Viêm phế quản mạn tính có biểu hiện chủ yếu là ho kéo dài, khạc đàm và thở gấp. Theo Trung y, bệnh thuộc phạm vi các chứng khái thấu 咳嗽, đàm ẩm 痰饮, khái suyễn 咳喘, suyễn chứng 喘证, háo chứng 哮证 và Phế trướng 肺胀.
Bệnh có quan hệ mật thiết với ba tạng Phế, Tỳ và Thận. Phế là nơi biểu hiện trực tiếp của bệnh; Tỳ là nguồn sinh đàm; Thận là gốc của khí và có vai trò nhiếp nạp hơi thở. Vì vậy, đặc điểm bệnh cơ thường được khái quát là:
“Biểu hiện ở Phế, căn gốc ở Tỳ Thận.”
Cổ nhân còn nói:
“Phế không tổn thì không ho, Tỳ không tổn thì ho không kéo dài, Thận không tổn thì không suyễn.”
Bệnh mới phát hoặc trong đợt cấp thường thiên về tà thực, như phong hàn, phong nhiệt, đàm thấp hoặc đàm nhiệt. Bệnh kéo dài thường làm tổn thương Phế, Tỳ và Thận, hình thành bản hư tiêu thực, hư thực xen lẫn. Điều trị vì thế cần căn cứ từng giai đoạn: khi phát tác chú trọng tuyên Phế, khu tà, hóa đàm và bình suyễn; khi bệnh ổn định cần bổ Phế, kiện Tỳ, ôn Thận và nạp khí.
I. MỐI LIÊN HỆ GIỮA PHẾ, TỲ VÀ THẬN
Phế chủ khí, coi việc hô hấp, chủ tuyên phát và túc giáng, khai khiếu ra mũi, bên ngoài hợp với da lông và có nhiệm vụ điều hòa thủy đạo.
Ngoại tà thường trước tiên phạm Phế, làm Phế khí mất tuyên giáng, khí cơ nghịch lên nên phát sinh ho và suyễn. Nếu bệnh kéo dài, Phế khí bị hao tổn, vệ biểu không vững, cơ thể dễ cảm ngoại tà, khiến ho tái phát nhiều lần.
Phế khí không tuyên thì đàm khó bài xuất; Phế khí không giáng thì khí nghịch, sinh ho và thở gấp.
Tỳ là hậu thiên chi bản, nguồn sinh hóa khí huyết, chủ vận hóa thủy cốc và thủy thấp.
Nếu Tỳ khí hoặc Tỳ dương suy, tinh vi của thức ăn không được vận hóa thành khí huyết, thủy thấp lại đình tụ, lâu ngày hóa thành đàm. Đàm thấp nghịch lên Phế, làm Phế mất tuyên giáng, gây ho, nhiều đàm, ngực đầy và suyễn.
Vì vậy có câu:
“Tỳ là nguồn sinh đàm.”
Thận là tiên thiên chi bản, tàng tinh, chủ thủy và chủ nạp khí.
Thận dương giúp khí hóa và vận hành thủy dịch. Nếu Thận dương suy, mệnh môn hỏa yếu, không thể ôn Tỳ, khiến Tỳ dương cũng suy, thủy thấp không hóa, đàm ẩm sinh ra ngày càng nhiều.
Thận chủ nạp khí. Nếu Thận hư, khí không thể quy căn, người bệnh thường thở ra nhiều, hít vào ít, vận động nhẹ thì suyễn tăng.
Vì vậy có câu:
“Thận là gốc sinh đàm, Tỳ là nguồn sinh đàm, Phế là nơi chứa đàm.”
II. NGUYÊN NHÂN VÀ BỆNH CƠ
Phong hàn, phong nhiệt và các tà khí bên ngoài xâm phạm Phế, làm Phế khí bị bó buộc. Người bệnh xuất hiện ho, khạc đàm, nghẹt mũi, sợ lạnh, sốt hoặc đau họng.
Ngoại cảm điều trị không thích hợp có thể lưu lại trong Phế, làm bệnh chuyển thành ho kéo dài. Ngược lại, người vốn có ho do nội thương lại dễ bị ngoại cảm dẫn phát, khiến bệnh nặng lên.
