Bệnh mạch máu não do đái tháo đường là tình trạng tổn thương mạch máu não xuất hiện trên nền đái tháo đường kéo dài. Biểu hiện thường gặp gồm nhồi máu não, huyết khối não, cơn thiếu máu não thoáng qua và các di chứng như liệt nửa người, méo miệng, nói khó, rối loạn nuốt và giảm cảm giác.
Theo Trung y, bệnh thuộc phạm vi Trúng phong 中風, thường phát sinh trên nền Tiêu khát lâu ngày. Bệnh cơ chủ yếu là bản hư tiêu thực:
Bản hư gồm âm hư, khí hư, khí âm lưỡng hư hoặc âm dương cùng hư.
Tiêu thực gồm phong, hỏa, đàm và huyết ứ trở bế kinh lạc.
Trong đó, khí âm suy tổn và huyết ứ trở lạc là bệnh cơ thường gặp ở người đái tháo đường bị đột quỵ.
I. ĐẶC ĐIỂM BỆNH CƠ
Tiêu khát lâu ngày làm tân dịch hao tổn, khí âm dần suy. Khí hư không thúc đẩy được huyết hành, âm hư không nhu dưỡng được mạch lạc, từ đó huyết ứ dễ hình thành.
Nếu người bệnh đồng thời có béo phì, đàm thấp, tăng huyết áp hoặc rối loạn lipid máu thì đàm trọc và huyết ứ càng dễ kết lại trong mạch.
Khi gặp các yếu tố như tình chí kích động, lao lực, ăn uống thất thường hoặc huyết áp dao động, nội phong có thể động, đàm và huyết ứ theo phong đi lên, làm thanh khiếu bị trở và kinh lạc mất nuôi dưỡng.
Bệnh có thể biểu hiện qua:
Bán thân bất toại.
Nửa người tê bì.
Méo miệng.
Lưỡi cứng, nói ngọng.
Nuốt khó.
Chóng mặt.
Hôn mê.
Sau giai đoạn cấp, người bệnh thường còn lại các di chứng vận động, cảm giác, ngôn ngữ và nuốt.
II. GIAI ĐOẠN CẤP VÀ NGUYÊN TẮC XỬ TRÍ
Các dấu hiệu gợi ý đột quỵ gồm:
Méo miệng đột ngột.
Yếu hoặc tê một bên tay chân.
Nói khó hoặc không hiểu lời.
Mất thăng bằng.
Chóng mặt dữ dội.
Mất thị lực đột ngột.
Đau đầu dữ dội khác thường.
Rối loạn ý thức.
Đây là tình trạng cấp cứu. Người bệnh cần được đưa đến cơ sở có khả năng chụp não và điều trị đột quỵ càng sớm càng tốt.
Không tự dùng thuốc Trung y, châm cứu, cứu ngải, cạo gió, chích máu hoặc xoa bóp trong lúc chưa xác định là nhồi máu hay xuất huyết não.
Không cho người đang lơ mơ, nuốt khó hoặc méo miệng uống thuốc, nước hoặc thức ăn vì có nguy cơ sặc vào phổi.
Trung y chỉ nên được phối hợp sau khi tình trạng cấp đã được đánh giá và ổn định.
III. ÂM HƯ PHONG ĐỘNG, HUYẾT Ứ TRỞ LẠC
Chủ chứng
Bệnh khởi phát đột ngột.
Liệt hoặc tê nửa người.
Méo miệng.
Lưỡi cứng, nói ngọng.
Hoa mắt, ù tai.
Mất ngủ, bứt rứt.
Lòng bàn tay và bàn chân nóng.
Miệng khô, khát nước.
Đại tiện táo.
Tiểu vàng.
Lưỡi đỏ sẫm hoặc đỏ tím, ít tân dịch.
Mạch tế sác hoặc huyền tế sác.
Bệnh cơ
Tiêu khát lâu ngày làm Can Thận âm hư. Âm không tiềm được dương, nội phong động; huyết ứ theo phong làm kinh lạc bị bế trở.
Phép trị
Dưỡng âm tức phong, hoạt huyết thông lạc.
Phương thang tham khảo
Dưỡng âm thông lạc thang gia giảm.
Các vị thường dùng gồm Sinh địa, Huyền sâm, Thiên hoa phấn, Thạch hộc, Câu đằng, Cúc hoa, Nữ trinh tử, Tang ký sinh, Câu kỷ tử, Xích thược, Bạch thược, Đan sâm và Địa long.
