Hen suyễn ở người cao tuổi phần nhiều là bệnh kéo dài, thường tái phát nhiều lần. Biểu hiện chủ yếu là thở gấp, khó thở, trong họng có tiếng đàm khò khè, ngực đầy tức, đờm dính hoặc loãng, khi luồng khí đi qua đường thở bị đàm trọc ngăn trở sẽ phát ra tiếng rít.
Theo Trung y, bệnh có quan hệ mật thiết với ba tạng Phế, Tỳ và Thận. Phế chủ khí, coi việc hô hấp; Tỳ vận hóa thủy thấp, là nguồn sinh đàm; Thận chủ nạp khí, giúp hơi thở được thu nạp xuống dưới. Khi Phế mất tuyên giáng, Tỳ mất kiện vận hoặc Thận không nạp khí, đàm và khí cùng nghịch lên, có thể phát sinh hen suyễn.
Người cao tuổi tạng phủ đã suy, Phế khí không đầy đủ, Tỳ vận hóa kém, Thận khí dần hư. Vì vậy, bệnh thường có đặc điểm bản hư tiêu thực: phần gốc là Phế, Tỳ, Thận hư; phần ngọn là phong, hàn, nhiệt, đàm và khí nghịch.
Khi bệnh đang phát tác, cần chú trọng tuyên Phế, giáng khí, hóa đàm và bình suyễn để trị phần ngọn. Khi bệnh tạm ổn, cần căn cứ tình trạng Phế, Tỳ và Thận để phù chính, cố bản, giảm tái phát.
I. NGUYÊN NHÂN VÀ BỆNH CƠ
Phong hàn, phong nhiệt hoặc thấp tà xâm nhập vào Phế, làm Phế khí mất tuyên giáng. Tân dịch không được phân bố bình thường, ngưng tụ thành đàm, đàm khí cùng nghịch lên và gây hen suyễn.
Ăn nhiều thức ăn béo ngọt, nhiều dầu mỡ, lạnh sống hoặc quá mặn có thể làm tổn thương Tỳ Vị. Tỳ mất kiện vận, thủy thấp đình tụ, lâu ngày hóa thành đàm.
Đàm trọc lưu lại trong Phế, khi gặp ngoại tà, lao lực hoặc tình chí kích động sẽ làm khí đạo bị ngăn trở, khiến bệnh phát tác.
Lo nghĩ, buồn phiền, tức giận hoặc tinh thần căng thẳng có thể làm khí cơ uất trệ. Khí uất khiến đàm khó vận hóa, đàm khí cùng kết, Phế khí nghịch lên và gây khó thở.
Hen suyễn kéo dài khiến Phế khí ngày càng suy. Phế hư lâu ngày ảnh hưởng đến Thận; Thận khí suy thì không thể nạp khí, làm hơi thở nông, hít vào khó, vận động nhẹ cũng phát suyễn.
Ở người cao tuổi, Thận hư thường là phần gốc quan trọng khiến bệnh kéo dài và dễ tái phát.
II. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
Trung y có nguyên tắc:
“Phát tác trị tiêu, bình thời trị bản.”
Nghĩa là khi bệnh đang phát tác thì ưu tiên xử lý phần ngọn; khi bệnh tạm ổn thì điều trị phần gốc.
Khi phát tác, cần phân biệt hàn, nhiệt, đàm và hư thực để tuyên Phế, giáng khí, hóa đàm, thanh nhiệt hoặc ôn hóa.
Khi bệnh ổn định, cần căn cứ tình trạng để bổ Phế, kiện Tỳ, ích khí hoặc bổ Thận nạp khí.
Đối với người cao tuổi, dù đang trong thời kỳ phát tác cũng phải chú ý bảo vệ chính khí. Không nên chỉ sử dụng thuốc công phạt, phát tán hoặc hóa đàm quá mạnh trong thời gian dài.
III. CÁC THỂ HEN SUYỄN THƯỜNG GẶP
Nguyên nhân và bệnh cơ
Phần nhiều do phong hàn phạm Phế hoặc cơ thể vốn có hàn ẩm, khi gặp lạnh thì đàm ẩm bị dẫn động, Phế khí mất tuyên giáng, khí đạo bị ngăn trở.
Triệu chứng
Thở gấp, khó thở, trong họng có tiếng rít; ho khạc đờm trắng loãng hoặc đờm dính màu trắng; ngực đầy tức, sợ lạnh, có thể đau đầu và không ra mồ hôi; sắc mặt xám nhạt; miệng không khát hoặc thích uống ấm; lưỡi nhạt, rêu trắng trơn; mạch huyền khẩn hoặc phù khẩn.
Phép trị
Ôn Phế tán hàn, hóa đàm, giáng khí, bình suyễn.
