Bệnh xơ vữa động mạch tắc nghẽn do đái tháo đường là tình trạng thành động mạch hình thành các mảng xơ vữa, làm lòng mạch hẹp dần hoặc tắc nghẽn, khiến máu và oxy không thể đến đầy đủ các tổ chức ở phía dưới vị trí tổn thương. Khi bệnh xảy ra ở chi dưới, người bệnh có thể xuất hiện chân lạnh, da nhợt, mạch yếu, đau khi đi bộ, đau khi nghỉ, loét và hoại tử đầu chi.
Theo Trung y, bệnh thuộc phạm vi Mạch tý, Huyết tý và Thoát thư 脱疽. Bệnh thường phát sinh trên nền Tiêu khát lâu ngày, làm khí âm suy tổn, huyết hành không thông, đàm trọc và huyết ứ bế trở mạch lạc. Nếu ứ trệ kéo dài hóa nhiệt, thấp nhiệt và độc nhiệt kết lại thì có thể gây loét, hóa mủ và hoại tử đầu chi.
I. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Giai đoạn đầu, chi tổn thương thường lạnh, da nhợt, khô, ít tiết mồ hôi, bong vảy, lông thưa hoặc rụng, móng dày, cơ teo, mạch động mạch yếu; người bệnh đau hoặc mỏi bắp chân khi đi một quãng đường nhất định, phải dừng lại nghỉ mới có thể tiếp tục đi.
Khi bệnh tiến triển, khoảng cách đi bộ không đau ngày càng ngắn. Người bệnh có thể đau ở đầu ngón chân hoặc mu bàn chân ngay cả khi nghỉ, đau tăng về đêm và khi nằm, giảm phần nào khi ngồi thõng chân xuống.
Giai đoạn muộn, đầu ngón chân hoặc bàn chân xuất hiện loét, đổi màu tím đen, hoại tử, có thể kèm nhiễm trùng, hóa mủ và mùi hôi.
II. BỆNH CƠ THEO TRUNG Y
Tiêu khát kéo dài làm khí âm hao tổn. Khí hư không thúc đẩy được huyết hành, âm hư làm mạch lạc mất nhu dưỡng, lâu ngày huyết ứ hình thành.
Nếu Tỳ mất kiện vận, đàm thấp sinh ra, đàm trọc kết hợp huyết ứ làm mạch lạc càng bế tắc.
Nếu dương khí suy, hàn ngưng trong mạch thì chi lạnh, đau, tê và da nhợt.
Nếu ứ lâu hóa nhiệt, người bệnh chuyển sang đau bỏng rát, da đỏ tím, đau tăng về đêm.
Nếu thấp nhiệt và độc nhiệt kết lại, mô bị tổn thương, loét, hóa mủ và hoại tử.
III. THỂ MẠCH LẠC HÀN NGƯNG
Chủ chứng: Chi bị tổn thương lạnh, tê, nhức mỏi, da nhợt hoặc tím nhạt, đau tăng khi gặp lạnh, đi khập khiễng cách hồi, lưỡi tím nhạt, rêu trắng nhuận, mạch huyền khẩn hoặc trầm trì.
Bệnh cơ: Dương khí suy yếu, hàn ngưng trong mạch, khí huyết không thể lưu thông đến đầu chi.
Phép trị: Ôn kinh tán hàn, ích khí hoạt huyết, thông mạch chỉ thống.
Phương thang: Dương hòa thang gia giảm: Thục địa 30 g, Hoàng kỳ 30 g, Kê huyết đằng 30 g, Đảng sâm 15 g, Đương quy 15 g, Can khương 15 g, Xích thược 15 g, Hoài ngưu tất 15 g, Địa long 12 g, Ma hoàng 6 g; sắc uống, mỗi ngày một thang.
Chú ý: Không tự dùng Chế Xuyên ô, Xuyên thảo ô hoặc các vị ôn thông có độc. Chân lạnh do thiếu máu động mạch không được ngâm nước nóng hoặc chườm nóng vì người bệnh có thể giảm cảm giác và bị bỏng mà không nhận biết.
IV. THỂ MẠCH LẠC Ứ TRỆ
Chủ chứng: Chi bị tổn thương tê đau hoặc sưng đau, đau cố định, đi khập khiễng cách hồi, da sạm hoặc tím, không có biểu hiện sợ lạnh rõ, lưỡi tối hoặc có điểm ứ, rêu trắng mỏng, mạch huyền tế hoặc sáp.
Bệnh cơ: Khí hư không vận huyết, huyết ứ bế trở mạch lạc, chi thể không được khí huyết nuôi dưỡng.
Phép trị: Ích khí hoạt huyết, hóa ứ thông mạch.
