Khái niệm
Táo bón mạn tính là tình trạng đại tiện khó khăn, phân khô cứng, số lần đại tiện giảm hoặc cảm giác đại tiện không hết, tái diễn và kéo dài trong một khoảng thời gian tương đối lâu.
Bệnh có thể hình thành từ một đợt táo bón cấp tính không được xử lý thích hợp, kéo dài rồi chuyển thành mạn tính. Tuy nhiên, nhiều trường hợp ngay từ đầu đã biểu hiện dưới dạng táo bón kéo dài, đặc biệt khi liên quan đến bệnh mạn tính, tuổi cao, suy nhược cơ thể, rối loạn thần kinh, nội tiết hoặc chức năng đại tràng.
Không nên chỉ căn cứ vào số lần đại tiện để chẩn đoán. Có người vài ngày mới đi ngoài một lần nhưng phân mềm, không phải rặn và không có cảm giác khó chịu. Ngược lại, có người vẫn đi hằng ngày nhưng phân cứng, phải rặn nhiều hoặc luôn cảm thấy chưa đi hết, vẫn thuộc táo bón mạn tính.
Biểu hiện thường gặp
Số lần đại tiện giảm kéo dài.
Phân khô, cứng hoặc thành viên nhỏ.
Phải rặn nhiều khi đại tiện.
Ngồi lâu trong nhà vệ sinh.
Cảm giác tắc nghẽn ở hậu môn hoặc trực tràng.
Cảm giác đại tiện không hết.
Phải dùng tay ấn vùng tầng sinh môn hoặc hỗ trợ lấy phân.
Bụng đầy, trướng hoặc đau âm ỉ.
Giảm hoặc mất cảm giác buồn đại tiện.
Phải thường xuyên dùng thuốc nhuận tràng hoặc thụt tháo.
Một số người táo bón mạn tính không có phân khô. Phân có thể mềm hoặc hơi nhão nhưng vẫn khó tống ra ngoài, thường do khí hư, rối loạn cơ sàn chậu, sa trực tràng hoặc thấp trệ.
Phân loại
Táo bón mạn tính có thể chia thành hai nhóm lớn.
Táo bón mạn tính chức năng
Không phát hiện tổn thương thực thể rõ ràng cản trở đường đi của phân.
Nguyên nhân thường liên quan đến:
Thói quen nhịn đại tiện.
Chế độ ăn thiếu chất xơ.
Uống ít nước.
Ít vận động.
Căng thẳng tinh thần.
Nhu động đại tràng chậm.
Giảm cảm giác trực tràng.
Rối loạn phối hợp cơ sàn chậu.
Hội chứng ruột kích thích thể táo bón.
Táo bón mạn tính thực thể
Có bệnh lý hoặc tổn thương cụ thể gây cản trở sự vận chuyển hoặc bài xuất phân.
Nguyên nhân có thể gồm:
Khối u đại trực tràng.
Hẹp lòng ruột.
Dính ruột.
Sa trực tràng.
Đại tràng khổng lồ.
Bệnh thần kinh.
Suy giáp.
Đái tháo đường có biến chứng thần kinh.
Rối loạn điện giải.
Tác dụng kéo dài của thuốc.
Táo bón thực thể thường không thể cải thiện bền vững nếu bệnh nguyên phát chưa được xử lý.
Phân loại theo cơ chế
Táo bón do vận chuyển chậm
Phân di chuyển quá chậm trong đại tràng, nước bị hấp thu nhiều, khiến phân khô và khoảng cách giữa các lần đại tiện kéo dài.
Người bệnh thường ít cảm giác buồn đại tiện.
Táo bón do rối loạn tống xuất
Phân đã xuống trực tràng nhưng khó thoát ra ngoài do cơ sàn chậu và cơ thắt hậu môn phối hợp không đúng.
Người bệnh thường:
Rặn nhiều.
Ngồi lâu.