Phương thang tham khảo
Thang Xạ can Ma hoàng: Thích hợp khi hàn ẩm phạm Phế, ho suyễn, trong họng có tiếng đàm như tiếng nước.
Thang Tiểu thanh long: Thích hợp khi bên ngoài có phong hàn, bên trong có thủy ẩm, biểu hiện sợ lạnh, không ra mồ hôi, ho suyễn và nhiều đờm trắng loãng.
Thang Tam tử dưỡng thân: Thích hợp với người cao tuổi đàm nhiều, khí nghịch, ngực đầy, ăn uống kém.
Các phương trên cần gia giảm theo tình trạng cụ thể, không nên tự dùng khi chưa được biện chứng.
Nguyên nhân và bệnh cơ
Đàm trọc uất lâu hóa nhiệt hoặc phong nhiệt phạm Phế, khiến đàm nhiệt ngăn trở khí đạo, Phế khí nghịch lên.
Triệu chứng
Thở gấp, tiếng rít rõ; ho khạc đờm vàng đặc, khó khạc; ngực đầy tức, bứt rứt; mặt đỏ, tự ra mồ hôi; khát nước thích uống mát; có thể sốt hoặc họng đỏ; lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn; mạch hoạt sác.
Phép trị
Tuyên Phế, thanh nhiệt, hóa đàm, bình suyễn.
Phương thang tham khảo
Định suyễn thang: Thường dùng trong chứng đàm nhiệt ở Phế, ho suyễn, đờm vàng đặc.
Tang bạch bì thang: Thích hợp khi Phế nhiệt rõ rệt, ho suyễn, đờm vàng, ngực tức và miệng khát.
Nếu nhiệt thịnh, sốt cao, khó thở tăng nhanh, môi tím hoặc ý thức thay đổi, cần đưa người bệnh đến cơ sở y tế ngay.
Nguyên nhân và bệnh cơ
Bên trong vốn có đàm nhiệt, bên ngoài lại cảm phong hàn. Hàn tà bó chặt cơ biểu khiến nhiệt và đàm bị uất lại bên trong.
Triệu chứng
Sợ lạnh, không ra mồ hôi, đau đầu hoặc đau mình; đồng thời thở gấp, ngực tức, ho đờm vàng hoặc đờm đặc, miệng khát, lưỡi đỏ nhưng rêu trắng hoặc vàng.
Phép trị
Giải biểu tán hàn, tuyên Phế, thanh lý nhiệt, hóa đàm bình suyễn.
Phương thang cần được lựa chọn cẩn thận theo mức độ hàn và nhiệt. Không nên chỉ dùng thuốc ôn tán vì có thể làm nhiệt tăng, cũng không nên chỉ dùng thuốc khổ hàn vì có thể khiến biểu tà khó giải.
Nguyên nhân và bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, đàm trọc nội sinh; hoặc ngoại tà dẫn động đàm cũ, khiến đàm khí ngăn trở đường thở.
Triệu chứng
Thở gấp, trong họng có tiếng khò khè như kéo cưa; đờm nhiều, dính, khó khạc; ngực đầy, tức nặng; cơ thể nặng nề, ăn uống giảm; rêu lưỡi dày nhờn; mạch hoạt.
Nếu đàm thiên hàn thì đờm trắng loãng, sợ lạnh, lưỡi nhạt.
Nếu đàm thiên nhiệt thì đờm vàng đặc, miệng khát, lưỡi đỏ.
Phép trị
Tuyên Phế, giáng khí, táo thấp hóa đàm; nếu có nhiệt thì kiêm thanh nhiệt, nếu có hàn thì kiêm ôn hóa.
Phương thang tham khảo
Thang Tam tử dưỡng thân: Phù hợp với người cao tuổi đàm nhiều, khí nghịch, ngực đầy và ăn kém.
Nhị trần thang gia giảm: Dùng khi đàm thấp tương đối rõ.
Việc lựa chọn phương phải căn cứ tính chất đàm hàn hay đàm nhiệt, không thể dùng chung một phương cho mọi trường hợp.
Nguyên nhân và bệnh cơ
Bệnh lâu ngày làm tổn thương Thận, hoặc tuổi cao Thận khí vốn suy, chức năng nạp khí không đầy đủ, dẫn đến dưới hư trên thực. Bên trên Phế khí nghịch, bên dưới Thận không thể thu nạp hơi thở.
Triệu chứng
Hơi thở ngắn gấp, hít vào khó hơn thở ra; vận động nhẹ thì suyễn tăng; nói chuyện không liền câu; hồi hộp, mệt mỏi; đau lưng, mỏi gối; chóng mặt, ù tai; có thể khạc đờm loãng có bọt; lưỡi nhạt hoặc đỏ ít rêu tùy âm dương hư; mạch trầm tế hoặc trầm nhược.
