Đái tháo đường ở người cao tuổi phần lớn thuộc đái tháo đường type 2. Bệnh thường tiến triển âm thầm, các biểu hiện uống nhiều, ăn nhiều, tiểu nhiều và gầy sút có thể không rõ ràng. Nhiều trường hợp chỉ được phát hiện khi đã xuất hiện bệnh tim mạch, tổn thương thần kinh, bệnh thận, bệnh võng mạc, nhiễm trùng hoặc biến chứng bàn chân.
Theo Trung y, bệnh thuộc phạm vi Tiêu khát. Ở người cao tuổi, Thận tinh và nguyên khí dần suy, khí âm thường cùng hư; khí hư không vận huyết, đàm thấp và huyết ứ dễ hình thành, vì vậy bệnh thường có đặc điểm bản hư tiêu thực, nhiều tạng cùng tổn thương và các thể bệnh xen lẫn nhau.
I. ĐẶC ĐIỂM BỆNH Ở NGƯỜI CAO TUỔI
Người bệnh có thể không khát nhiều, không ăn nhiều và không tiểu nhiều rõ rệt. Các biểu hiện ban đầu đôi khi chỉ là mệt mỏi, giảm sức lực, nhìn mờ, tê chân tay, ngứa da, tiểu đêm, nhiễm trùng tái diễn hoặc vết thương lâu lành.
Do triệu chứng nhẹ và thường bị xem là biểu hiện tự nhiên của tuổi già, bệnh có thể chỉ được phát hiện khi xét nghiệm sức khỏe hoặc khi điều trị một bệnh khác.
Người cao tuổi mắc đái tháo đường thường đồng thời có tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, bệnh mạch vành, bệnh mạch máu não, suy giảm chức năng thận, tổn thương võng mạc và bệnh lý thần kinh.
Khả năng nhận biết hạ đường huyết ở người cao tuổi thường giảm. Người bệnh có thể không run tay hoặc đói rõ mà chỉ thấy chóng mặt, yếu chân, lú lẫn, buồn ngủ, nói chậm, thay đổi hành vi hoặc té ngã.
II. BỆNH CƠ THEO TRUNG Y
Tuổi cao làm Thận tinh dần suy, khí hóa không đầy đủ, khả năng giữ gìn và phân bố tinh vi giảm. Tiêu khát kéo dài lại tiếp tục làm tổn thương Thận âm và Thận khí.
Bệnh lâu làm tân dịch hao tổn, khí cũng theo đó suy giảm. Khí hư không vận hóa, âm hư không nhu dưỡng, khiến người bệnh vừa mệt mỏi, hụt hơi, vừa miệng khô và khát.
Tỳ mất kiện vận làm thủy thấp và đàm trọc tích lại, biểu hiện bằng cơ thể nặng nề, béo, bụng đầy, ăn kém, rêu lưỡi nhờn.
Khí hư không thúc đẩy được huyết hành; âm hư làm huyết mất nhu nhuận; đàm thấp lại cản trở kinh lạc. Huyết ứ kéo dài có thể gây tổn thương tim, não, mắt, thận và thần kinh ngoại biên.
Ở giai đoạn muộn, Thận âm và Thận dương đều tổn thương, người bệnh có thể vừa miệng khô, vừa sợ lạnh, tiểu đêm, phù, đau lưng và suy giảm sức lực.
III. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
Điều trị Trung y ở người cao tuổi cần lấy bổ hư làm chủ nhưng không được bổ một cách đơn thuần. Cần căn cứ thể bệnh để phối hợp bổ Thận, ích khí, dưỡng âm, kiện Tỳ, hóa đàm, hoạt huyết và thông lạc.
Người cao tuổi thường có nhiều bệnh đi kèm, đang sử dụng nhiều thuốc và chức năng gan thận có thể suy giảm. Vì vậy phương thuốc nên tinh giản, liều lượng thận trọng và cần theo dõi đường huyết trong quá trình sử dụng.
