Trong Trung y, táo bón thuộc phạm vi chứng “tiện bí” 便秘. Nguyên nhân có thể do nhiệt kết, khí trệ, âm huyết bất túc, tân dịch hao tổn, dương hư hàn ngưng hoặc do thể chất suy yếu khiến đại trường mất chức năng truyền tống.
Việc sử dụng thuốc tả hạ cần căn cứ vào thể bệnh, mức độ hư thực, hàn nhiệt và tình trạng chính khí của người bệnh. Thuốc tả hạ tuy có tác dụng thông tiện nhanh, nhưng phần nhiều có tính công phạt, nếu sử dụng không đúng có thể làm tổn thương Tỳ Vị, hao tân dịch và suy giảm chính khí.
Đại hoàng vị khổ, tính hàn, quy vào các kinh Tỳ, Vị, Đại trường, Can và Tâm bào. Công năng chủ yếu là tả hạ công tích, thanh nhiệt tả hỏa, lương huyết giải độc, trục ứ thông kinh.
Đại hoàng có tác dụng mạnh trong các chứng thực nhiệt tích trệ tại Dương minh và Đại trường, biểu hiện bằng đại tiện bí kết, bụng đầy cứng, đau bụng cự án, miệng khát, mặt đỏ, rêu lưỡi vàng dày hoặc khô, mạch trầm thực.
Trong cổ phương, Đại hoàng thường được phối hợp với Mang tiêu, Hậu phác và Chỉ thực để tả nhiệt thông tiện, phá kết trừ mãn.
Theo nghiên cứu hiện đại, các dẫn chất anthraquinon trong Đại hoàng có tác dụng kích thích đại tràng, tăng nhu động ruột và thúc đẩy đại tiện. Tác dụng thường xuất hiện sau khoảng 6 giờ. Do trong Đại hoàng còn chứa tannin, sau khi đại tiện lỏng, một số người có thể xuất hiện táo bón trở lại.
Chú ý
Đại hoàng có tính công hạ mạnh, không nên sử dụng kéo dài. Người Tỳ Vị hư nhược, khí huyết suy, phụ nữ có thai hoặc đang hành kinh cần thận trọng.
Phiên tả diệp vị ngọt, đắng, tính hàn, có công năng tả nhiệt, thông tiện, tiêu tích.
Vị thuốc này thường dùng trong chứng táo bón do nhiệt kết, đại tiện khô cứng, bụng đầy trướng. So với Đại hoàng, Phiên tả diệp có cách dùng đơn giản, thường được hãm uống như trà, nhưng tác dụng tả hạ khá rõ.
Thành phần anthraquinon trong Phiên tả diệp có tác dụng kích thích nhu động đại tràng. Sau khi uống khoảng vài giờ có thể xuất hiện đại tiện nhiều lần, đôi khi kèm đau bụng hoặc đau quặn.
Chú ý
Không nên dùng Phiên tả diệp như một loại trà uống thường xuyên. Sử dụng kéo dài dễ gây phụ thuộc thuốc, tổn thương Tỳ Vị, hao tân dịch và làm suy giảm chức năng truyền tống tự nhiên của Đại trường.
Lô hội vị khổ, tính hàn, quy vào kinh Can, Vị và Đại trường. Công năng tả hạ thông tiện, thanh Can tả hỏa, sát trùng.
Lô hội thường được sử dụng trong chứng nhiệt kết tiện bí, đặc biệt khi kèm Can hỏa vượng, phiền táo, dễ giận, đau đầu, mắt đỏ hoặc trẻ nhỏ cam tích.
Tác dụng tả hạ của Lô hội tương đối mạnh. Các thành phần anthraquinon có thể kích thích niêm mạc ruột, làm tăng nhu động và bài tiết dịch ruột.
Chú ý
Lô hội dễ gây đau bụng và kích thích vùng chậu. Phụ nữ có thai, phụ nữ đang hành kinh, người Tỳ Vị hư hàn hoặc đại tiện lỏng không nên dùng.
Hỏa ma nhân vị ngọt, tính bình, quy vào kinh Tỳ, Vị và Đại trường. Công năng nhuận tràng thông tiện, bổ dưỡng âm huyết.
Hỏa ma nhân thích hợp với chứng táo bón do tân dịch hoặc huyết hư, thường gặp ở người cao tuổi, phụ nữ sau sinh, người bệnh lâu ngày, cơ thể suy nhược hoặc sau sốt cao làm hao tân dịch.
Biểu hiện thường gặp là đại tiện khô, khó đi, nhưng không có đau bụng dữ dội hoặc thực nhiệt rõ rệt.
Hỏa ma nhân chứa nhiều dầu béo, có tác dụng làm mềm phân và bôi trơn lòng ruột. Tác dụng tương đối hòa hoãn, không công phạt mạnh như Đại hoàng hoặc Phiên tả diệp.
Uất lý nhân vị tân, khổ, ngọt, tính bình, quy vào các kinh Tỳ, Đại trường và Tiểu trường. Công năng nhuận tràng thông tiện, lợi thủy tiêu thũng.
