí suy yếu, tân dịch hao tổn, khiến công năng tuyên phát và túc giáng giảm sút. Biểu hiện thường gặp là ho kéo dài, thở ngắn, khạc đàm dãi đục hoặc bọt dãi, cơ thể gầy yếu và bệnh diễn tiến dai dẳng.
Chữ “nuy” 痿 mang ý nghĩa mềm yếu, khô héo, mất khả năng hoạt động bình thường. Hình tượng này được dùng để mô tả tình trạng Phế mất sự nhu dưỡng, khí âm suy tổn, công năng hô hấp ngày càng yếu.
Tài liệu liên hệ Phế nuy với xẹp phổi, nhưng hai khái niệm không hoàn toàn tương đương. Xẹp phổi là tình trạng một phần hoặc toàn bộ phổi bị giảm thể tích và mất khí do tắc nghẽn, chèn ép hoặc nguyên nhân khác; còn Phế nuy là chứng danh Trung y được xác định qua toàn bộ bệnh sử, triệu chứng, lưỡi và mạch.
I. NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH PHẾ NUY Ở TRẺ EM
Các bệnh như ho lâu ngày, hen suyễn, lao phổi, Phế ung hoặc nhiễm trùng phổi kéo dài đều có thể làm tổn thương Phế khí và Phế âm.
Bệnh càng kéo dài, Phế càng mất khả năng tuyên phát, túc giáng và phân bố tân dịch, từ đó hình thành ho, thở ngắn và đàm dãi kéo dài.
Trẻ mắc bệnh sốt cao, ôn bệnh hoặc nhiễm trùng kéo dài có thể bị nhiệt tà nung đốt Phế tân.
Tân dịch hao tổn, Phế mất sự nhu dưỡng, dần trở nên khô táo và suy yếu, hình thành Phế nuy hư nhiệt.
Ra nhiều mồ hôi, nôn kéo dài hoặc tiêu chảy nặng đều có thể làm hao tổn tân dịch.
Vị âm không đủ để đưa tân dịch lên nuôi dưỡng Phế, khiến Phế táo, ho khan, đàm dính và cơ thể gầy yếu.
Trẻ sinh non, nhẹ cân, thể chất yếu hoặc thường xuyên mắc bệnh có thể có Phế Tỳ khí hư từ nhỏ.
Nếu bệnh tà lưu lại lâu ngày, dương khí suy yếu, thủy dịch không được vận hóa, Phế trở nên hư hàn và khạc nhiều đàm dãi trong loãng.
Tỳ là nguồn sinh hóa khí huyết và là nơi vận hóa thủy thấp. Tỳ hư khiến nguồn khí huyết nuôi Phế không đầy đủ, đồng thời thủy thấp tụ thành đàm.
Vì vậy, Phế nuy ở trẻ em tuy bệnh vị chủ yếu tại Phế nhưng thường có quan hệ mật thiết với Tỳ.
II. BỆNH CƠ
Phế nuy tuy có biểu hiện hàn nhiệt khác nhau nhưng đều thuộc hư chứng. Bệnh cơ chủ yếu gồm hai thể:
Phế âm hư, táo nhiệt ở trong.
Phế khí hư hàn, tân dịch không được vận hóa.
Nhiệt tà hoặc bệnh kéo dài làm hao tổn Phế âm. Phế mất tư nhuận nên ho, đàm dính, họng khô và khát nước.
Hư nhiệt nung đốt Phế lạc có thể khiến đàm lẫn tia máu. Âm dịch không đủ nuôi dưỡng cơ nhục và da lông nên trẻ gầy, da tóc khô và sắc mặt kém tươi.
Phế khí suy yếu, dương khí không đủ để vận hóa tân dịch. Tân dịch đình lại thành đàm dãi trong loãng, lượng nhiều.
Phế khí hư không thể điều tiết thủy đạo và nhiếp giữ phía dưới nên trẻ có thể tiểu nhiều hoặc đái dầm.
