Đờm là sản phẩm bệnh lý thường gặp trong các bệnh đường hô hấp ở trẻ em. Khi Phế, Tỳ và chức năng vận hành thủy dịch điều hòa, tân dịch được phân bố bình thường, không hình thành đờm bệnh lý. Khi ngoại tà phạm Phế, Tỳ mất kiện vận hoặc Phế khí không tuyên giáng, tân dịch đình lại, cô đọng thành đờm.
Ở trẻ em, đàm chứng thường xuất hiện trong cảm mạo, viêm phế quản, viêm phổi, hen suyễn, ho gà và các bệnh có ho kéo dài. Việc quan sát số lượng, màu sắc, độ đặc loãng và mùi của đờm giúp nhận biết phần nào tính chất hàn, nhiệt, táo, thấp và mức độ bệnh.
Tuy nhiên, màu sắc của đờm không đủ để tự xác định tác nhân gây bệnh hoặc tự dùng kháng sinh. Trẻ ho nhiều đờm, khó thở, tím môi, sốt kéo dài hoặc đờm lẫn máu cần được khám y tế.
I. ĐỜM ĐƯỢC HÌNH THÀNH NHƯ THẾ NÀO?
Đường hô hấp bình thường luôn có một lớp dịch mỏng giúp giữ ẩm, bảo vệ niêm mạc và giữ lại bụi cùng các vật lạ. Nhờ chuyển động của lông chuyển, những chất này được đưa dần lên họng để nuốt xuống hoặc khạc ra ngoài.
Khi khí quản, phế quản hoặc phổi bị viêm, niêm mạc sung huyết và phù nề, lượng dịch tiết tăng. Các tế bào viêm, chất nhầy, tế bào biểu mô bong ra và các thành phần khác hòa lẫn tạo thành đờm.
Nếu đờm quá nhiều hoặc quá đặc, hệ thống lông chuyển không thể đẩy ra ngoài kịp thời. Đờm sẽ tích lại trong đường thở, làm tăng sức cản hô hấp, gây ho, khò khè, khó thở và giảm thông khí.
II. NHẬN THỨC CỦA TRUNG Y VỀ ĐỜM
Trung y cho rằng:
Tỳ là nguồn sinh đờm.
Phế là nơi chứa đờm.
Thận liên quan đến khí hóa thủy dịch và nạp khí.
Tỳ mất kiện vận thì thủy thấp đình lại và tụ thành đờm. Đờm dâng lên Phế làm Phế khí mất tuyên giáng, sinh ho và suyễn. Nếu bệnh kéo dài, Thận khí suy, thủy dịch càng khó chuyển hóa, đờm dễ tái phát.
Vì vậy, điều trị đờm không chỉ nhằm làm đờm loãng hoặc dễ khạc mà còn phải căn cứ nguyên nhân:
Ngoại tà thì giải biểu, tuyên Phế.
Đàm nhiệt thì thanh nhiệt hóa đàm.
Hàn đàm thì ôn hóa hàn đàm.
Đàm thấp thì kiện Tỳ, táo thấp, hóa đàm.
Táo đàm thì nhuận Phế, sinh tân, hóa đàm.
III. Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUAN SÁT ĐỜM
Thường thiên về hàn đàm hoặc đàm thấp.
Có thể kèm sợ lạnh, nghẹt mũi, tay chân lạnh, không khát, lưỡi nhạt, rêu trắng.
Thường gặp khi Phế khí không tuyên, hàn ẩm hoặc đàm thấp tích lại.
Nếu trẻ đồng thời khò khè, thở gấp hoặc co kéo lồng ngực thì cần khám sớm.
Thường thiên về đàm nhiệt.
Có thể kèm sốt, khát nước, họng đỏ, tiểu vàng, đại tiện táo, lưỡi đỏ và rêu vàng.
Thường liên quan đến táo đàm hoặc Phế âm bị tổn thương.