IV. THỂ KHÍ ÂM LƯỠNG HƯ
Chủ chứng: Mệt mỏi, hơi thở ngắn, lười nói, tự ra mồ hôi, miệng khô, khát nhưng uống không nhiều, ăn uống giảm, tiểu nhiều, cơ thể gầy hoặc sức cơ suy giảm, lưỡi đỏ nhạt hoặc hơi khô, ít rêu, mạch tế nhược.
Bệnh cơ: Khí hư không vận hóa và cố nhiếp, âm hư không sinh tân, khiến cơ thể vừa thiếu sức vừa thiếu dịch.
Phép trị: Ích khí dưỡng âm, sinh tân chỉ khát.
Phương thang: Ngọc dịch thang gia giảm: Hoàng kỳ, Sơn dược, Tri mẫu, Thiên hoa phấn, Cát căn, Ngũ vị tử, Kê nội kim; có thể gia Mạch môn, Sinh địa, Huyền sâm hoặc Đan sâm tùy chứng.
Phương kinh nghiệm: Thái tử sâm 15 g, Hoàng tinh 30 g, Mạch môn 10 g, Ngũ vị tử 10 g, Sinh địa 20 g, Huyền sâm 20 g, Cát căn 10 g, Đan sâm 30 g, Thiên hoa phấn 30 g, Sơn dược 30 g; sắc uống theo chỉ định.
Chú ý: Người ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng hoặc rêu lưỡi dày nhờn không nên dùng quá nhiều vị tư âm có tính nê trệ.
V. THỂ THẬN ÂM HƯ
Chủ chứng: Miệng họng khô, khát, tiểu nhiều, tiểu đêm, đau lưng mỏi gối, ù tai, chóng mặt, nóng lòng bàn tay chân, mất ngủ, lưỡi đỏ ít rêu, mạch trầm tế sác.
Bệnh cơ: Tuổi cao Thận tinh suy giảm, Tiêu khát lại làm âm dịch hao tổn, khiến Thận âm không đủ để nuôi dưỡng cơ thể và chế ước hư hỏa.
Phép trị: Tư âm bổ Thận, sinh tân, cố nhiếp.
Phương thang: Lục vị Địa hoàng thang gia giảm: Thục địa, Sơn thù nhục, Sơn dược, Phục linh, Trạch tả, Đan bì; có thể gia Mạch môn, Ngũ vị tử, Câu kỷ tử hoặc Huyền sâm khi âm hư và khô miệng rõ.
Phương thang khác: Mạch vị Địa hoàng thang, gồm Lục vị Địa hoàng thang gia Mạch môn và Ngũ vị tử, thích hợp với Phế Thận âm hư, miệng khô, hụt hơi và ho khan.
Chú ý: Người đầy bụng, ăn kém, tiêu chảy hoặc rêu lưỡi nhờn cần thận trọng với Thục địa và các vị bổ âm nê trệ.
VI. THỂ THẬN DƯƠNG HƯ
Chủ chứng: Sợ lạnh, tay chân lạnh, đau lưng mỏi gối, tinh thần mệt mỏi, tiểu đêm nhiều, tiểu trong dài, phù chân, giảm ham muốn, lưỡi nhạt to có dấu răng, rêu trắng, mạch trầm trì hoặc trầm nhược.
Bệnh cơ: Thận dương suy, khí hóa không đủ, thủy dịch không được vận hành và tinh vi không được cố giữ.
Phép trị: Ôn bổ Thận dương, trợ khí hóa, kiêm ích khí.
Phương thang: Kim quỹ Thận khí hoàn hoặc Hữu quy ẩm gia giảm, chỉ dùng khi có biểu hiện dương hư rõ.
Chú ý: Không tự sử dụng Phụ tử hoặc các vị ôn dương mạnh. Người có bệnh tim, rối loạn nhịp, tăng huyết áp khó kiểm soát hoặc suy thận cần được theo dõi chặt chẽ.