Ăn nhiều thức ăn béo ngọt, dầu mỡ, lạnh sống hoặc khó tiêu làm Tỳ mất kiện vận. Thủy thấp đình tụ, từ thấp thành ẩm, từ ẩm hóa đàm.
Thấp, ẩm và đàm đều là thủy dịch bệnh lý, cùng nguồn từ sự vận hóa suy yếu nhưng khác nhau về hình thái và mức độ cô đặc.
Lao lực, thiếu ngủ, bệnh kéo dài hoặc tuổi cao làm Phế Tỳ khí hư và Thận khí suy. Chính khí không đủ nên ngoại tà dễ xâm nhập, đàm cũ khó hóa, bệnh thường tái phát.
Khói thuốc, bụi, không khí ô nhiễm và mùi kích thích làm tổn thương Phế, khiến Phế khí không thanh túc, tân dịch ngưng tụ thành đàm và ho kéo dài.
Viêm phế quản mạn tính biểu hiện bằng ho, đàm và suyễn, trong đó đàm giữ vai trò rất quan trọng.
Đàm nhiều làm bế tắc khí đạo, cản trở sự tuyên giáng của Phế, vừa gây ho vừa gây suyễn. Đàm có thể thuộc hàn, nhiệt, thấp hoặc táo; vì vậy cần căn cứ màu sắc, độ đặc loãng và các triệu chứng toàn thân để biện chứng.
III. ĐẶC ĐIỂM BỆNH
Bệnh thường kéo dài, tái phát nhiều lần, nặng hơn vào mùa lạnh hoặc khi thời tiết thay đổi.
Triệu chứng chủ yếu: Ho kéo dài, khạc đàm, ngực tức, thở ngắn, suyễn khi vận động; trong đợt cấp có thể kèm sốt, sợ lạnh, nghẹt mũi, đau họng hoặc đàm đổi màu.
Bệnh mới hoặc đợt cấp thường thiên về thực chứng; bệnh lâu ngày thường thiên về hư chứng. Tuy nhiên, người bệnh mạn tính thường có bản hư tiêu thực: Phế Tỳ Thận hư là gốc, đàm hàn hoặc đàm nhiệt là ngọn.
IV. PHÂN LOẠI KHÁI QUÁT
Triệu chứng: Ho kéo dài, đàm nhiều màu trắng, đàm loãng, đại tiện lỏng, tay chân và lưng lạnh, không khát, thích ăn uống nóng, lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế vô lực.
Phép trị: Ôn Phế, kiện Tỳ, bổ Thận, hóa đàm.
Triệu chứng: Ho nhiều, đàm vàng hoặc vàng xanh, đàm đặc dính khó khạc, người nóng, miệng khát thích uống lạnh, có thể táo bón, tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng hoặc vàng nhờn, mạch hoạt sác.
Phép trị: Thanh Phế, hóa đàm, tuyên Phế bình suyễn.
Triệu chứng: Ho khan, ít đàm hoặc không có đàm, đàm dính khó khạc, mũi họng khô, miệng khô, lưỡi ít tân dịch, rêu mỏng khô, mạch huyền sác hoặc tế sác.
Phép trị: Nhuận Phế, sinh tân, hóa đàm chỉ khái.
Các thể trên không cố định tuyệt đối, có thể kiêm lẫn hoặc chuyển hóa qua lại.
V. THỰC CHỨNG TRONG ĐỢT PHÁT TÁC
Triệu chứng
Ho hoặc suyễn, ngực tức, đàm trắng loãng, không khát; khi mới phát có thể sợ lạnh, đau đầu, đau mình, nghẹt mũi, không ra mồ hôi, lưỡi không đỏ, rêu trắng mỏng hoặc trắng nhờn, mạch phù hoạt hoặc huyền khẩn.
Bệnh cơ
Phong hàn bó Phế, Phế khí không tuyên, tân dịch đình tụ thành đàm. Hàn tà có tính thu dẫn nên khí đạo bị co lại, làm ho và suyễn tăng.
Phép trị
Tuyên Phế tán hàn, hóa đàm bình suyễn.