Bệnh kéo dài làm Phế Tỳ cùng hư, nguồn sinh hóa khí huyết ngày càng giảm. Trẻ gầy yếu, da tóc khô, sắc mặt nhợt, ăn ít, tiêu chảy, hồi hộp và vận động thì khó thở.
Giai đoạn này thường kiêm cả âm dương suy tổn, thuộc tình trạng tương đối nặng.
III. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
Triệu chứng chính gồm:
Ho kéo dài hoặc ho nhẹ dai dẳng.
Thở ngắn, hụt hơi.
Khạc đàm dãi đục hoặc bọt dãi.
Bệnh khởi phát chậm và kéo dài.
Cơ thể gầy yếu.
Hoạt động thì khó thở tăng.
Trẻ thể hư nhiệt thường đàm dính đặc, miệng họng khô và khát.
Trẻ thể hư hàn thường khạc nhiều đàm dãi trong loãng, không khát, sợ lạnh và có thể không ho rõ.
IV. CHẨN ĐOÁN
Theo Trung y, chẩn đoán Phế nuy cần căn cứ:
Tiền sử bệnh Phế kéo dài.
Ho hoặc khạc đàm dãi dai dẳng.
Thở ngắn, cơ thể suy yếu.
Đặc điểm đàm dãi.
Tình trạng khát nước.
Sắc lưỡi, rêu lưỡi và mạch tượng.
Không nên chỉ căn cứ một biểu hiện như khạc đàm hoặc hình ảnh xẹp phổi để kết luận là Phế nuy.
Trẻ có khó thở, đau ngực, sốt kéo dài hoặc nghi xẹp phổi cần được khám chuyên khoa và làm các kiểm tra phù hợp.
V. PHÂN BIỆT PHẾ NUY VÀ PHẾ UNG
Phế nuy và Phế ung đều có thể biểu hiện bằng ho, khạc đàm đục hoặc đàm lẫn máu, nhưng tính chất bệnh khác nhau.
Phế ung
Phần nhiều thuộc thực chứng.
Do nhiệt độc và huyết ứ kết lại trong Phế.
Khởi phát tương đối cấp.
Thường sốt, đau ngực, ho dữ dội.
Khạc đàm mủ lẫn máu, có mùi hôi tanh.
Điều trị lấy thanh nhiệt giải độc, hóa ứ và bài nùng làm chính.
Phế nuy
Thuộc hư chứng.
Do Phế khí, Phế âm hoặc cả khí huyết bị tổn thương lâu ngày.
Khởi phát từ từ, bệnh trình kéo dài.
Ho thường nhẹ hơn, thở ngắn và người gầy yếu.
Đàm dính hoặc đàm dãi trong loãng nhưng thường không có mùi hôi rõ.
Điều trị lấy dưỡng âm nhuận Phế hoặc ôn Phế ích khí làm chính.
Trẻ sốt cao, đau ngực, khạc đàm mủ hôi hoặc đàm lẫn máu cần được khám sớm để loại trừ áp xe phổi và nhiễm trùng nặng.
VI. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
Phế nuy là bệnh nội thương mạn tính, cần điều trị từ từ, không nên công phạt mạnh hoặc mong đạt hiệu quả tức thời.
Nguyên tắc chung gồm:
Hư nhiệt thì sinh tân, dưỡng âm và nhuận Phế.
Hư hàn thì ôn Phế, ích khí và kiện Tỳ.
Khí huyết cùng suy thì bổ khí dưỡng huyết, kiện Tỳ hòa Vị.
Kiêm đàm thì hóa đàm vừa phải nhưng không làm hao tổn tân dịch.
Kiêm Thận hư thì bổ Thận nạp khí tùy chứng.
Điều trị cần chú ý Phế và Tỳ. Phế được nuôi dưỡng thì ho và thở ngắn giảm; Tỳ vận hóa tốt thì khí huyết có nguồn sinh và đàm dãi giảm dần.