Phương thang 1: Ích khí thông mạch thang: Sinh Hoàng kỳ 30 g, Đan sâm 30 g, Kê huyết đằng 30 g, Đương quy 15 g, Ngưu tất 15 g, Xích thược 15 g, Xuyên khung 10 g, Đào nhân 10 g, Hồng hoa 10 g, Địa long 10 g; sắc uống, mỗi ngày một thang.
Phương thang 2: Ích khí hoạt huyết thang: Đảng sâm 30 g, Hoàng kỳ 30 g, Quỷ tiễn vũ 30 g, Đương quy 15 g, Cát căn 15 g, Xuyên khung 10 g, Hồng hoa 10 g; sắc uống, mỗi ngày một thang.
Chú ý: Người đang sử dụng aspirin, clopidogrel, warfarin hoặc thuốc chống đông khác cần thận trọng với Đan sâm, Đào nhân, Hồng hoa và các vị hoạt huyết. Thuốc hoạt huyết không thể thay thế thủ thuật tái thông khi động mạch đã tắc nặng.
V. THỂ Ứ LÂU HÓA NHIỆT
Chủ chứng: Chi tổn thương đau rõ, đau tăng về đêm, thích mát sợ ấm, cảm giác nóng rát, da đỏ tím hoặc nhiệt độ da tăng, khoảng cách đi bộ ngày càng ngắn, miệng khô, lưỡi đỏ tối, rêu trắng hoặc vàng mỏng, mạch tế sác.
Bệnh cơ: Huyết ứ lưu lại lâu ngày hóa nhiệt, nhiệt làm tổn thương âm dịch và mạch lạc, khiến đau và thiếu máu đầu chi tăng nặng.
Phép trị: Tư âm thanh nhiệt, lương huyết hoạt huyết, thông lạc chỉ thống.
Phương thang 1: Huyền sâm 15 g, Nhẫn đông đằng 15 g, Đương quy 15 g, Xích thược 15 g, Ngưu tất 10 g, Trạch lan 10 g, Thạch hộc 10 g, Địa long 10 g, Hồng hoa 6 g, Chế Nhũ hương 6 g, Chế Một dược 6 g; sắc uống, mỗi ngày một thang.
Phương thang 2: Ngân hoa 30 g, Huyền sâm 30 g, Đương quy 15 g, Xích thược 15 g, Xuyên ngưu tất 15 g, Tử thảo 10 g, Cam thảo 10 g, Chế Nhũ hương 6 g, Chế Một dược 6 g; sắc uống, mỗi ngày một thang.
Chú ý: Đã lược bỏ Ngô công do có độc tính và không thích hợp để tự sử dụng. Chi đỏ, nóng và đau cũng có thể do nhiễm trùng hoặc thiếu máu chi nghiêm trọng, cần được kiểm tra mạch máu và đánh giá nhiễm trùng.
VI. THỂ ĐỘC NHIỆT
Chủ chứng: Chi tổn thương loét, sưng nóng đỏ đau, thịt thối hóa mủ, dịch tiết nhiều, có mùi hôi, hoại tử tại chỗ, nặng có thể loét sâu đến gân cơ, miệng khô khát, có thể sốt hoặc rét run, lưỡi đỏ sẫm, rêu vàng hoặc ít rêu, mạch tế sác.
Bệnh cơ: Huyết ứ và thấp nhiệt kết lại, uất lâu hóa độc, nhiệt độc làm tổn thương cơ nhục, cân mạch và đầu chi.
Phép trị: Thanh nhiệt lợi thấp, giải độc, hoạt huyết, tiêu thũng chỉ thống.
Phương thang 1: Giải độc hoạt huyết phương: Nhẫn đông đằng 30 g, Địa đinh 30 g, Liên kiều 30 g, Xích tiểu đậu 30 g, Thiên hoa phấn 15 g, Đương quy 15 g, Huyền sâm 15 g, Xích thược 10 g, Ngưu tất 10 g, Xuyên luyện tử 10 g, Hồng hoa 6 g, Sinh cam thảo 6 g; sắc uống, mỗi ngày một thang.
Phương thang 2: Tứ diệu Dũng an thang gia giảm: Ngân hoa 30 g, Huyền sâm 30 g, Bồ công anh 30 g, Đan sâm 30 g, Kê huyết đằng 30 g, Đương quy 15 g, Ngưu tất 15 g, Liên kiều 15 g, Thạch hộc 12 g, Xích thược 12 g; sắc uống, mỗi ngày một thang.
Chú ý: Đã lược bỏ Xuyên sơn giáp và các dược liệu từ động vật quý hiếm. Vết loét có mủ, mùi hôi, sưng đỏ lan rộng, sốt hoặc đầu chi chuyển đen có thể là nhiễm trùng sâu, viêm xương hoặc thiếu máu chi đe dọa chi; thuốc sắc không thay thế kháng sinh, cắt lọc mô hoại tử và tái thông mạch.