Chú ý
Câu đằng không nên sắc quá lâu. Người đang sử dụng thuốc chống đông hoặc thuốc kháng tiểu cầu cần thận trọng với Đan sâm, Xích thược và các vị hoạt huyết.
IV. KHÍ ÂM LƯỠNG HƯ, LẠC MẠCH Ứ TRỞ
Chủ chứng
Bán thân bất toại.
Tê nửa người.
Méo miệng.
Nói khó.
Mệt mỏi.
Hơi thở ngắn.
Lười nói.
Miệng khô.
Tự ra mồ hôi hoặc đạo hãn.
Hồi hộp.
Mất ngủ.
Đại tiện táo.
Lưỡi to bệu, có dấu răng.
Rêu mỏng hoặc bong.
Mạch tế, yếu hoặc tế sác.
Bệnh cơ
Khí âm đều suy, khí không vận huyết, âm không nhu dưỡng kinh mạch, huyết ứ lưu lại trong lạc.
Phép trị
Ích khí dưỡng âm, hoạt huyết thông lạc.
Phương thang tham khảo
Bổ dương hoàn ngũ thang hợp Sinh mạch tán gia giảm.
Các vị thường dùng gồm Hoàng kỳ, Đảng sâm, Sơn dược, Huyền sâm, Mạch môn, Cát căn, Ngũ vị tử, Đương quy, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Xích thược, Bạch thược, Kê huyết đằng, Ngưu tất và Tang ký sinh.
Thể này thường gặp trong giai đoạn phục hồi, khi liệt còn rõ nhưng biểu hiện thực nhiệt không nổi bật.
V. PHONG ĐÀM HUYẾT Ứ, TÝ TRỞ MẠCH LẠC
Chủ chứng
Liệt hoặc tê nửa người.
Méo miệng.
Nói khó.
Hoa mắt, chóng mặt.
Đầu nặng.
Ngực bụng đầy.
Nhiều đàm.
Lưỡi tối.
Rêu trắng hoặc trắng nhờn.
Mạch huyền hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, đàm thấp nội sinh. Đàm theo phong đi lên, kết hợp huyết ứ làm kinh lạc bị trở.
Phép trị
Hóa đàm tức phong, hoạt huyết thông lạc.
Phương thang tham khảo
Hóa đàm thông lạc thang gia giảm.
Các vị thường dùng gồm Pháp bán hạ, Bạch truật, Thiên ma, Đởm nam tinh, Đan sâm, Hương phụ và lượng nhỏ Đại hoàng chế khi có phủ khí không thông.
Đởm nam tinh và Đại hoàng không nên tự dùng. Người cao tuổi, suy yếu hoặc tiêu chảy cần đặc biệt thận trọng.
VI. ĐÀM NHIỆT PHỦ THỰC
Chủ chứng
Khởi phát đột ngột.
Liệt nửa người.
Méo miệng.
Nói khó.
Có thể lơ mơ hoặc sảng.
Phiền táo.
Nhiều đàm.
Thở gấp.
Miệng hôi.
Đại tiện nhiều ngày không thông.
Rêu lưỡi vàng dày hoặc vàng khô.
Mạch huyền hoạt.
Bệnh cơ
Đàm nhiệt uất kết, phủ khí không thông, thanh khiếu bị che lấp.
Phép trị
Thông phủ, hóa đàm, thanh nhiệt.
Trong giai đoạn cấp có rối loạn ý thức, thể bệnh này không được tự điều trị bằng thuốc xổ hoặc thuốc Trung y. Trước hết phải loại trừ xuất huyết não, tắc ruột, mất nước và rối loạn điện giải.
VII. ĐÀM THẤP CHE LẤP THANH KHIẾU
Chủ chứng
Thể trạng béo.
Nhiều đàm.
Thần trí không rõ.
Liệt nửa người.
Tay chân mềm, lạnh.
Mặt nhợt.
Môi tím.
Đàm dãi nhiều.
Lưỡi tối, rêu trắng dày nhờn.
Mạch trầm hoạt.
Bệnh cơ
Đàm thấp tích tụ, thanh dương không thăng, đàm trọc che lấp Tâm khiếu.
Phép trị
Hóa đàm, trừ thấp, tỉnh thần.
Người hôn mê hoặc nuốt khó không được cho uống Tô hợp hương hoàn hay bất kỳ thuốc hoàn nào. Thuốc khai khiếu không thay thế hồi sức và điều trị đột quỵ.