VII. THỂ TỲ HƯ ĐÀM THẤP
Chủ chứng: Cơ thể nặng nề, béo hoặc phù nhẹ, mệt mỏi, ăn kém, bụng đầy, buồn ngủ sau ăn, đại tiện lỏng hoặc dính, miệng nhạt, lưỡi to có dấu răng, rêu trắng nhờn, mạch nhu hoặc hoạt.
Bệnh cơ: Tỳ mất kiện vận, thủy thấp và đàm trọc tích lại, thanh dương không thăng, tinh vi không được phân bố đúng.
Phép trị: Kiện Tỳ ích khí, hóa thấp, điều hòa Trung tiêu.
Phương thang: Sâm linh Bạch truật tán hoặc Lục quân tử thang gia giảm: Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Sơn dược, Ý dĩ nhân, Bạch biển đậu, Trần bì, Bán hạ và Cam thảo.
Chú ý: Không nên chỉ dùng thuốc bổ âm khi người bệnh có bụng đầy, ăn kém, cơ thể nặng nề và rêu lưỡi dày nhờn.
VIII. THỂ KHÍ HƯ HUYẾT Ứ
Chủ chứng: Mệt mỏi, hơi thở ngắn, tê chân tay, đau cố định, đau ngực âm ỉ, da sạm, môi tím, vết thương lâu lành, lưỡi tím hoặc có điểm ứ, mạch tế sáp.
Bệnh cơ: Khí hư không thúc đẩy huyết hành, huyết ứ bế trở mạch lạc, làm các cơ quan và đầu chi không được nuôi dưỡng đầy đủ.
Phép trị: Ích khí hoạt huyết, hóa ứ thông lạc.
Phương thang: Bổ dương Hoàn ngũ thang gia giảm: Hoàng kỳ, Đương quy vĩ, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Địa long; có thể gia Đan sâm, Kê huyết đằng hoặc Ngưu tất tùy chứng.
Phương kinh nghiệm: Thiên hoa phấn 15 g, Hoàng kỳ 15 g, Hoàng tinh 10 g, Đan sâm 30 g, Cát căn 10 g, Tri mẫu 10 g, Ngũ vị tử 10 g, Đương quy 10 g, Kê nội kim 6 g; sắc uống theo chỉ định.
Chú ý: Người đang sử dụng aspirin, clopidogrel, warfarin hoặc thuốc chống đông khác phải thận trọng khi dùng Đan sâm, Đào nhân, Hồng hoa và các vị hoạt huyết.
IX. THỂ ÂM DƯƠNG LƯỠNG HƯ
Chủ chứng: Bệnh kéo dài, miệng khô nhưng không muốn uống nhiều, sợ lạnh, chân tay lạnh, đau lưng, tiểu đêm, mệt mỏi rõ, có thể phù nhẹ, lưỡi nhạt đỏ hoặc tối, ít rêu, mạch trầm tế nhược.
Bệnh cơ: Thận âm và Thận dương đều suy, khí hóa giảm, tinh huyết và tân dịch cùng thiếu.
Phép trị: Điều bổ âm dương, ích khí, cố Thận.
Phương thang: Có thể căn cứ Tả quy ẩm hoặc Hữu quy ẩm để gia giảm, tùy âm hư hay dương hư thiên thắng.
Chú ý: Không nên bổ âm và ôn dương cùng lúc một cách máy móc. Người có suy tim, suy thận, phù hoặc đang sử dụng nhiều thuốc cần được theo dõi sát.
X. MỘT SỐ PHƯƠNG KINH NGHIỆM
Phương 1: Hoàng kỳ 15 g, Sơn dược 10 g, Thiên hoa phấn 10 g, Sinh địa 10 g, Thục địa 10 g, Mạch môn 10 g, Địa cốt bì 10 g, Sinh Mẫu lệ 20 g, Thương truật 8 g, Phục linh 8 g, Cát căn 8 g, Ngũ vị tử 6 g; sắc uống theo chỉ định.