Cảm giác phân bị mắc ở hậu môn.
Phân không nhất thiết khô.
Đại tiện không hết.
Phải dùng tay hỗ trợ.
Táo bón hỗn hợp
Vừa có nhu động đại tràng chậm, vừa có rối loạn tống xuất. Đây là nhóm thường khó điều trị và cần thời gian phục hồi lâu hơn.
Nguyên nhân
Chế độ ăn uống không phù hợp
Chế độ ăn quá tinh chế, thiếu rau, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt và chất xơ làm lượng phân giảm, thành ruột không được kích thích đầy đủ.
Ăn ít kéo dài, uống ít nước hoặc dùng nhiều thức ăn cay nóng cũng làm phân khô.
Ngược lại, người có Tỳ dương hư ăn quá nhiều đồ sống lạnh có thể bị suy giảm vận hóa, phân không khô nhưng khó bài xuất.
Thói quen nhịn đại tiện
Thường xuyên nhịn đi ngoài làm cảm giác trực tràng giảm dần. Phân đã xuống nhưng không tạo được phản xạ đại tiện rõ, lâu ngày hình thành táo bón do thói quen.
Thiếu vận động
Ít đi lại làm nhu động đại tràng chậm và cơ bụng, cơ sàn chậu yếu. Tình trạng này thường gặp ở người cao tuổi, người làm việc văn phòng và người nằm lâu.
Căng thẳng tinh thần
Lo âu, uất ức, trầm cảm hoặc căng thẳng kéo dài có thể làm rối loạn hoạt động thần kinh ruột.
Theo Trung y, Can khí uất làm khí cơ Đại trường không thông; tư lự quá mức lại làm Tỳ khí suy yếu.
Tuổi cao và suy nhược
Ở người cao tuổi, nhu động đại tràng, cảm giác trực tràng và sức cơ sàn chậu đều có thể suy giảm. Người già còn thường ăn ít, uống ít, ít vận động và dùng nhiều thuốc, làm táo bón dễ kéo dài.
Phụ nữ sau sinh
Sau sinh, khí huyết hao tổn, thành bụng và sàn chậu suy yếu, ít vận động hoặc sợ đau khi đi ngoài có thể làm táo bón kéo dài.
Bệnh mạn tính
Các bệnh có thể gây táo bón mạn tính gồm:
Suy giáp.
Bệnh Parkinson.
Đột quỵ.
Tổn thương tủy sống.
Đái tháo đường.
Đa xơ cứng.
Bệnh mô liên kết.
Bệnh đại trực tràng.
Bệnh hậu môn gây đau khi đi ngoài.
Thuốc
Các thuốc thường gây táo bón gồm:
Thuốc giảm đau opioid.
Thuốc kháng cholinergic.
Một số thuốc chống trầm cảm.
Thuốc sắt.
Thuốc bổ sung calci.
Thuốc kháng acid chứa nhôm.
Một số thuốc điều trị tăng huyết áp.
Một số thuốc điều trị Parkinson.
Không nên tự ý ngừng thuốc mà cần trao đổi với bác sĩ để điều chỉnh.
Ảnh hưởng của táo bón mạn tính
Tổn thương hậu môn
Phân khô và rặn nhiều có thể gây:
Nứt kẽ hậu môn.
Chảy máu hậu môn.
Trĩ.
Đau rát khi đại tiện.
Ứ phân
Phân tích tụ lâu ngày có thể đóng thành khối cứng trong trực tràng, đặc biệt ở người cao tuổi.
Phân lỏng có thể rò quanh khối phân và dễ bị nhầm với tiêu chảy.
Sa trực tràng và suy yếu sàn chậu
Rặn kéo dài làm tăng áp lực vùng chậu, khiến tổ chức nâng đỡ trực tràng yếu dần và có thể dẫn đến sa trực tràng.