VIII. KHÍ HƯ HUYẾT Ứ
Chủ chứng
Liệt chi.
Nửa người tê bì.
Méo miệng.
Chảy nước miếng trong.
Nói ngọng.
Ít nói.
Mặt nhợt.
Hơi thở ngắn.
Mệt mỏi.
Tự ra mồ hôi.
Đại tiện lỏng.
Tiểu trong dài.
Có thể phù tay chân.
Lưỡi tối, có dấu răng.
Tĩnh mạch dưới lưỡi tím.
Mạch trầm tế.
Bệnh cơ
Chính khí suy, khí không thúc đẩy được huyết, huyết ứ làm kinh lạc mất thông.
Phép trị
Ích khí hoạt huyết, thông kinh lạc.
Phương thang tham khảo
Bổ dương hoàn ngũ thang gia giảm.
Các vị thường dùng gồm Hoàng kỳ, Đương quy vĩ, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Địa long, Đan sâm, Kê huyết đằng và Ngưu tất.
Đây là thể thường gặp trong giai đoạn phục hồi và di chứng, khi người bệnh yếu sức, liệt mềm hoặc vận động phục hồi chậm.
IX. CHÂM CỨU TRONG GIAI ĐOẠN PHỤC HỒI
Châm cứu chỉ nên thực hiện khi:
Tình trạng đột quỵ đã ổn định.
Huyết áp và đường huyết tương đối ổn định.
Không có xuất huyết đang tiến triển.
Không có nhiễm trùng, loét hoặc huyết khối tĩnh mạch sâu.
Người bệnh đã được bác sĩ phục hồi chức năng đánh giá.
Tâm bào-6 Nội quan.
Đốc-26 Thủy câu.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Tâm-1 Cực tuyền.
Phế-5 Xích trạch.
Bàng quang-40 Ủy trung.
Các huyệt này thường được phối hợp trong phục hồi liệt nửa người, nhưng không được dùng thay cho vật lý trị liệu.
Đại trường-15 Kiên ngung.
Đại trường-11 Khúc trì.
Tam tiêu-5 Ngoại quan.
Đại trường-4 Hợp cốc.
Tâm-1 Cực tuyền.
Phế-5 Xích trạch.
Bát tà.
Đởm-30 Hoàn khiêu.
Đởm-34 Dương lăng tuyền.
Bàng quang-40 Ủy trung.
Bàng quang-57 Thừa sơn.
Đởm-39 Huyền chung.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Bàng quang-60 Côn lôn.
Đởm-20 Phong trì.
Thái dương.
Vị-7 Hạ quan.
Vị-4 Địa thương.
Vị-6 Giáp xa.
Đại trường-4 Hợp cốc.
Tam tiêu-17 Ế phong.
Nhâm-23 Liêm tuyền.
Tâm-5 Thông lý.
Đốc-15 Á môn.
Đởm-20 Phong trì.
Không châm sâu vùng cổ ở người đang dùng thuốc chống đông hoặc có rối loạn nuốt nặng.
Châm đầu có thể được phối hợp trong phục hồi vận động và cảm giác.
Vùng vận động bên đối diện được lựa chọn khi liệt nửa người. Vùng cảm giác bên đối diện được lựa chọn khi giảm hoặc rối loạn cảm giác.
Phương pháp này cần do người được đào tạo chuyên sâu thực hiện, đặc biệt ở người cao tuổi và người đang dùng thuốc chống đông.
X. NHĨ CHÂM
Các vùng tai thường được lựa chọn gồm:
Thần môn.
Tâm.
Can.
Tỳ.
Thận.
Giao cảm.
Vùng tương ứng với chi bị liệt.
Nhĩ châm hoặc dán hạt chỉ có vai trò hỗ trợ. Không chích máu và không dùng kích thích mạnh ở người có nguy cơ chảy máu, nhiễm trùng hoặc khả năng lành vết thương kém.
XI. CỨU NGẢI
Cứu ngải có thể được cân nhắc trong giai đoạn phục hồi khi người bệnh thuộc thể khí hư, dương hư, tay chân lạnh và không có rối loạn cảm giác nặng.
Không cứu:
Vùng da mất cảm giác.
Vùng bị loét.
Vùng sưng nóng đỏ.
Người sốt hoặc có nhiễm trùng.
Người huyết áp tăng chưa kiểm soát.
Người có rối loạn ý thức.
Không dùng Phụ tử làm bánh cứu hoặc đắp ngoài da vì nguy cơ ngộ độc và bỏng.