Phương thang
Tam ảo thang gia vị
Thành phần: Ma hoàng 9 g, Hạnh nhân 9 g, Xạ can 6 g, Tô tử 12 g, Tiền hồ 9 g, Cát cánh 6 g, Cam thảo 6 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Đàm nhiều, tức ngực, miệng nhạt, ăn kém gia Trần bì 9 g, Bán hạ 9 g, Lai phục tử 9 g; sợ lạnh, đau mình, nghẹt mũi gia Tử tô diệp 9 g, Quế chi 9 g, Bạch thược 9 g; ho suyễn, đàm trắng có bọt gia Tế tân 3 g, Can khương 3 g, Ngũ vị tử 6 g, Bạch truật 9 g, Phục linh 9 g.
Triệu chứng
Ho kéo dài, nhiều đàm trắng loãng, đàm như nước hoặc có bọt, suyễn, sợ lạnh, ớn lạnh, sốt, nghẹt mũi, chảy nước mũi trong, không khát, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch huyền khẩn.
Bệnh cơ
Bên trong vốn có thủy ẩm, bên ngoài lại cảm phong hàn. Ngoại hàn dẫn động nội ẩm, cùng ngăn trở Phế khí.
Phép trị
Giải biểu tán hàn, ôn Phế hóa ẩm.
Phương thang
Tiểu thanh long thang
Thành phần: Ma hoàng 3 g, Bạch thược 9 g, Tế tân 3 g, Can khương 3 g, Quế chi 9 g, Bán hạ 6 g, Ngũ vị tử 9 g, Cam thảo 6 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Phương có Ma hoàng và Tế tân, cần đặc biệt thận trọng ở người cao tuổi, người bệnh tim mạch, tăng huyết áp hoặc mất ngủ.
Triệu chứng
Ho, đàm trắng đặc hoặc vàng đặc, suyễn, thở gấp, cánh mũi phập phồng, miệng khát thích uống lạnh, ngực tức, bứt rứt, ra mồ hôi, có thể sốt, mặt đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch phù sác.
Bệnh cơ
Phong nhiệt phạm Phế, nhiệt nung đốt tân dịch thành đàm, Phế mất tuyên giáng nên ho suyễn.
Phép trị
Tuyên Phế tả nhiệt, hóa đàm định suyễn.
Phương thang
Ma hạnh thạch cam thang gia vị
Thành phần: Ma hoàng 9 g, Hạnh nhân 9 g, Sinh thạch cao 15–30 g, Cam thảo 6 g, Tử uyển 9 g, Khoản đông hoa 9 g, Ngưu bàng tử 9 g, Cát cánh 6 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Suyễn nặng gia Xạ can 6 g, Quảng địa long 9 g, Bạch quả 9 g, Sơn hải lạt 9 g; ho nhiều, ngứa họng gia Thiền y 3 g, Cương tàm 6 g, Tượng bối mẫu 9 g; họng đỏ, miệng lưỡi khô gia Tang bạch bì 9 g, Liên kiều 9 g, Hoàng cầm 9 g, Tri mẫu 9 g; đàm vàng đặc khó khạc gia Đào nhân 6 g, Đông qua tử 9 g, Lô căn 15 g, Đình lịch tử 9 g; ngực tức, khí nghịch, táo bón gia Qua lâu 9 g, Chỉ thực 9 g, Lai phục tử 9 g.
Triệu chứng
Ho lâu ngày, đàm dính, đàm từ trắng chuyển sang vàng hoặc đàm trắng nhưng đặc, kèm suyễn, phát sốt, đại tiện táo, tiểu đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.
Phép trị
Thanh nhiệt, tuyên Phế, định suyễn.
Phương thang
Gia vị Ma hạnh thạch cam thang
Thành phần: Ma hoàng 3 g, Hạnh nhân 9 g, Sinh thạch cao 15 g, Tỳ bà diệp 15 g, Kim ngân hoa 9 g, Liên kiều 9 g, Đại bối mẫu 9 g, Cam thảo 6 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Triệu chứng
Ho suyễn, đàm nhiều, dính nhớt, khó khạc, trong họng có thể có tiếng đàm, ngực nặng tức, buồn nôn, ăn uống kém, miệng nhạt, lưỡi rêu trắng nhờn, mạch hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, thấp tụ thành đàm. Đàm trọc bế tắc Phế khí, làm ho, suyễn và ngực tức.
Phép trị
Tiêu đàm, giáng khí, bình suyễn.