Trẻ có thể ho khan, họng khô, môi khô, ít nước bọt và lưỡi đỏ ít rêu.
Có thể gặp trong nhiễm trùng phổi, áp xe phổi hoặc giãn phế quản.
Đây không phải là tình trạng chỉ điều trị bằng thuốc hóa đàm tại nhà.
Có thể do niêm mạc bị tổn thương sau ho mạnh, nhưng cũng có thể liên quan đến viêm phổi, lao phổi, giãn phế quản hoặc bệnh khác.
Đờm lẫn máu tái diễn hoặc khạc ra máu cần được khám ngay.
IV. VÌ SAO CẦN GIỮ ĐƯỜNG THỞ THÔNG THOÁNG?
Đờm đặc và nhiều có thể bít tắc phế quản, làm giảm lượng không khí đến phế nang. Trẻ càng nhỏ, đường thở càng hẹp nên chỉ một lượng dịch tiết tương đối ít cũng có thể làm sức cản hô hấp tăng đáng kể.
Khi đường thở bị tắc, trẻ có thể xuất hiện:
Thở nhanh.
Khò khè.
Co kéo lồng ngực.
Cánh mũi phập phồng.
Tím quanh môi.
Mệt, bú kém hoặc không thể uống.
Lơ mơ do thiếu oxy.
Không nên tự dùng thuốc an thần hoặc thuốc ức chế ho mạnh khi trẻ đang nhiều đờm, vì phản xạ ho bị giảm có thể làm dịch tiết ứ lại sâu hơn trong đường thở.
V. NGUYÊN TẮC HÓA ĐÀM TRONG TRUNG Y
Dùng khi đờm vàng, đặc, khó khạc, kèm miệng khát, họng đỏ, lưỡi đỏ và rêu vàng.
Phép trị gồm thanh Phế nhiệt, hóa đàm và giáng khí.
Dùng khi đờm trắng loãng, lượng nhiều, sợ lạnh, không khát, lưỡi nhạt và rêu trắng.
Phép trị gồm ôn Phế, tán hàn, hóa ẩm và giáng khí.
Dùng khi đàm thấp nhiều, ngực đầy, ăn kém, buồn nôn, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt và rêu trắng nhờn.
Phép trị gồm kiện Tỳ, táo thấp, lý khí và hóa đàm.
Dùng khi đờm ít, dính, khó khạc, ho khan, họng khô, môi khô và đại tiện táo.
Phép trị gồm dưỡng âm, sinh tân, nhuận Phế và hóa đàm.
VI. NHỮNG VỊ THANH HÓA NHIỆT ĐỜM
Tính vị: Đắng, ngọt, hơi hàn.
Công dụng: Thanh nhiệt nhuận Phế, hóa đàm chỉ khái.
Phù hợp hơn với ho do Phế táo hoặc Phế nhiệt, đờm ít, dính và khó khạc.
Không dùng kéo dài khi trẻ đàm trắng loãng, bụng lạnh hoặc tiêu chảy.
Tính vị: Đắng, hàn.
Công dụng: Thanh nhiệt hóa đàm, tán kết.
Phù hợp hơn khi đàm nhiệt rõ, đờm vàng đặc hoặc có cảm giác ngực đầy.
Tính vị: Đắng, cay, hơi hàn.
Công dụng: Giáng khí hóa đàm, tán phong nhiệt.
Thường dùng khi phong nhiệt phạm Phế, ho, thở gấp và đờm dính khó khạc.
Tính vị: Ngọt, hàn.
Công dụng: Thanh nhiệt hóa đàm, khoan hung, nhuận táo.
Phù hợp với đàm nhiệt, ngực tức, đờm vàng đặc và đại tiện táo.
Tính vị: Ngọt, hàn.
Công dụng: Thanh hóa nhiệt đờm, thanh Tâm.