XII. XOA BÓP VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
Xoa bóp có thể hỗ trợ thư giãn cơ, duy trì tầm vận động khớp và tạo cảm giác dễ chịu. Tuy nhiên, phương pháp này không thay thế chương trình phục hồi chức năng.
Các huyệt và vùng thường được tác động gồm:
Đởm-20 Phong trì.
Đởm-21 Kiên tỉnh.
Tiểu trường-11 Thiên tông.
Đại trường-15 Kiên ngung.
Đại trường-11 Khúc trì.
Đại trường-10 Thủ tam lý.
Đại trường-4 Hợp cốc.
Đởm-30 Hoàn khiêu.
Đởm-34 Dương lăng tuyền.
Bàng quang-40 Ủy trung.
Bàng quang-57 Thừa sơn.
Các thủ pháp nên nhẹ, chậm và phù hợp với trương lực cơ.
Không xoa bóp mạnh khi:
Chi sưng nóng hoặc đau bất thường.
Nghi ngờ huyết khối tĩnh mạch sâu.
Có gãy xương.
Có loét hoặc nhiễm trùng.
Đang dùng thuốc chống đông và dễ bầm máu.
XIII. VẬN ĐỘNG PHỤC HỒI
Người chăm sóc có thể hỗ trợ vận động thụ động nhẹ nhàng cho các khớp vai, khuỷu tay, cổ tay, ngón tay, háng, gối và cổ chân.
Không kéo mạnh cánh tay bị liệt vì dễ làm tổn thương khớp vai.
Khuyến khích người bệnh tự tham gia các động tác đơn giản:
Nắm và mở bàn tay.
Trượt tay trên mặt bàn.
Nâng chân khỏi giường.
Tập chuyển tư thế nằm sang ngồi.
Tập giữ thăng bằng khi ngồi.
Chỉ tập khi người bệnh đủ sức giữ thân và được đánh giá nguy cơ té ngã.
Nên có người hỗ trợ hoặc dụng cụ phù hợp.
Không kéo người bệnh đứng bằng cánh tay liệt.
Người bệnh nói khó cần được đánh giá bởi chuyên viên ngôn ngữ trị liệu.
Có thể tập gọi tên đồ vật, nói từ ngắn, đọc chậm và lặp lại câu đơn giản.
Không thúc ép hoặc trách cứ khi người bệnh nói chưa rõ.
Người ho, sặc, giọng ướt sau uống nước hoặc thức ăn lưu trong miệng cần được đánh giá nuốt trước khi ăn bằng đường miệng.
Không tự cho ăn cháo loãng hoặc uống nước vì chất lỏng loãng có thể dễ gây sặc.
XIV. KHÍ CÔNG VÀ ĐẠO DẪN
Khí công chỉ nên dùng cho người bệnh tỉnh táo, huyết áp ổn định, có thể ngồi hoặc nằm an toàn.
Có thể thực hành:
Hô hấp tự nhiên.
Thả lỏng cơ thể.
Ý thủ Đan điền ở mức nhẹ.
Vận động tay chân theo khả năng.
Thái Cực Quyền hoặc Bát Đoạn Cẩm đã được điều chỉnh trong giai đoạn phục hồi muộn.
Không áp dụng các phương pháp:
Nín thở kéo dài.
Ép khí.
Vận khí từ thầy thuốc sang người bệnh.
Kéo lưỡi bằng tay.
Đưa tay hoặc ngón vào miệng người bệnh.
Những phương pháp này không có cơ sở an toàn và có thể gây sặc, tổn thương niêm mạc hoặc nhiễm trùng.
XV. CHĂM SÓC DA VÀ PHÒNG LOÉT TÌ ĐÈ
Người đái tháo đường sau đột quỵ có nguy cơ loét tì đè cao do ít vận động, giảm cảm giác và tuần hoàn kém.
Cần:
Thay đổi tư thế đều đặn.
Giữ ga giường phẳng, sạch và khô.
Kiểm tra vùng cùng cụt, gót chân, mắt cá và khuỷu tay mỗi ngày.
Dùng đệm giảm áp khi cần.
Giữ da sạch và khô.
Bảo đảm dinh dưỡng và đủ protein theo hướng dẫn.
Không xoa mạnh vùng da đã đỏ vì có thể làm tổn thương mô sâu hơn.
Không bôi rượu Hồng hoa hoặc chất gây nóng lên vùng da bị tì đè.