VII. THỂ HƯ NHIỆT
Ho, thở ngắn, khạc đàm dãi đục dính, chất đàm đặc, khó khạc; miệng họng khô, khát nước, hình thể gầy, da tóc khô, lưỡi đỏ khô, mạch hư sác.
Có thể kèm sốt nhẹ về chiều, ra mồ hôi trộm hoặc đàm lẫn tia máu.
Nhiệt tà và bệnh kéo dài làm hao tổn Phế âm. Phế mất tân dịch nhu dưỡng nên khô táo và không thể thanh túc.
Hư nhiệt nung tân dịch thành đàm dính, đồng thời làm Phế lạc dễ bị tổn thương.
Sinh tân nhuận Phế, dưỡng âm thanh hư nhiệt.
Mạch môn đông thang gia giảm
Thành phần thường dùng: Mạch môn, Bán hạ, Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Cam thảo, Canh mễ, Đại táo.
Công dụng: Dưỡng Vị sinh tân, giáng nghịch, nhuận Phế.
Phương phù hợp hơn khi ho nghịch, họng khô, đàm dính và khí âm cùng tổn thương.
Sa sâm Mạch môn thang gia giảm
Thành phần thường dùng: Sa sâm, Mạch môn, Ngọc trúc, Thiên hoa phấn, Tang diệp, Bạch biển đậu, Cam thảo.
Công dụng: Dưỡng âm, thanh Phế, sinh tân.
Phù hợp khi Phế Vị âm hư, ho khan hoặc ít đàm, miệng họng khô.
VIII. THỂ HƯ HÀN
Khạc nhiều đàm dãi trong loãng, có bọt, không khát, ho nhẹ hoặc không ho rõ, hoa mắt, thở ngắn, sợ lạnh, tinh thần mệt, ăn ít, tiểu nhiều hoặc đái dầm, lưỡi nhạt béo có dấu răng, rêu trắng, mạch trầm nhược.
Phế khí hư hàn, dương khí không hóa được tân dịch, khiến thủy thấp đình lại thành đàm dãi.
Phế khí không đủ để điều tiết thủy đạo nên tiểu tiện nhiều hoặc không tự chủ.
Tỳ khí hư làm nguồn sinh hóa khí huyết suy giảm, ăn uống kém và cơ thể mệt mỏi.
Ôn Phế ích khí, kiện Tỳ hóa ẩm.
Cam thảo Can khương thang gia giảm
Thành phần: Chích cam thảo, Can khương.
Công dụng: Ôn Phế ích khí, hóa đàm ẩm.
Phương chỉ phù hợp khi đàm trong loãng, không khát, lưỡi nhạt và có biểu hiện hàn rõ. Không dùng khi trẻ họng đỏ, sốt, đàm vàng hoặc lưỡi đỏ khô.
Lục quân tử thang gia giảm
Thành phần: Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo, Bán hạ, Trần bì.
Công dụng: Kiện Tỳ ích khí, táo thấp hóa đàm.
Phù hợp khi Tỳ khí hư rõ, ăn ít, đại tiện lỏng và nhiều đàm.
Tài liệu có nêu phương gồm Cam thảo, Can khương, Nhân sâm, Bạch truật, Đại táo và Phục linh. Phương này cũng thuộc phép ôn Phế kiện Tỳ, nhưng liều dùng phải được điều chỉnh theo tuổi và thể trạng.
IX. THỂ KHÍ HUYẾT HƯ SUY
Người gầy yếu, cơ nhục teo, sắc mặt xám nhợt, da tóc khô, môi móng nhợt, hồi hộp, thở ngắn, vận động thì thở dốc, sợ lạnh, tay chân lạnh, tinh thần chậm chạp, ăn ít, tiêu chảy, tiểu trong dài, lưỡi nhạt, mạch trầm nhược.