Thường được dùng trong các chứng đàm nhiệt, nhưng liều dùng ở trẻ phải được xác định theo tuổi và tình trạng bệnh.
Tính vị: Ngọt, hàn.
Công dụng: Thanh nhiệt hóa đàm, lợi khiếu.
Chỉ phù hợp khi có nhiệt đờm rõ. Không dùng cho trẻ Tỳ Vị hư hàn, đại tiện lỏng hoặc đàm trắng loãng.
Tính vị: Cay, đắng, đại hàn.
Công dụng: Tả Phế, bình suyễn, hành thủy.
Đây là vị có tác dụng tương đối mạnh, không dùng như thuốc hóa đàm thông thường cho trẻ. Chỉ sử dụng khi được thầy thuốc biện chứng và theo dõi.
Tính vị: Đắng, mát.
Công dụng: Thanh hóa nhiệt đờm.
Dược liệu được chế từ Nam tinh, cần bảo đảm đúng quy trình chế biến. Không tự mua bột không rõ nguồn gốc cho trẻ.
VII. NHỮNG VỊ ÔN HÓA HÀN ĐỜM
Tính vị: Cay, ấm.
Công dụng: Táo thấp hóa đàm, giáng nghịch, chỉ nôn.
Bán hạ sống có độc, chỉ được dùng loại đã chế biến đúng quy cách. Không tự dùng Bán hạ sống hoặc bột không rõ nguồn gốc.
Tính vị: Cay, ấm.
Công dụng: Giáng khí hóa đàm, bình suyễn, nhuận trường.
Thường dùng khi hàn đàm, khí nghịch, ho suyễn và đàm trắng.
Tính vị: Cay, ấm.
Công dụng: Ôn Phế hóa đàm, lợi khí, tán kết.
Phù hợp hơn với hàn đàm, đau tức ngực và đờm khó khạc. Vị thuốc có tính kích thích, không dùng liều cao hoặc kéo dài cho trẻ.
Tính vị: Đắng, cay, mặn, hơi ấm.
Công dụng: Giáng khí, hóa đàm, chỉ nôn.
Khi sắc thường cần bọc trong túi vải để tránh lông hoa gây kích thích họng.
Tính vị: Cay, ngọt, hơi ấm.
Công dụng: Giáng khí, hóa đàm, chỉ khái.
Có thể dùng trong nhiều dạng ho đàm, đặc biệt khi Phế khí nghịch và đàm trắng.
Bạch phụ tử và Chế Nam tinh được lược bỏ khỏi phần khuyến nghị vì có độc tính, không thích hợp để gia đình tự dùng cho trẻ.
VIII. CÁC PHƯƠNG HÓA ĐÀM THƯỜNG DÙNG
Thành phần thường dùng: Chế Bán hạ, Trần bì, Phục linh, Chích cam thảo.
Công dụng: Táo thấp hóa đàm, lý khí hòa trung.
Phù hợp với đàm thấp, ho nhiều đàm trắng, ngực đầy, buồn nôn, rêu lưỡi trắng nhờn.
Không phù hợp với ho khan, đờm ít, họng khô và Phế âm hư.
Thành phần thường dùng: Bán hạ, Trần bì, Phục linh, Cam thảo, Trúc nhự, Chỉ thực, Sinh khương, Đại táo.
Công dụng: Lý khí hóa đàm, hòa Vị, thanh đởm.
Thường dùng khi đàm nhiệt kèm buồn nôn, ngực đầy, mất ngủ hoặc tinh thần không yên.
Thành phần: Hoàng liên, Khương Bán hạ, Toàn Qua lâu.
Công dụng: Thanh nhiệt hóa đàm, khoan hung tán kết.
Phù hợp khi đàm nhiệt kết ở ngực, tức hoặc đau ngực, đờm đặc, miệng đắng và rêu vàng nhờn.