Rối loạn tiểu tiện
Khối phân lớn trong trực tràng có thể chèn ép bàng quang hoặc niệu đạo, gây tiểu khó hoặc bí tiểu.
Ảnh hưởng tinh thần
Người bệnh có thể lo âu, mất ngủ, ngại ăn, phụ thuộc thuốc nhuận tràng và giảm chất lượng cuộc sống.
Nguy cơ ở người có bệnh tim mạch
Rặn quá mạnh làm áp lực trong lồng ngực và ổ bụng tăng, huyết áp dao động và tim phải làm việc nhiều hơn.
Người có bệnh mạch vành, suy tim, tăng huyết áp hoặc tiền sử đột quỵ cần tránh rặn kéo dài.
Nhận định của Trung y
Trong Trung y, táo bón mạn tính thuộc phạm vi Tiện bí 便秘. Bệnh thường liên quan đến sự mất điều hòa chức năng truyền đạo của Đại trường.
Đại tiện bình thường cần:
Tân dịch đầy đủ để làm nhuận phân.
Khí cơ thông thuận để đưa phân xuống.
Chính khí đầy đủ để tạo sức đẩy.
Táo bón mạn tính thường không chỉ có một cơ chế. Bệnh kéo dài có thể từ Thực chuyển Hư hoặc Hư Thực xen lẫn.
Ví dụ:
Khí trệ lâu ngày có thể hóa nhiệt và hao tân dịch.
Dùng thuốc công hạ kéo dài có thể làm tổn thương Tỳ khí.
Nhiệt lâu ngày làm hao Âm và Huyết.
Khí hư lâu ngày có thể dẫn đến dương hư.
Các tạng phủ liên quan mật thiết gồm Tỳ, Vị, Đại trường, Can, Thận và Phế.
Biện chứng luận trị
Thể nhiệt bí mạn tính
Triệu chứng
Phân khô cứng, đại tiện thưa; miệng khô, hơi thở hôi, tiểu vàng, bụng đầy; lưỡi đỏ hoặc rêu vàng khô; mạch sác.
Chứng cơ
Nhiệt lưu lại ở Vị và Đại trường, lâu ngày làm tân dịch hao tổn.
Phép trị
Thanh nhiệt, sinh tân, nhuận tràng.
Phương thang
Ma tử nhân hoàn gia giảm.
Nếu tân dịch hao tổn rõ, có thể gia Sinh địa hoàng, Huyền sâm, Mạch môn đông.
Không nên dùng Đại hoàng kéo dài nếu nhiệt đã giảm và cơ thể có biểu hiện hư.
Thể khí bí
Triệu chứng
Muốn đại tiện nhưng khó đi; phân thành viên nhỏ, có thể không khô; bụng trướng, đau tức; ợ hơi, hay thở dài; triệu chứng tăng khi căng thẳng; mạch huyền.
Chứng cơ
Can khí uất, khí cơ Đại trường không thông.
Phép trị
Sơ Can, lý khí, đạo trệ, thông tiện.
Phương thang
Lục ma thang gia giảm.
Nếu phân khô, phối hợp các vị nhuận tràng.
Nếu khí trệ kèm Tỳ hư, cần vừa lý khí vừa kiện Tỳ, không nên chỉ dùng thuốc phá khí.
Thể khí hư bí
Triệu chứng
Phân không quá khô nhưng khó đẩy; phải rặn nhiều; khi rặn ra mồ hôi, hơi thở ngắn; sau đại tiện mệt lả; sắc mặt nhợt, ăn kém; lưỡi nhạt; mạch hư.
Chứng cơ
Tỳ khí hoặc Phế khí hư, Đại trường thiếu sức vận chuyển.
Phép trị
Ích khí, kiện Tỳ, bổ Phế, nhuận tràng.
Phương thang
Hoàng kỳ thang gia giảm.
Nếu kèm sa trực tràng hoặc khí hãm, có thể dùng Bổ trung ích khí thang gia giảm.