Phép trị
Bổ Thận, nạp khí, định suyễn.
Nếu Thận dương hư: Sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt nhợt, tiểu nhiều trong, lưỡi nhạt. Phép trị thiên về ôn bổ Thận dương, nạp khí.
Nếu Thận âm hư: Miệng họng khô, lòng bàn tay chân nóng, mồ hôi trộm, lưỡi đỏ ít rêu. Phép trị thiên về tư bổ Thận âm, nạp khí.
Phương thang tham khảo
Thận khí hoàn: Thường được dùng khi Thận dương hư, khí hóa và nạp khí suy giảm.
Nhân sâm Cáp giới tán: Thường dùng khi Phế Thận khí hư, suyễn lâu ngày, hơi thở ngắn, vận động thì phát tác.
Tô tử giáng khí thang: Thích hợp với tình trạng trên thực dưới hư, đàm khí nghịch ở trên và Thận hư ở dưới.
Các thuốc như Phụ tử, Nhục quế, Tế tân và Cáp giới có dược tính mạnh, không được tự ý sử dụng, đặc biệt ở người cao tuổi có bệnh tim mạch, tăng huyết áp, rối loạn nhịp tim hoặc suy thận.
IV. TRỊ CẢ GỐC VÀ NGỌN
Hen suyễn kéo dài phần nhiều có Thận hư làm gốc, đàm khí nghịch làm ngọn. Vì vậy, chỉ tuyên Phế hóa đàm có thể làm giảm cơn nhưng khó ngăn bệnh tái phát; chỉ bổ Thận khi đàm và khí nghịch còn mạnh lại có thể khiến tà khí lưu lại.
Trong giai đoạn phát tác, lấy tuyên Phế, hóa đàm, giáng khí và bình suyễn làm chính, đồng thời căn cứ mức độ hư của người bệnh để nhẹ nhàng phù trợ Phế Thận.
Trong giai đoạn ổn định, lấy bổ Phế, kiện Tỳ và bổ Thận nạp khí làm chính, đồng thời hóa đàm vừa phải để ngăn đàm trọc tái sinh.
Một số phương phối hợp thường được nhắc đến gồm:
Kim thủy lục quân tiễn phối hợp phương tuyên Phế giáng khí: Dùng trong chứng Phế Thận hư, đàm nhiều, ho suyễn kéo dài.
Nhị trần thang phối hợp thuốc bổ Thận: Dùng khi đàm thấp là ngọn, Thận hư là gốc.
Tô tử giáng khí thang: Vừa giáng khí hóa đàm ở trên, vừa ôn Thận nạp khí ở dưới.
Việc gia giảm phải căn cứ toàn bộ tình trạng, không nên ghép nhiều phương thuốc một cách máy móc.
V. VAI TRÒ CỦA ĐƯƠNG QUY TRONG HO SUYỄN HƯ CHỨNG
Đương quy chủ yếu được biết đến với công năng bổ huyết, hoạt huyết và điều kinh, nhưng trong một số cổ phương trị ho suyễn hư chứng, Đương quy còn được dùng để dưỡng huyết, hòa khí và hỗ trợ Phế Thận.
Người cao tuổi hen suyễn lâu ngày có thể vừa khí hư vừa huyết hư. Huyết không đủ thì Phế mất nuôi dưỡng, khí càng dễ nghịch. Khi phối hợp thích hợp, Đương quy có thể giúp dưỡng huyết mà không quá nê trệ, góp phần điều hòa khí huyết.
Tuy nhiên, người có đờm thấp nặng, bụng đầy, đại tiện lỏng, đang chảy máu hoặc dùng thuốc chống đông cần đặc biệt thận trọng.
VI. ĐIỀU TRỊ TRONG THỜI KỲ KHÔNG PHÁT TÁC
Biểu hiện: Dễ cảm lạnh, sợ gió, tự ra mồ hôi, tiếng nói nhỏ, đoản hơi, ho yếu.
Phép trị: Bổ Phế ích khí, cố biểu.
Có thể tham khảo Ngọc bình phong tán gia giảm.
Biểu hiện: Ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng, cơ thể mệt mỏi, nhiều đờm trắng.
Phép trị: Kiện Tỳ ích khí, táo thấp hóa đàm.
Có thể căn cứ chứng dùng Lục quân tử thang hoặc Hương sa lục quân tử thang gia giảm.
Biểu hiện: Ho suyễn kéo dài, hơi thở ngắn, vận động thì phát tác, tiếng nói yếu, đau lưng mỏi gối.
Phép trị: Bổ Phế ích Thận, nạp khí bình suyễn.