Trẻ đau ngực hoặc khó thở cần được khám để loại trừ viêm phổi, tràn dịch màng phổi và các bệnh nặng khác.
Thành phần thường dùng: Bối mẫu, Qua lâu, Thiên hoa phấn, Phục linh, Quất hồng, Cát cánh.
Công dụng: Nhuận Phế, thanh nhiệt, hóa đàm.
Phù hợp với táo đàm, ho sặc, đờm ít dính, họng khô.
Thành phần thường dùng: Hạnh nhân, Tử tô diệp, Bán hạ, Trần bì, Phục linh, Tiền hồ, Cát cánh, Chỉ xác, Sinh khương, Đại táo.
Công dụng: Tán hàn, tuyên Phế, hóa đàm.
Phù hợp với ngoại cảm phong hàn, ho, nghẹt mũi, đau đầu và đờm trắng.
Hạnh nhân trong phương phải là dược liệu đã được chế biến và kê đúng liều. Không tự dùng Khổ hạnh nhân cho trẻ.
IX. THỰC DƯỠNG NHUẬN TÁO HÓA ĐÀM
Thành phần: Lê 1 quả, Xuyên bối mẫu lượng phù hợp theo tuổi, đường phèn lượng nhỏ.
Cách làm: Khoét lõi lê, cho bột Xuyên bối và đường phèn vào, hấp chín.
Phù hợp hơn với ho khan, đờm ít dính và họng khô.
Tài liệu nêu Xuyên bối mẫu 10 g, nhưng đây có thể là lượng cao đối với trẻ nhỏ, không áp dụng nguyên liều.
Dùng lê và ngó sen tươi lượng vừa phải, ép lấy nước.
Có thể dùng lượng nhỏ khi họng khô và ho táo.
Không dùng nhiều cho trẻ Tỳ Vị hư hàn, tiêu chảy hoặc đau bụng lạnh.
Khoét giữa củ cải trắng, cho lượng mật ong vừa phải, hấp chín.
Có thể hỗ trợ lý khí và giảm cảm giác đờm vướng.
Không dùng mật ong cho trẻ dưới 12 tháng tuổi vì nguy cơ ngộ độc botulinum.
Thành phần: Bách hợp, Sơn dược, Bạch biển đậu, Ý dĩ nhân, Liên tử và gạo, dùng lượng vừa phải.
Công dụng hỗ trợ: Kiện Tỳ, dưỡng Phế, phù hợp với trẻ bệnh kéo dài, ăn kém và ho nhẹ.
Không nên dùng quá nhiều vị trong một món ăn cho trẻ có tiêu hóa yếu.
X. THỰC DƯỠNG THANH HÓA NHIỆT ĐỜM
Hoa mướp rửa sạch, hãm với nước nóng, có thể thêm một ít mật ong cho trẻ trên một tuổi.
Chỉ dùng như thức uống hỗ trợ, không thay thế điều trị nhiễm trùng.
Lá nhót phải được làm sạch hết lớp lông ở mặt dưới, sắc lấy nước rồi nấu cháo.
Do lá có thể gây kích ứng nếu sơ chế không kỹ, không nên tự dùng cho trẻ nhỏ.
Có thể dùng một lượng nhỏ La hán quả nấu nước cho trẻ lớn khi ho khan, họng khô.
Không dùng nước quá ngọt và không xem là thuốc trị viêm phổi.
Tài liệu nêu cao lê phối hợp nước gừng và mật ong. Sự phối hợp vừa mát vừa ấm cần căn cứ thể bệnh.
Không thích hợp dùng đại trà cho mọi dạng ho.
XI. THỰC DƯỠNG HÓA ĐÀM THẤP
Có thể dùng một lượng nhỏ Trần bì trong cháo hoặc món hầm để lý khí, kiện Vị và hóa đàm.
Không nên làm mứt vỏ quýt với lượng đường lớn cho trẻ ho nhiều đờm.