Thể huyết hư bí
Triệu chứng
Phân khô; sắc mặt nhợt, chóng mặt, hồi hộp, nhìn mờ; phụ nữ có thể kinh nguyệt ít; lưỡi nhạt; mạch tế sáp.
Chứng cơ
Huyết hư, Đại trường mất sự nhu dưỡng.
Phép trị
Dưỡng huyết, nhuận táo, thông tiện.
Phương thang
Nhuận trường hoàn gia giảm.
Có thể dùng Đương quy, Thục địa hoàng, Hỏa ma nhân, Đào nhân, Chế thủ ô và Úc lý nhân tùy chứng trạng.
Thể âm hư bí
Triệu chứng
Phân rất khô; miệng họng khô, nhất là về chiều; khát nhưng uống từng ngụm; nóng âm ỉ, ra mồ hôi trộm, lưng gối mỏi; lưỡi ít rêu hoặc không rêu; mạch tế sác.
Chứng cơ
Âm dịch hao tổn, Đại trường mất sự nhu nhuận.
Phép trị
Dưỡng âm, sinh tân, nhuận tràng.
Phương thang
Tăng dịch thang gia giảm.
Có thể gia Hỏa ma nhân, Bá tử nhân hoặc Úc lý nhân để tăng tác dụng nhuận tràng.
Thể dương hư bí
Triệu chứng
Phân không khô nhưng khó đi; phải rặn nhiều; sợ lạnh, chân tay lạnh, lưng gối mỏi, tiểu trong dài; lưỡi nhạt ướt; mạch trầm nhược.
Chứng cơ
Thận dương suy, Hạ tiêu thiếu ôn vận, Đại trường không đủ sức truyền tống.
Phép trị
Ôn bổ Thận dương, nhuận tràng, thông tiện.
Phương thang
Tế xuyên tiễn gia giảm.
Nếu Hàn rõ, có thể gia Nhục quế nhưng phải căn cứ thể trạng.
Thể thấp trệ
Triệu chứng
Phân mềm hoặc nhão nhưng khó đi hết; bụng nặng, trướng; người mệt, nặng nề; lưỡi rêu dày nhờn; mạch nhu hoặc hoạt.
Chứng cơ
Thấp tà ngăn trở khí cơ, Tỳ mất kiện vận, Đại trường truyền tống không lợi.
Phép trị
Kiện Tỳ, hóa thấp, hành khí, thông tiện.
Phương thang
Căn cứ chứng trạng phối hợp các vị kiện Tỳ, hóa thấp và lý khí.
Không nên lạm dụng thuốc có dầu hoặc thuốc tả hạ khi thấp trệ là chính.
Châm cứu
Các huyệt thường dùng gồm:
Vị-25 Thiên khu: Điều hòa Đại trường.
Tỳ-15 Đại hoành: Thông điều Đại trường.
Tam tiêu-6 Chi câu: Điều khí Tam tiêu, hỗ trợ thông tiện.
Vị-36 Túc tam lý: Kiện Tỳ, ích khí, điều hòa trường vị.
Tỳ-6 Tam âm giao: Kiện Tỳ, dưỡng huyết, điều Can Thận.
Can-3 Thái xung: Sơ Can, hành khí.
Nhâm-6 Khí hải: Bổ khí và điều khí Hạ tiêu.
Bàng quang-25 Đại trường du: Điều lý Đại trường.
Thận-6 Chiếu hải: Dưỡng âm, nhuận táo.
Nhâm-4 Quan nguyên: Bổ Thận và nguyên khí.
Bàng quang-23 Thận du: Bổ Thận.
Phép bổ, tả và cứu phải căn cứ vào thể Hư, Thực, Hàn hoặc Nhiệt. Người bệnh không nên tự châm cứu.