Phương thang
Tam tử dưỡng thân thang hợp Nhị trần thang
Thành phần: Trần bì 9 g, Bán hạ 9 g, Phục linh 9 g, Tô tử 12 g, Bạch giới tử 9 g, Lai phục tử 9 g, Chỉ xác 9 g, Hạnh nhân 9 g, Ý dĩ nhân 12 g, Cam thảo 6 g, Sinh khương 3 lát.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Miệng nhạt, ăn kém, ngực bụng đầy gia Thương truật 9 g, Hậu phác 9 g; đàm trào nhiều, không thể nằm gia Đình lịch tử 9 g, Tạo giác tử 6 g; đàm vàng đặc nhiều gia Chế Đởm nam tinh 9 g, Thiên trúc hoàng 9 g, Tri mẫu 9 g, Qua lâu 9 g, Hoàng cầm 9 g, Ngư tinh thảo 12 g; khí nghịch, suyễn gấp gia Tiền hồ 9 g, Hậu phác 9 g, Đương quy 9 g, Nhục quế 3 g, Trầm hương 3 g.
Triệu chứng
Ho lâu ngày, đàm nhiều, ngực đầy, suyễn, tiếng thở tương đối mạnh nhưng không có biểu hiện suy nhược toàn thân rõ.
Phép trị
Giáng khí hóa đàm.
Phương thang
Tam tử dưỡng thân thang
Thành phần: Lai phục tử sao 9 g, Bạch giới tử sao 9 g, Tô tử sao 9 g.
Cách dùng: Sắc uống hoặc tán dùng theo chỉ định.
Triệu chứng
Ho kéo dài, đàm không nhiều, không có triệu chứng toàn thân rõ, ho từng cơn, khí đạo không thông.
Phép trị
Hóa đàm chỉ khái, tuyên Phế.
Phương thang
Nhị trần thang hợp Cát cánh Cam thảo thang gia vị
Thành phần: Trần bì 6 g, Bán hạ 6 g, Tỳ bà diệp 15 g, Tô diệp 9 g, Qua lâu bì 9 g, Hạnh nhân 9 g, Cam thảo 6 g, Khổ cát cánh 4,5 g.
Cách dùng: Sắc uống.
VI. HƯ CHỨNG TRONG GIAI ĐOẠN KÉO DÀI
Triệu chứng
Ho nhỏ yếu, hơi thở ngắn, nói yếu, tự ra mồ hôi, sợ gió, họng rát, miệng khô, mặt hơi đỏ, lưỡi hơi đỏ, mạch nhu nhược; nếu Phế âm hư rõ có thể ho ít đàm, họng khô, chiều nóng nhẹ, gò má đỏ, lòng bàn tay chân nóng.
Phép trị
Dưỡng Phế, ích khí, sinh tân, chỉ khái bình suyễn.
Phương thang
Sinh mạch tán gia giảm
Thành phần: Thái tử sâm 9 g, Mạch môn 9 g, Ngũ vị tử 6 g, Bắc sa sâm 9 g, Hạnh nhân 9 g, Tượng bối mẫu 9 g, Bách bộ 9 g, Tử uyển 9 g, Sơn hải lạt 15 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Ho ít đàm, họng và miệng khô gia Tri mẫu 9 g, Thiên hoa phấn 9 g, Ngọc trúc 9 g; sốt nhẹ về chiều, gò má đỏ, lòng bàn tay chân nóng gia Ngân sài hồ 9 g, Địa cốt bì 9 g, Hồ hoàng liên 6 g; sợ lạnh, ho đàm loãng bỏ Mạch môn, Sa sâm, gia Hoàng kỳ 15 g, Quế chi 9 g, Bạch thược 9 g, Cam thảo 9 g; ăn ít, đại tiện lỏng, mệt mỏi bỏ Mạch môn, Sa sâm, gia Hoàng kỳ 9 g, Đảng sâm 9 g, Bạch truật 9 g, Phục linh 9 g.
Triệu chứng
Ho kéo dài, đàm trắng dính hoặc có bọt, ăn kém, đầy bụng sau ăn, đại tiện lỏng, tiểu ít, phù nhẹ, mệt mỏi, khí đoản, lưỡi nhạt, có thể có dấu răng, mạch nhu nhược.
Phép trị
Điều bổ Tỳ Vị, ích khí, kiện Tỳ hóa đàm.