Vị thuốc này thường dùng trong chứng táo bón do tân dịch bất túc, ruột khô, đồng thời có thể phối hợp khi cơ thể phù thũng hoặc tiểu tiện không lợi.
Uất lý nhân chứa nhiều dầu béo, giúp làm mềm phân, bôi trơn thành ruột và thúc đẩy đại tiện nhẹ nhàng.
Chú ý
Phụ nữ có thai nên thận trọng khi dùng. Người đại tiện lỏng hoặc Tỳ hư không nên sử dụng.
Mang tiêu vị mặn, đắng, tính hàn, quy vào kinh Vị và Đại trường. Công năng tả nhiệt thông tiện, nhuận táo nhuyễn kiên, thanh hỏa tiêu thũng.
Mang tiêu thường được dùng trong chứng thực nhiệt kết tụ, đại tiện bí, bụng đầy cứng, khối kết rắn chắc trong ruột. Vị mặn có tác dụng làm mềm chất rắn, tính hàn giúp thanh nhiệt, nhờ đó vừa nhuận táo vừa tả hạ.
Trong các phương công hạ mạnh, Mang tiêu thường phối hợp với Đại hoàng. Đại hoàng thiên về tả nhiệt phá tích, Mang tiêu thiên về nhuyễn kiên nhuận táo, hai vị phối hợp làm tăng tác dụng thông tiện.
Theo nghiên cứu hiện đại, thành phần chủ yếu của Mang tiêu là natri sulfat. Ion sulfat khó hấp thu, giữ nước trong lòng ruột, làm mềm phân và tăng nhu động. Tác dụng thường xuất hiện sau 4–6 giờ.
Chú ý
Mang tiêu không nên dùng cho phụ nữ có thai, người Tỳ Vị hư hàn, cơ thể suy nhược hoặc người không có thực nhiệt tích trệ.
Cam toại vị khổ, ngọt, tính hàn, có độc, quy vào các kinh Phế, Thận và Đại trường. Công năng tả thủy trục ẩm, tiêu thũng tán kết.
Cam toại không phải thuốc nhuận tràng thông thường mà thuộc nhóm tuấn hạ trục thủy, dùng trong các chứng thủy ẩm đình tụ nặng như hung thủy, phúc thủy, phù thũng, đàm ẩm kết tụ hoặc đại tiểu tiện không thông do thủy ẩm thực chứng.
Dược lực của Cam toại rất mạnh, có thể kích thích niêm mạc ruột, làm tăng tiết dịch và nhu động, gây đại tiện lỏng nhiều lần.
Chú ý
Cam toại có độc, chỉ dùng khi có chỉ định rõ ràng và phải qua bào chế thích hợp. Không dùng cho người hư nhược, phụ nữ có thai hoặc người không có thủy ẩm thực chứng. Cam toại phản Cam thảo, không nên dùng chung.
Đại kích vị khổ, tân, tính hàn, có độc, quy vào kinh Phế, Tỳ và Thận. Công năng tả thủy trục ẩm, tiêu thũng tán kết.
Đại kích thường dùng trong thủy thũng, phúc thủy, hung hiếp tích dịch, đàm ẩm kết tụ hoặc các khối sưng kết thuộc thực chứng.
Tác dụng tả hạ của Đại kích mạnh, có khả năng kích thích đường ruột và thúc đẩy bài xuất nhiều nước.
Chú ý
Đại kích có độc, không dùng cho người thể hư, phụ nữ có thai hoặc bệnh nhân không có chứng thủy ẩm đình tụ. Đại kích cũng thuộc nhóm phản Cam thảo.
Khiên ngưu tử vị khổ, tính hàn, có độc, quy vào kinh Phế, Thận và Đại trường. Công năng tả thủy thông tiện, tiêu đàm trục ẩm, sát trùng công tích.
Khiên ngưu tử thường dùng trong các chứng thủy thũng, phúc trướng, đại tiểu tiện không lợi, đàm ẩm suyễn mãn hoặc tích trệ do giun sán.
Hoạt chất trong Khiên ngưu tử sau khi vào ruột có thể kích thích mạnh nhu động, gây tiêu chảy và tăng bài xuất nước.
Chú ý
Dùng quá liều có thể gây đau bụng dữ dội, tiêu chảy mạnh, mất nước, thậm chí tổn thương thận và tiểu ra máu. Phụ nữ có thai và người thể hư không được dùng.
Thương lục vị khổ, tính hàn, có độc, quy vào kinh Phế, Tỳ, Thận và Đại trường. Công năng tả thủy tiêu thũng, thông lợi đại tiểu tiện, tiêu tán kết tụ.
Vị thuốc này thường được dùng trong các chứng phù thũng, bụng trướng, đại tiểu tiện không thông thuộc thực chứng.
Thương lục có tác dụng tả hạ mạnh và độc tính tương đối cao. Khi dùng quá liều có thể gây buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy, chóng mặt, khó thở, thậm chí ức chế thần kinh trung ương.