Biểu hiện: Sợ lạnh, tay chân lạnh, phù nhẹ, ăn kém, đại tiện lỏng, đờm trắng loãng, lưng gối lạnh đau.
Phép trị: Ôn bổ Tỳ Thận, hóa ẩm, nạp khí.
Biểu hiện: Ho khan, ít đờm, miệng họng khô, lòng bàn tay chân nóng, mồ hôi trộm, lưỡi đỏ ít rêu.
Phép trị: Tư dưỡng Phế Thận, nhuận Phế, nạp khí.
VII. CHĂM SÓC VÀ PHÒNG NGỪA TÁI PHÁT
Giữ ấm khi thời tiết lạnh, đặc biệt là vùng cổ, ngực, lưng và bàn chân.
Tránh khói thuốc, bụi, mùi hóa chất, hương liệu nồng và không khí ô nhiễm.
Không để quạt hoặc máy lạnh thổi trực tiếp vào người.
Hạn chế tiếp xúc với người đang mắc bệnh đường hô hấp.
Hạn chế thức ăn nhiều dầu mỡ, béo ngọt, chiên rán và khó tiêu vì dễ làm Tỳ mất vận hóa, sinh thêm đàm.
Không nên ăn quá nhiều thức ăn lạnh sống nếu thuộc thể hàn, đờm trắng loãng.
Người có đàm nhiệt nên hạn chế đồ cay nóng, rượu và thức ăn nướng.
Cần quan sát những thức ăn từng làm bệnh phát tác để chủ động tránh dùng.
Không nên kiêng khem quá mức khiến cơ thể suy nhược.
Ngủ đủ, tránh lao lực và thức khuya.
Vận động nhẹ nhàng tùy sức, có thể đi bộ chậm và tập thở khi bệnh ổn định.
Tránh xúc động mạnh, lo âu kéo dài hoặc tức giận vì khí cơ uất trệ có thể làm bệnh phát tác.
Người thường xuyên cảm lạnh, tự ra mồ hôi và dễ phát suyễn có thể được thầy thuốc xem xét dùng phép ích khí cố biểu.
Ngọc bình phong tán không phải phương thuốc dùng chung cho tất cả người cao tuổi. Khi đang sốt, đờm vàng, họng đỏ, táo bón hoặc đàm nhiệt rõ thì không nên tự sử dụng.
Không nên tự uống Hoàng kỳ, mật ong hoặc thuốc bổ kéo dài nếu có đái tháo đường, phù, tăng huyết áp khó kiểm soát hoặc đang dùng nhiều thuốc điều trị khác.
VIII. NHỮNG DẤU HIỆU CẦN CẤP CỨU
Hen suyễn ở người cao tuổi có thể nhanh chóng trở nặng. Cần gọi cấp cứu hoặc đưa người bệnh đến cơ sở y tế ngay khi có một trong các biểu hiện sau:
Khó thở tăng nhanh, không thể nói thành câu.
Tím môi, tím đầu ngón tay hoặc vã mồ hôi lạnh.
Lồng ngực co kéo mạnh, phải ngồi cúi người mới thở được.
Thuốc hít cắt cơn đã được bác sĩ kê không còn hiệu quả.
Đau ngực, hồi hộp dữ dội hoặc rối loạn ý thức.
Tiếng thở khò khè đột ngột giảm nhưng người bệnh càng khó thở, vì đây có thể là dấu hiệu luồng khí qua phổi giảm nghiêm trọng.
Sốt cao, đờm mủ, ho ra máu hoặc nghi viêm phổi.
Lơ mơ, mệt lả, tay chân lạnh hoặc huyết áp giảm.
Trong cơn hen cấp, không nên chỉ dựa vào thuốc sắc, thuốc hoàn hoặc liệu pháp dân gian. Các phương pháp Trung y chỉ nên phối hợp sau khi đường thở và tình trạng hô hấp đã được đánh giá, xử trí thích hợp.
Nói tóm lại, hen suyễn ở người cao tuổi phần nhiều là bệnh bản hư tiêu thực, liên quan mật thiết đến Phế, Tỳ và Thận. Khi phát tác cần phân biệt hàn suyễn, nhiệt suyễn, đàm suyễn và các chứng kiêm hiệp để tuyên Phế, giáng khí, hóa đàm, bình suyễn. Khi bệnh ổn định cần chú trọng bổ Phế, kiện Tỳ, bổ Thận nạp khí và điều dưỡng chính khí. Thuốc ôn dương, tráng dương hoặc định suyễn mạnh chỉ được sử dụng khi biện chứng rõ ràng, không nên tự dùng cho người cao tuổi vì dễ ảnh hưởng đến tim mạch, huyết áp, gan và thận.
Trường Xuân biên soạn