Bệnh Phế kéo dài làm Phế Tỳ cùng hư. Tỳ mất vận hóa, khí huyết không được sinh đầy đủ; Phế không được nuôi dưỡng, công năng hô hấp suy yếu.
Khí huyết cùng hư lâu ngày còn có thể liên lụy đến âm dương toàn thân.
Ích khí dưỡng huyết, kiện Tỳ hòa Vị, hỗ trợ Phế khí.
Bát trân thang gia giảm
Thành phần thường dùng: Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo, Đương quy, Bạch thược, Thục địa, Xuyên khung.
Có thể gia Trần bì và Sa nhân khi Tỳ Vị hư, ăn kém và bụng đầy.
Công dụng: Bổ khí dưỡng huyết, kiện Tỳ.
Không nên dùng phương bổ nặng khi trẻ còn sốt, nhiễm trùng hoạt động, đàm vàng đặc hoặc bụng trướng tiêu hóa kém.
Tử hà xa, nhung hươu và lộc giác trong tài liệu đã được lược bỏ vì không phù hợp để tự sử dụng cho trẻ, khó bảo đảm nguồn gốc và an toàn sinh học.
X. CHĂM SÓC VÀ PHỤC HỒI HÔ HẤP
Cần điều trị đầy đủ những bệnh có thể gây tổn thương Phế kéo dài như hen, lao phổi, viêm phổi, giãn phế quản, áp xe phổi hoặc xẹp phổi.
Không dùng thuốc Trung y thay cho việc lấy dị vật phế quản, dùng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn hoặc điều trị hen theo phác đồ.
Trẻ nằm lâu cần được đổi tư thế thường xuyên để tránh ứ đọng dịch tiết.
Khi có nhiều đàm, dẫn lưu tư thế và vỗ rung chỉ nên thực hiện theo hướng dẫn của nhân viên y tế, đặc biệt nếu trẻ có xẹp phổi hoặc giãn phế quản.
Trẻ lớn nên được hướng dẫn ho đúng cách để đưa đàm ra ngoài.
Không dùng thuốc ức chế ho mạnh khi trẻ đang nhiều đàm, vì có thể làm dịch tiết ứ lại trong đường thở.
Trẻ lớn, tình trạng ổn định có thể tập thở sâu nhẹ nhàng:
Ngồi hoặc đứng thẳng.
Hít vào chậm qua mũi.
Giữ trong thời gian rất ngắn nếu không khó chịu.
Chúm môi, thở ra từ từ.
Không yêu cầu trẻ nín thở lâu hoặc tập gắng sức.
Dừng tập nếu chóng mặt, đau ngực, tím môi hoặc khó thở tăng.
Có thể xoa nhẹ hai bên huyệt Đại trường-20 Nghênh hương và dọc hai bên sống mũi, mỗi lần một số vòng vừa phải.
Không xoa mạnh khi da viêm, chảy máu mũi hoặc trẻ khó chịu.
Có thể xoa bụng nhẹ theo chiều kim đồng hồ khi trẻ đầy bụng hoặc ăn uống kém.
Không xoa khi đau bụng chưa rõ nguyên nhân, nôn nhiều, bụng cứng hoặc nghi bệnh ngoại khoa.
Khi bệnh ổn định, cho trẻ đi bộ và vận động nhẹ, tăng dần theo sức.
Không tập khi đang sốt, khạc huyết, khó thở hoặc thiếu oxy.
XI. ĂN UỐNG
Ăn đủ chất, phối hợp thịt, cá, trứng, đậu, rau và quả theo khả năng tiêu hóa.
Chia thành nhiều bữa nhỏ khi trẻ nhanh mệt hoặc ăn ít.
Thức ăn nên mềm và dễ tiêu.
Thể hư nhiệt nên tránh thức ăn cay nóng, chiên nướng quá nhiều.
Thể hư hàn nên hạn chế thức ăn lạnh sống và nước đá.
Tỳ hư, nhiều đàm nên giảm thức ăn quá béo, ngọt và nhiều dầu mỡ.