Nếu da đỏ không mất màu khi ấn, xuất hiện phồng nước, trợt da hoặc hoại tử, cần được nhân viên y tế đánh giá.
XVI. CHẾ ĐỘ ĂN
Người bệnh cần được cung cấp đủ dinh dưỡng để phục hồi nhưng vẫn phải kiểm soát đường huyết.
Nên ưu tiên:
Rau.
Ngũ cốc phù hợp.
Nguồn đạm nạc.
Cá.
Đậu.
Sữa không đường khi phù hợp.
Chất béo không bão hòa.
Cần hạn chế:
Đồ uống có đường.
Thức ăn quá mặn.
Mỡ động vật.
Thực phẩm chế biến sẵn.
Rượu.
Thuốc lá.
Người rối loạn nuốt cần thức ăn có độ đặc phù hợp do chuyên viên hướng dẫn, không tự lựa chọn chỉ dựa vào cảm giác dễ nuốt.
XVII. ĐIỀU CHỈNH TÂM LÝ
Sau đột quỵ, người bệnh có thể buồn chán, lo lắng, cáu gắt hoặc cảm thấy mình là gánh nặng.
Đây là phản ứng thường gặp, không phải do người bệnh thiếu ý chí.
Gia đình nên:
Lắng nghe.
Giao tiếp chậm và rõ.
Khuyến khích từng tiến bộ nhỏ.
Không thúc ép.
Duy trì hoạt động người bệnh yêu thích trong khả năng.
Tìm hỗ trợ chuyên môn khi buồn bã hoặc mất hứng thú kéo dài.
Người có ý nghĩ tự làm hại bản thân cần được trợ giúp khẩn cấp.
XVIII. KIỂM SOÁT CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
Phục hồi chức năng chỉ là một phần của điều trị. Để phòng đột quỵ tái phát, cần:
Kiểm soát đường huyết.
Kiểm soát huyết áp.
Điều trị rối loạn lipid máu.
Dùng thuốc kháng tiểu cầu hoặc chống đông khi có chỉ định.
Không hút thuốc.
Hạn chế hoặc tránh rượu.
Duy trì vận động phù hợp.
Theo dõi bệnh tim, rung nhĩ và bệnh động mạch cảnh.
Dùng thuốc đều đặn.
Không tự ngừng thuốc khi thấy triệu chứng đã giảm.
XIX. NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN ÁP DỤNG
Không chích máu Thập tuyên để chữa hôn mê.
Không cứu Thần khuyết bằng Phụ tử.
Không cho người hôn mê uống Tô hợp hương hoàn.
Không tự dùng Đại hoạt lạc đan, Tái tạo hoàn hoặc thuốc thành phẩm không rõ thành phần.
Không châm cứu trong giai đoạn cấp khi chưa xác định loại đột quỵ.
Không kéo lưỡi hoặc đưa ngón tay vào miệng người bệnh.
Không dùng xoa bóp thay cho vật lý trị liệu.
Không xoa bóp vùng da đỏ do tì đè.
Không trì hoãn cấp cứu để dùng thuốc Trung y.
XX. DẤU HIỆU CẦN ĐƯA ĐI CẤP CỨU
Yếu hoặc tê một bên người mới xuất hiện.
Méo miệng.
Nói khó.
Rối loạn ý thức.
Đau đầu dữ dội.
Co giật.
Nôn liên tục.
Khó thở.
Đau ngực.
Đường huyết quá thấp hoặc quá cao.
Khó nuốt hoặc sặc.
Sốt kèm ho sau ăn.
Chi sưng đau đột ngột.
Loét tì đè có mủ, mùi hoặc hoại tử.
Các triệu chứng đột quỵ tái xuất hiện dù chỉ kéo dài vài phút.
Nói tóm lại, bệnh mạch máu não do đái tháo đường theo Trung y thuộc phạm vi Tiêu khát kiêm Trúng phong, thường có nền tảng khí âm suy tổn, đàm trọc và huyết ứ trở lạc. Giai đoạn cấp phải được cấp cứu và điều trị theo y học hiện đại. Sau khi bệnh ổn định, Trung y có thể phối hợp qua biện chứng dùng thuốc, châm cứu, xoa bóp và dưỡng sinh để hỗ trợ phục hồi vận động, cảm giác và ngôn ngữ. Hiệu quả phục hồi phụ thuộc mật thiết vào việc tập luyện đều đặn, phòng biến chứng, kiểm soát đường huyết và ngăn ngừa đột quỵ tái phát.
Trường Xuân biên soạn