Phương thang
Bổ trung ích khí thang
Thành phần: Chích Hoàng kỳ 9 g, Đảng sâm 9 g, Bạch truật sao 9 g, Thăng ma 3 g, Sài hồ 3 g, Đương quy 6 g, Trần bì 6 g, Chích cam thảo 6 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Hương sa Lục quân tử thang
Thành phần: Đảng sâm 9 g, Bạch truật sao 9 g, Trần bì 6 g, Thanh Bán hạ 6 g, Phục linh 9 g, Sa nhân 3 g cho sau, Mộc hương 3 g, Cam thảo 6 g.
Cách dùng: Sắc uống; Sa nhân cho vào sau.
Triệu chứng
Ho, suyễn, đàm trắng loãng, sợ gió, mệt mỏi, hơi thở ngắn, đại tiện lỏng, bụng nặng, tay chân có thể lạnh, lưỡi mềm nhạt, rêu trắng mỏng, mạch nhu nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ hóa đàm, ôn trung, chỉ khái bình suyễn.
Phương thang
Lục quân tử thang gia giảm
Thành phần: Đảng sâm 9 g, Bạch truật 9 g, Phục linh 9 g, Trần bì 9 g, Bán hạ chế gừng 9 g, Nhục quế 3 g, Đại giả thạch 15 g, Toàn phúc hoa 9 g, Ngũ vị tử 6 g, Sinh khương 3 lát, Cam thảo 6 g.
Cách dùng: Toàn phúc hoa nên bọc sắc.
Gia giảm: Sợ lạnh, tiêu chảy, tay chân lạnh, mệt mỏi gia Chế phụ tử 9 g, Bổ cốt chỉ 9 g, Can khương 6 g; ngực tức, bụng đầy, ăn kém, miệng nhạt gia Mộc hương 9 g, Sa nhân 3 g, Hậu phác 9 g, Ý dĩ nhân 12 g; sắc mặt nhợt, chóng mặt gia Đương quy 9 g, Bạch thược 9 g.
Triệu chứng
Ho suyễn kéo dài, thở ra nhiều, hít vào ít, vận động thì suyễn tăng, người gầy, mệt mỏi, hơi thở yếu, ra mồ hôi, tay chân lạnh, sắc mặt xanh hoặc nhợt, có thể phù, tiểu khó, hồi hộp, đau lưng mỏi gối, lưỡi nhạt mềm, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế vô lực.
Phép trị
Ôn bổ Thận dương, nạp khí bình suyễn.
Phương thang
Kim Quỹ Thận Khí hoàn gia giảm
Thành phần: Chế phụ tử 6 g, Nhục quế 3 g, Thục địa 12–15 g, Hoài sơn 12 g, Sơn thù du 9 g, Đan bì 9 g, Phục linh 9 g, Trạch tả 9 g, Ngũ vị tử 6 g.
Cách dùng: Sắc uống theo chỉ định chuyên môn.
Gia giảm: Suyễn yếu, khí đoản, hơi thở yếu gia Nhân sâm 6 g, Bổ cốt chỉ 9 g, Hồ đào nhục 9 g, đuôi Cáp giới một đôi; dương hư thủy tràn, hồi hộp, ho suyễn, phù chi bỏ Thục địa, Đan bì, gia Bạch truật 9 g, Bạch thược 9 g, Sinh khương 3 lát; âm hư, họng khô, đau lưng, tiểu đỏ bỏ Phụ tử, Nhục quế, gia Tri mẫu 9 g, Hoàng bá 9 g, Mạch môn 9 g.
Phương có Phụ tử và Nhục quế không được tự sử dụng, đặc biệt ở người cao tuổi có bệnh tim mạch, rối loạn nhịp tim hoặc suy thận.
Triệu chứng
Ho suyễn lâu ngày, đàm khó khạc, hơi thở ngắn, đau lưng, ù tai, họng khô, lòng bàn tay chân nóng, tiểu vàng, lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác.
Phép trị
Tư Thận, nạp khí, dưỡng âm.
Phương thang
Đô khí hoàn
Thành phần: Ngũ vị tử 9 g, Thục địa 9 g, Hoài sơn 9 g, Trạch tả 9 g, Phục linh 9 g, Sơn thù du 9 g, Đan bì 9 g.