Nguyên tắc điều trị lâu dài
Xác định đúng nguyên nhân
Không nên mặc nhiên xem táo bón kéo dài là do ăn ít chất xơ. Cần xem xét thuốc đang dùng, bệnh lý nền, rối loạn sàn chậu và các dấu hiệu cảnh báo.
Khôi phục phản xạ đại tiện
Nên đi đại tiện khi có nhu cầu và tập một giờ đi ngoài tương đối cố định, thường sau bữa sáng.
Điều chỉnh tính chất phân
Mục tiêu là phân mềm nhưng thành khuôn, không phải tạo phân lỏng bằng thuốc xổ.
Phục hồi cơ sàn chậu
Người phải rặn nhiều, phân không khô nhưng có cảm giác tắc có thể cần tập phản hồi sinh học và phục hồi chức năng cơ sàn chậu.
Điều chỉnh thuốc nhuận tràng
Không nên đột ngột ngừng thuốc nếu đã dùng lâu ngày. Việc giảm thuốc cần tiến hành từng bước khi chế độ ăn, thuốc phù hợp và phản xạ đại tiện đã được cải thiện.
Điều dưỡng và phòng ngừa
Ăn uống
Tăng dần rau, trái cây, đậu và ngũ cốc nguyên hạt.
Uống đủ nước theo thể trạng.
Không tăng chất xơ quá nhanh nếu đang đầy bụng nhiều.
Người có hẹp ruột hoặc nghi tắc nghẽn không được tự ý dùng nhiều chất xơ.
Vận động
Đi bộ và vận động hằng ngày giúp kích thích nhu động ruột và duy trì sức cơ.
Tư thế đại tiện
Có thể kê chân trên ghế thấp để đầu gối cao hơn hông. Thở ra chậm, thả lỏng bụng và sàn chậu, tránh nín thở rặn mạnh.
Điều hòa tinh thần
Giảm căng thẳng, ngủ đủ và duy trì sinh hoạt điều độ có ý nghĩa đặc biệt đối với táo bón do khí trệ và hội chứng ruột kích thích.
Không lạm dụng thuốc xổ
Thuốc nhuận tràng kích thích và thụt tháo chỉ nên sử dụng đúng chỉ định. Dùng kéo dài có thể gây đau quặn, rối loạn điện giải và phụ thuộc.
Khi nào cần đi khám?
Táo bón kéo dài và không cải thiện.
Triệu chứng ngày càng nặng.
Táo bón mới xuất hiện ở người trên 50 tuổi.
Có máu trong phân hoặc phân đen.
Sụt cân không rõ nguyên nhân.
Thiếu máu.
Đau bụng kéo dài.
Táo bón xen kẽ tiêu chảy.
Phân nhỏ bất thường kéo dài.
Bụng chướng, nôn hoặc không trung tiện được.
Phải dùng tay hỗ trợ đại tiện thường xuyên.
Phụ thuộc thuốc nhuận tràng.
Có tiền sử gia đình ung thư đại trực tràng.
Nói tóm lại
Táo bón mạn tính là tình trạng rối loạn đại tiện kéo dài, có thể thuộc chức năng hoặc thực thể. Bệnh thường liên quan đến chế độ ăn, thói quen nhịn đại tiện, thiếu vận động, rối loạn cơ sàn chậu, tuổi cao, thuốc hoặc các bệnh lý mạn tính.
Theo Trung y, bệnh có thể thuộc Nhiệt, khí trệ, khí hư, Huyết hư, Âm hư, dương hư hoặc thấp trệ. Bệnh kéo dài thường xuất hiện tình trạng Hư Thực xen lẫn, vì vậy không nên chỉ dùng thuốc thông tiện mà cần biện chứng toàn diện.
Điều trị lâu dài cần hướng đến khôi phục phản xạ đại tiện, tạo phân mềm nhưng thành khuôn, điều chỉnh ăn uống và vận động, phục hồi cơ sàn chậu, đồng thời xử lý đúng bệnh nguyên phát.
Trường Xuân biên soạn