Chú ý
Không được tự ý sử dụng Thương lục. Phụ nữ có thai, người thể hư, người có bệnh gan thận hoặc Tỳ Vị hư yếu đều không nên dùng.
Ba đậu vị tân, tính nhiệt, có đại độc, quy vào kinh Vị và Đại trường. Công năng tuấn hạ lãnh tích, trục thủy tiêu thũng, khoát đàm lợi yết.
Khác với phần lớn thuốc tả hạ có tính hàn, Ba đậu có tính đại nhiệt, thường dùng trong chứng hàn tích ngưng trệ, bụng đau dữ dội, đại tiện không thông, đàm thực bế tắc hoặc thủy thũng thuộc hàn thực.
Dầu Ba đậu có tác dụng kích thích cực mạnh đối với niêm mạc miệng, dạ dày và ruột. Chỉ một lượng rất nhỏ cũng có thể gây đau bụng dữ dội, nôn và tiêu chảy nước nhiều lần.
Chú ý
Ba đậu có đại độc, tuyệt đối không được tự ý dùng. Khi sử dụng trong phương thuốc cổ truyền thường phải qua bào chế, loại bớt dầu và kiểm soát liều lượng rất nghiêm ngặt. Không dùng cho phụ nữ có thai, người hư nhược hoặc người không có hàn tích thực chứng.
PHÂN LOẠI THUỐC TẢ HẠ TRONG TRUNG Y
Thuốc tả hạ thường được chia thành ba nhóm chính:
Dùng trong chứng thực nhiệt tích trệ, đại tiện bí kết, bụng đầy đau, rêu lưỡi vàng dày, mạch trầm thực.
Các vị thường dùng: Đại hoàng, Mang tiêu, Phiên tả diệp, Lô hội.
Dùng trong chứng táo bón do âm huyết hoặc tân dịch bất túc, thường gặp ở người cao tuổi, phụ nữ sau sinh, người bệnh lâu ngày hoặc cơ thể suy nhược.
Các vị thường dùng: Hỏa ma nhân, Uất lý nhân.
Dùng trong chứng thủy ẩm đình tụ nặng, phù thũng, phúc thủy, hung thủy, đàm ẩm hoặc đại tiểu tiện không thông thuộc thực chứng.
Các vị thường dùng: Cam toại, Đại kích, Khiên ngưu tử, Thương lục, Ba đậu.
NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG THUỐC TẢ HẠ
Thuốc tả hạ cần được sử dụng căn cứ vào nguyên nhân gây táo bón.
Nếu do thực nhiệt kết tụ, có thể dùng pháp công hạ.
Nếu do tân dịch khô hao hoặc huyết hư, nên dùng pháp nhuận tràng dưỡng huyết, không nên công phạt mạnh.
Nếu do khí trệ, cần phối hợp hành khí.
Nếu do khí hư, cần ích khí thông tiện.
Nếu do dương hư hàn ngưng, cần ôn dương thông tiện, không nên dùng thuốc hàn lương tả hạ.
Nếu do thủy ẩm thực chứng, mới cân nhắc dùng tuấn hạ trục thủy.
Thuốc tả hạ không nên dùng kéo dài. Khi đại tiện đã thông, cần ngừng hoặc giảm thuốc, đồng thời điều chỉnh ăn uống, sinh hoạt và phục hồi chức năng vận hóa của Tỳ, truyền tống của Đại trường.
TÁC HẠI KHI LẠM DỤNG THUỐC TẢ HẠ
Sử dụng thuốc tả hạ quá liều hoặc kéo dài có thể gây đau bụng, tiêu chảy, mất nước, hao tân dịch, rối loạn điện giải và suy giảm chính khí.
Thuốc tả hạ có tính hàn dùng lâu có thể làm tổn thương Tỳ dương, dẫn đến ăn kém, bụng đầy, đau bụng, đại tiện lúc táo lúc lỏng.
Thuốc công hạ mạnh có thể làm hao khí huyết, đặc biệt nguy hiểm đối với người cao tuổi, người bệnh lâu ngày, phụ nữ sau sinh và người cơ thể suy nhược.
Các vị có độc như Cam toại, Đại kích, Khiên ngưu tử, Thương lục và Ba đậu có thể gây ngộ độc nặng nếu dùng không đúng liều.
Phụ nữ có thai không nên tự ý dùng thuốc tả hạ, vì một số vị có thể kích thích ruột và vùng chậu, ảnh hưởng đến thai khí.
Nói tóm lại, thuốc tả hạ trong Trung y có phạm vi ứng dụng khá rộng, nhưng cần phân biệt rõ công hạ, nhuận hạ và tuấn hạ trục thủy. Sử dụng đúng chứng có thể thông phủ, trừ tích, tiết nhiệt và lợi thủy; sử dụng sai chứng hoặc kéo dài lại dễ tổn thương Tỳ Vị, hao tân dịch và suy giảm chính khí.
Trường Xuân biên soạn