Không tự dùng bột Nhân sâm, sữa ong chúa hoặc Linh chi kéo dài cho trẻ. Các sản phẩm này có thể không phù hợp với thể bệnh, gây dị ứng hoặc tương tác với thuốc.
XII. XẸP PHỔI Ở TRẺ EM
Xẹp phổi là tình trạng một phần mô phổi bị mất khí và giảm thể tích. Nguyên nhân có thể gồm:
Đàm đặc làm tắc phế quản.
Phù nề niêm mạc đường thở.
Hen phế quản.
Viêm phổi hoặc viêm tiểu phế quản.
Dị vật phế quản.
Hạch lao chèn ép phế quản.
Chèn ép từ ngoài phổi.
Bệnh thần kinh cơ hoặc sau phẫu thuật.
Triệu chứng đôi khi không rõ. Trẻ có thể ho, khó thở, đau ngực, tím tái hoặc chỉ được phát hiện qua hình ảnh phổi.
Điều trị phải nhằm vào nguyên nhân: làm thông đường thở, lấy dị vật, kiểm soát hen, điều trị nhiễm trùng, vật lý trị liệu hô hấp hoặc các biện pháp khác theo chỉ định.
Không thể chỉ dùng thuốc bổ Phế để làm vùng phổi xẹp nở trở lại nếu nguyên nhân tắc nghẽn chưa được giải quyết.
XIII. NHỮNG PHƯƠNG PHÁP KHÔNG NÊN TỰ ÁP DỤNG
Không dùng Anh túc xác để giảm ho cho trẻ.
Không tự dùng Phụ tử, Nhục quế liều cao hoặc thuốc đại nhiệt.
Không dùng Tử hà xa, nhung hươu hoặc các chế phẩm nguồn gốc động vật không rõ ràng.
Không tự cho trẻ dùng thuốc chứa codein hoặc opioid để ức chế ho.
Không tự cho trẻ thở oxy nếu chưa được hướng dẫn về lưu lượng và mục tiêu oxy.
Không tự thực hiện dẫn lưu tư thế mạnh khi trẻ đang ho ra máu, tràn khí màng phổi hoặc khó thở cấp.
Không dùng thuốc bổ kéo dài khi chưa xác định bệnh nền.
XIV. DẤU HIỆU CẦN ĐƯA TRẺ ĐI CẤP CỨU
Khó thở tăng nhanh.
Co kéo lồng ngực hoặc cánh mũi phập phồng.
Môi hoặc đầu ngón tay tím.
Không thể bú, ăn, uống hoặc nói vì khó thở.
Thở không đều hoặc có cơn ngừng thở.
Lơ mơ, khó đánh thức hoặc co giật.
Đau ngực đột ngột hoặc dữ dội.
Ho ra máu.
Sốt cao kéo dài kèm đàm mủ.
Đột ngột ho sặc sau khi ăn hoặc chơi vật nhỏ.
Độ bão hòa oxy thấp hơn mức bác sĩ đã hướng dẫn.
Nói tóm lại, Phế nuy ở trẻ em là chứng hư tổn mạn tính của Phế, thường hình thành sau bệnh Phế kéo dài hoặc sau khi khí âm và tân dịch bị hao tổn. Thể hư nhiệt lấy Phế âm bất túc làm chính, điều trị bằng dưỡng âm, sinh tân và nhuận Phế; thể hư hàn lấy Phế Tỳ khí hư, dương khí không hóa tân làm chính, điều trị bằng ôn Phế, ích khí và kiện Tỳ. Thể khí huyết hư suy cần bổ khí dưỡng huyết nhưng vẫn phải chú ý khả năng tiêu hóa của trẻ. Khi có xẹp phổi thực sự, điều quan trọng trước hết là xác định và giải quyết nguyên nhân gây tắc nghẽn hoặc chèn ép, không nên chỉ dựa vào thuốc Trung y.
Trường Xuân biên soạn