Phương 2: Hoàng kỳ 30 g, Sinh địa 30 g, Sơn dược 30 g, Thiên hoa phấn 30 g, Câu kỷ tử 10 g, Ngũ vị tử 10 g; sắc uống theo chỉ định.
Phương 3: Thái tử sâm 15 g, Hoàng tinh 30 g, Mạch môn 10 g, Ngũ vị tử 10 g, Sinh địa 20 g, Huyền sâm 20 g, Cát căn 10 g, Đan sâm 30 g, Thiên hoa phấn 30 g, Sơn dược 30 g; sắc uống theo chỉ định.
Chú ý: Các phương trên chỉ có giá trị tham khảo. Người cao tuổi thường có nhiều bệnh đi kèm, vì vậy không nên sử dụng nguyên phương khi chưa biện chứng và chưa xem xét chức năng gan, thận cùng các thuốc đang dùng.
XI. THUỐC THÀNH PHẨM TRUNG Y
Một số thuốc thành phẩm thường được nhắc đến gồm Lục vị Địa hoàng hoàn, Mạch vị Địa hoàng hoàn, Kim quỹ Thận khí hoàn và Ngọc tuyền hoàn.
Lục vị Địa hoàng hoàn: Thích hợp hơn với thể Thận âm hư.
Mạch vị Địa hoàng hoàn: Thích hợp với Phế Thận âm hư, miệng khô, hụt hơi.
Kim quỹ Thận khí hoàn: Chỉ dùng khi có Thận dương hư rõ.
Ngọc tuyền hoàn: Thường được dùng trong thể khí âm lưỡng hư, miệng khô và khát.
Chú ý: Không dùng Tiêu khát hoàn như một thuốc Trung y thông thường vì một số chế phẩm có phối hợp glibenclamide, có thể gây hạ đường huyết kéo dài và nguy hiểm ở người cao tuổi. Cần đọc kỹ thành phần trước khi sử dụng bất kỳ thuốc thành phẩm nào.
XII. DƯỠNG SINH VÀ VẬN ĐỘNG
Người cao tuổi có thể lựa chọn đi bộ chậm, Thái cực quyền, Bát đoạn cẩm, tập thở và các bài dưỡng sinh nhẹ.
Nguyên tắc tập luyện: Khởi động nhẹ, tăng thời gian từ từ, không tập khi đang đói, mang theo nguồn đường hấp thu nhanh, mang giày vừa chân, kiểm tra bàn chân sau khi tập và dừng tập khi xuất hiện đau ngực, khó thở, chóng mặt, yếu chân, nhìn mờ hoặc vã mồ hôi bất thường.
Chú ý: Không nên quy định cứng nhắc mỗi ngày phải tập hai đến ba lần hoặc mỗi lần quá lâu. Thời lượng cần căn cứ sức khỏe tim mạch, khả năng giữ thăng bằng, tình trạng bàn chân và thể lực thực tế.
XIII. ĂN UỐNG
Nên ăn đều bữa, không bỏ bữa khi đang dùng thuốc hạ đường huyết hoặc insulin; duy trì lượng tinh bột tương đối ổn định; ưu tiên rau, ngũ cốc nguyên hạt, đậu và thực phẩm giàu chất xơ phù hợp; hạn chế đồ uống có đường, bánh kẹo, thức ăn quá ngọt và chất béo chuyển hóa.
Không nên ăn quá ít vì người cao tuổi dễ suy dinh dưỡng, mất cơ và hạ đường huyết. Người có suy thận, suy tim hoặc rối loạn điện giải cần chế độ ăn riêng.
XIV. PHÒNG HẠ ĐƯỜNG HUYẾT
Triệu chứng: Run, đói, vã mồ hôi, hồi hộp, chóng mặt, nhìn mờ, yếu sức, lú lẫn, nói chậm, buồn ngủ, thay đổi hành vi hoặc té ngã.