Cách dùng: Sắc uống hoặc làm hoàn theo chỉ định.
Triệu chứng
Ho khan, không có đàm hoặc đàm rất ít, dính khó khạc, miệng khô, lưỡi ráo, mũi họng khô, lưỡi ít tân dịch.
Phép trị
Nhuận táo, dưỡng Phế, hóa đàm.
Phương thang
Nhuận Phế ẩm
Thành phần: Tri mẫu 9 g, Bối mẫu 9 g, Phục linh 9 g, Mạch môn 9 g, Trần bì 6 g, Cát cánh 4,5 g, Thiên hoa phấn 9 g, Sinh địa 9 g, Cam thảo 6 g.
Cách dùng: Sắc uống.
VII. PHÂN BIỆT TIÊU BẢN
Chủ chứng: Ho khạc đàm trắng có bọt hoặc đàm trắng loãng, dễ khạc, có thể kèm suyễn.
Thứ chứng: Không khát, lưỡi nhạt, rêu trắng hoặc trắng nhờn, mạch nhu hoặc trầm.
Phép trị: Ôn hóa hàn đàm, tuyên Phế, có thể kiêm hoạt huyết.
Các vị thường dùng: Bán hạ, Nam tinh, Bạch giới tử, Tế tân, Can khương, Thạch xương bồ, Đương quy, Xích thược; nếu suyễn gia Ma hoàng, Hạnh nhân, Ngũ vị tử, Cam thảo.
Chủ chứng: Ho khạc đàm vàng, vàng xanh, đàm mủ hoặc đàm trắng đục dính.
Thứ chứng: Sốt, khát, đại tiện táo, tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng hoặc vàng nhờn, mạch hoạt sác.
Phép trị: Thanh nhiệt hóa đàm, tuyên Phế, có thể kiêm hoạt huyết.
Các vị thường dùng: Qua lâu, Kim ngân hoa, Hoàng cầm, Cát cánh, Ngư tinh thảo, Địa đinh, Sa sâm, Đương quy, Xích thược; nếu suyễn gia Ma hoàng, Hạnh nhân, Sinh thạch cao, Cam thảo.
Triệu chứng: Dễ cảm, ho từng cơn hoặc ho gián đoạn, tự ra mồ hôi, tiếng nói nhỏ, lưỡi nhạt đỏ, rêu trắng mỏng, mạch tế nhược.
Phép trị: Bổ Phế ích khí, cố biểu.
Các vị thường dùng: Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bách hợp, Mạch môn, Ngũ vị tử, Đương quy, Xuyên khung.
Triệu chứng: Đàm nhiều, ăn kém, đầy tức vùng Vị quản, bụng trướng, đại tiện nát, đau bụng thích ấm và thích ấn, sắc mặt phù nhợt, lưỡi to có dấu răng, rêu nhờn, mạch hoãn, nhu hoặc hoạt.
Phép trị: Kiện Tỳ táo thấp, lý khí hóa đàm.
Các vị thường dùng: Bạch truật, Phục linh, Trần bì, Hậu phác, Quế chi, Đan sâm, Đương quy, Xuyên khung.
Triệu chứng: Khó thở khi vận động, lưng gối mỏi yếu, chóng mặt, ù tai, sợ lạnh, tay chân lạnh, tiểu đêm nhiều, ho thì tiểu són, lưỡi nhạt hoặc có điểm ứ huyết, rêu trắng trơn, mạch xích tế nhược.
Phép trị: Ôn dương bổ Thận, nạp khí, kiêm hoạt huyết.
Các vị thường dùng: Chế phụ tử, Kỷ tử, Hà thủ ô, Địa hoàng, Bổ cốt chỉ, Thỏ ty tử, Nhục quế, Ngũ vị tử, Đan sâm, Xích thược, Đương quy, Xuyên khung.
VIII. CHÂM CỨU HỖ TRỢ
Châm cứu có thể được dùng trong giai đoạn bệnh ổn định để hỗ trợ tuyên Phế, hóa đàm, kiện Tỳ và bổ Thận.
Huyệt thường dùng: Bàng quang-13 Phế du, Bàng quang-43 Cao hoang du, Nhâm-22 Thiên đột, Nhâm-17 Đản trung, Vị-36 Túc tam lý, Vị-40 Phong long.