VII. NGOẠI TRỊ
Các tài liệu cũ thường ghi dùng thuốc sắc để ngâm rửa vết loét và chi thiếu máu. Tuy nhiên, người đái tháo đường có thể giảm cảm giác và tuần hoàn kém nên không nên tự ngâm chân bằng thuốc.
Ngâm lâu làm da mềm nhũn, dễ nứt và nhiễm trùng; nước nóng có thể gây bỏng; dung dịch không vô khuẩn có thể làm vết loét nặng hơn.
Vết loét cần được làm sạch, băng bó, giảm áp và theo dõi bởi nhân viên y tế. Không tự đắp lá thuốc, bột thuốc, dầu trứng, cao sinh cơ hoặc các thuốc không vô khuẩn vào vùng loét.
VIII. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ PHỐI HỢP
Kiểm soát đường huyết là nền tảng giúp hạn chế tổn thương mạch máu và hỗ trợ vết thương lành.
Cần kiểm soát huyết áp, lipid máu, cân nặng và ngừng hút thuốc.
Người có đi khập khiễng cách hồi, đau khi nghỉ, mạch chân yếu hoặc vết loét cần được kiểm tra tuần hoàn bằng siêu âm Doppler và các phương pháp thích hợp.
Nếu động mạch hẹp hoặc tắc nghiêm trọng, có thể cần nong mạch, đặt stent, phẫu thuật bắc cầu hoặc phương pháp tái thông khác.
Thuốc Trung y có thể phối hợp nhằm ích khí dưỡng âm, hoạt huyết thông mạch, ôn kinh tán hàn hoặc thanh nhiệt giải độc theo thể bệnh, nhưng không thể thay thế việc tái lập dòng máu.
IX. CHĂM SÓC BÀN CHÂN
Kiểm tra cả hai bàn chân mỗi ngày, chú ý đầu ngón chân, kẽ ngón, gót chân, gan bàn chân và vùng quanh móng.
Rửa chân bằng nước ấm vừa, lau khô nhẹ nhàng, không ngâm lâu.
Không dùng túi chườm nóng, chai nước nóng hoặc thiết bị sưởi trực tiếp vào chân.
Không đi chân đất.
Mang tất sạch và giày vừa chân.
Kiểm tra bên trong giày trước khi mang.
Không tự cắt chai chân, chọc vỡ bóng nước hoặc dùng thuốc ăn mòn da.
Mọi vết xước, phồng nước hoặc đổi màu da đều cần được theo dõi sát.
X. NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN ÁP DỤNG
Không dùng Xuyên ô, Thảo ô hoặc các vị có độc.
Không dùng Ngô công.
Không dùng Xuyên sơn giáp.
Không tự ngâm chân bằng thuốc sắc.
Không chườm nóng chân lạnh hoặc mất cảm giác.
Không đắp thuốc không vô khuẩn vào vết loét.
Không tự uống aspirin hoặc thuốc chống đông theo tài liệu cũ.
Không truyền dịch chiết Xuyên khung hoặc thuốc tiêm Trung dược tùy tiện.
Không xoa bóp mạnh chi thiếu máu, loét hoặc hoại tử.
Không trì hoãn tái thông mạch vì muốn điều trị Trung y trước.
XI. DẤU HIỆU CẦN KHÁM SỚM
Đau bắp chân khi đi bộ, khoảng cách đi ngày càng ngắn, một chân lạnh hơn chân còn lại, da nhợt hoặc tím, mạch bàn chân yếu, lông chân rụng, móng chân dày, đau bàn chân về đêm, vết thương sau vài ngày không lành.
XII. DẤU HIỆU CẦN CẤP CỨU
Chân đột ngột đau dữ dội, chân lạnh hoặc tái nhợt, mất mạch, tê hoặc mất cảm giác tăng nhanh, không cử động được bàn chân, đau khi nghỉ kéo dài, vết loét có mủ hoặc mùi hôi, sốt, rét run, lơ mơ, đầu ngón chân hoặc bàn chân chuyển màu tím đen.
Nói tóm lại, bệnh xơ vữa động mạch tắc nghẽn do đái tháo đường theo Trung y thường hình thành trên nền khí âm suy tổn, dương khí không đạt đến tứ chi, đàm trọc và huyết ứ bế trở mạch lạc. Giai đoạn đầu thường biểu hiện mạch lạc hàn ngưng hoặc ứ trệ; bệnh kéo dài có thể ứ lâu hóa nhiệt; khi xuất hiện loét, hóa mủ và hoại tử thì thấp nhiệt, độc nhiệt và huyết ứ thường đan xen. Trung y có thể phối hợp để điều chỉnh toàn trạng và hỗ trợ triệu chứng, nhưng đánh giá mạch máu, tái lập dòng máu, điều trị nhiễm trùng và chăm sóc vết thương vẫn là nền tảng quan trọng để bảo tồn chi.
Trường Xuân biên soạn