Chú ý: Ở người cao tuổi, lú lẫn hoặc buồn ngủ có thể là biểu hiện duy nhất của hạ đường huyết. Cần tránh bỏ bữa, ăn quá ít, uống rượu khi chưa ăn, tự tăng liều thuốc, tập quá sức và dùng đồng thời thuốc Tây với thuốc thành phẩm có chứa hoạt chất hạ đường huyết.
Nếu người bệnh còn tỉnh và nuốt an toàn, xử trí hạ đường huyết theo kế hoạch đã được hướng dẫn. Nếu lơ mơ, co giật hoặc không nuốt được, không cho ăn uống qua miệng và cần gọi cấp cứu.
XV. PHỐI HỢP ĐIỀU TRỊ BIẾN CHỨNG
Trung y có thể phối hợp ích khí, dưỡng âm và hoạt huyết theo biện chứng nhưng không thay thế thuốc tim mạch hoặc xử trí cấp cứu.
Chú ý: Không tự dùng Quan tâm Tô hợp hoàn hoặc Tốc hiệu Cứu tâm hoàn khi đau ngực. Đau ngực, khó thở, vã mồ hôi hoặc mệt đột ngột cần được cấp cứu.
Có thể căn cứ Can Thận âm hư, khí âm lưỡng hư hoặc huyết ứ để phối hợp điều trị.
Chú ý: Trung y không thay thế khám đáy mắt, laser, tiêm nội nhãn hoặc phẫu thuật khi có chỉ định.
Điều trị cần căn cứ chức năng thận, mức protein niệu, phù và điện giải.
Chú ý: Không thể khẳng định Lục vị Địa hoàng hoàn hoặc Kỷ cúc Địa hoàng hoàn đều làm giảm protein niệu cho mọi trường hợp.
Có thể phối hợp ích khí dưỡng huyết, hoạt huyết thông lạc, bổ Can Thận và châm cứu.
Chú ý: Không châm cứu tại vùng loét, nhiễm trùng, mất cảm giác rõ hoặc tuần hoàn kém.
XVI. CHĂM SÓC BÀN CHÂN
Kiểm tra bàn chân mỗi ngày, chú ý kẽ ngón, gót chân và gan bàn chân; không đi chân đất; không ngâm chân bằng nước nóng; không dùng túi chườm; không tự cắt chai chân; mang giày vừa chân và tất sạch; mọi vết xước, phồng nước, đổi màu hoặc loét đều cần được xử lý sớm.
XVII. DẤU HIỆU CẦN KHÁM SỚM
Khát hoặc tiểu nhiều hơn trước, sút cân không rõ nguyên nhân, mệt mỏi tăng, nhìn mờ, tê chân, chóng mặt khi đứng, tiểu đêm nhiều, vết thương lâu lành, nhiễm trùng tái diễn, lú lẫn từng lúc hoặc thường xuyên xảy ra hạ đường huyết.
XVIII. DẤU HIỆU CẦN CẤP CỨU
Lơ mơ hoặc mất ý thức, co giật, yếu liệt đột ngột, nói khó, đau ngực, khó thở, nôn liên tục, mất nước rõ, đường huyết tăng rất cao kèm lú lẫn, hạ đường huyết không hồi phục, sốt kèm vết loét bàn chân hoặc đầu chi chuyển đen.
Nói tóm lại, đái tháo đường ở người cao tuổi theo Trung y thường có nền tảng Thận hư, khí âm lưỡng hư, Tỳ hư đàm thấp và huyết ứ trở lạc. Điều trị cần bổ Thận, ích khí, dưỡng âm, kiện Tỳ và thông lạc nhưng phải căn cứ thể trạng, chức năng gan thận và các bệnh đi kèm. Mục tiêu không chỉ là kiểm soát đường huyết mà còn phải phòng hạ đường huyết, duy trì khả năng vận động, ngăn ngừa té ngã, chăm sóc bàn chân và phát hiện sớm các biến chứng.
Trường Xuân biên soạn