Hoài sơn có thể dùng nấu cháo, giúp kiện Tỳ và hỗ trợ giảm sinh đàm thấp.
Không cần phối Bán hạ trong món ăn gia đình.
Thịt bưởi có thể dùng như hoa quả thông thường nếu trẻ không bị dị ứng hoặc đau bụng lạnh.
Không nên ngâm bưởi với rượu để dùng cho trẻ.
Có thể dùng Ý dĩ nhân, Bạch biển đậu và gạo nấu cháo khi trẻ Tỳ hư, ăn kém, đàm trắng và đại tiện hơi lỏng.
Cần nấu thật mềm và dùng lượng vừa phải.
XII. CHĂM SÓC TRẺ NHIỀU ĐỜM
Cho trẻ uống đủ nước nếu không có chỉ định hạn chế dịch.
Tiếp tục cho bú mẹ đối với trẻ còn bú.
Thay đổi tư thế thường xuyên.
Giữ phòng thông thoáng, không có khói thuốc.
Trẻ lớn nên được hướng dẫn ho nhẹ nhưng có hiệu quả để đẩy đờm.
Không ép trẻ ho liên tục khi đang mệt hoặc khó thở.
Không tự hút đờm sâu bằng miệng hoặc dụng cụ không bảo đảm vệ sinh.
Không vỗ lưng mạnh khi trẻ đang ho ra máu, đau ngực hoặc nghi tràn khí màng phổi.
XIII. NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN TỰ ÁP DỤNG
Không dùng Khổ hạnh nhân hoặc Bắc hạnh không rõ nguồn gốc.
Không dùng Bạch phụ tử, Chế Nam tinh hoặc Nam tinh sống cho trẻ.
Không dùng Tạo giác vì có tính kích thích mạnh và nguy cơ độc tính.
Không tự cho trẻ dùng thuốc chứa Ma hoàng.
Không dùng mật rắn hoặc chế phẩm động vật không rõ nguồn gốc.
Không tự dùng thuốc thành phẩm ghi liều chung mà không căn cứ tuổi và cân nặng.
Không dùng thuốc ức chế ho mạnh khi trẻ đang nhiều đờm.
Không tự dùng thuốc hóa đàm kéo dài khi chưa xác định nguyên nhân ho.
XIV. DẤU HIỆU CẦN ĐƯA TRẺ ĐI KHÁM KHẨN CẤP
Thở nhanh hoặc khó thở tăng.
Co kéo lồng ngực.
Cánh mũi phập phồng.
Tím môi hoặc đầu chi.
Không thể bú, ăn hoặc uống.
Lơ mơ, khó đánh thức hoặc co giật.
Đờm lẫn máu.
Đờm mủ có mùi hôi.
Sốt cao kéo dài.
Đột ngột ho sặc sau khi ăn hoặc chơi vật nhỏ.
Khò khè chỉ rõ ở một bên phổi.
Nói tóm lại, đờm trong Trung y hình thành chủ yếu do Phế mất tuyên giáng và Tỳ mất kiện vận, lâu ngày có thể liên quan đến Thận. Điều trị cần phân biệt nhiệt đờm, hàn đờm, đàm thấp và táo đàm, không nên thấy ho có đờm là dùng một phương hóa đàm giống nhau. Thanh hóa nhiệt đờm dùng khi đờm vàng đặc và có nhiệt; ôn hóa hàn đờm dùng khi đờm trắng loãng và có hàn; kiện Tỳ hóa thấp dùng khi đàm nhiều kèm ăn kém, bụng đầy; nhuận Phế hóa đàm dùng khi đờm ít dính và họng khô. Đối với trẻ em, mọi vị thuốc và phương thang đều phải điều chỉnh theo tuổi, cân nặng và bệnh nền, đồng thời cần ưu tiên giữ đường thở thông thoáng và phát hiện sớm dấu hiệu khó thở.
Trường Xuân biên soạn