Cách phối huyệt theo chứng:
Ho, khó thở, ngực tức: Phế du, Thiên đột, Đản trung.
Đàm nhiều: Phong long, Tỳ du, Túc tam lý.
Phế khí hư, dễ cảm: Phế du, Túc tam lý, Đại chùy.
Thận hư, vận động thì suyễn: Thận du, Mệnh môn, Quan nguyên.
Châm cứu, ôn châm hoặc cứu phải do người có chuyên môn thực hiện. Không châm khi người bệnh đang khó thở cấp, sốt cao, suy kiệt hoặc có tình trạng hô hấp không ổn định.
IX. KHÍ CÔNG VÀ VẬN ĐỘNG
Khí công và vận động nhẹ thích hợp hơn trong giai đoạn bệnh ổn định. Mục đích là điều thân, điều tức, điều tâm, giúp hơi thở chậm và đều, duy trì khả năng vận động.
Ngồi hoặc đứng thoải mái, vai thả lỏng, hít vào nhẹ qua mũi, thở ra chậm qua môi hơi chúm. Không cố hít thật sâu hoặc nín thở.
Mỗi lần tập từ 5 phút, sau đó tăng dần tùy sức.
Đứng thẳng, hai chân song song rộng bằng vai, gối hơi khuỵu, vai thả lỏng, cột sống tự nhiên, hai tay như ôm quả cầu trước bụng dưới, mắt nhìn nhẹ xuống, thở tự nhiên.
Người mới tập chỉ nên đứng vài phút, không cố gắng khi mệt hoặc chóng mặt.
Tập trung ý niệm vào sự thả lỏng cơ thể, lần lượt thư giãn đầu, cổ, vai, ngực, bụng, lưng và tứ chi. Hơi thở giữ tự nhiên, không dùng sức.
Thái cực quyền có động tác chậm, liên tục, lượng vận động tương đối nhẹ, có thể phù hợp với người mắc bệnh mạn tính nếu thể lực cho phép.
Khi tập cần giữ tâm tương đối yên, tốc độ đều, tư thế ổn định và lượng vận động vừa phải.
Không luyện khí công hoặc vận động trong cơn khó thở cấp, sốt, viêm phổi, đau ngực, chóng mặt hoặc suy kiệt.
X. ĐIỀU DƯỠNG VÀ PHÒNG NGỪA
Giữ ấm khi trời lạnh, đặc biệt vùng cổ, ngực, lưng và bàn chân.
Tránh khói thuốc, bụi, hóa chất, hơi lạnh và mùi kích thích.
Ngừng hút thuốc và tránh hít khói thuốc thụ động.
Ăn uống thanh đạm, dễ tiêu, hạn chế thức ăn béo ngọt, dầu mỡ, lạnh sống và quá nhiều sữa nếu nhận thấy làm đàm tăng.
Người đàm hàn nên hạn chế thức ăn lạnh; người đàm nhiệt nên hạn chế rượu, thức ăn cay nóng và nướng.
Ngủ đủ, tránh lao lực và thức khuya.
Vận động đều đặn nhưng vừa sức; không cố tập khi khó thở.
Uống nước phù hợp để giúp đàm bớt đặc, trừ trường hợp bác sĩ yêu cầu hạn chế nước do bệnh tim hoặc thận.
Điều trị sớm các đợt nhiễm trùng hô hấp và tuân thủ thuốc hít, thuốc giãn phế quản hoặc các thuốc khác đã được bác sĩ kê.
XI. NHỮNG ĐIỂM CẦN THẬN TRỌNG
Viêm phế quản mạn tính có thể kèm bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, khí phế thũng, giãn phế quản, hen hoặc bệnh tim phổi. Không nên chỉ căn cứ vào ho đàm để tự dùng thuốc kéo dài.
Không tự sử dụng các phương có Ma hoàng, Phụ tử, Tế tân, Đình lịch tử, Tạo giác hoặc các thuốc công trục mạnh.
Không tự thực hiện tiêm huyệt, phong bế huyệt, cấy mô, rạch da hoặc dán thuốc chứa Cam toại, Dương kim hoa, Hùng hoàng, Thạch tín và các dược liệu độc.
Không dùng một phương thuốc giống nhau cho cả đợt cấp và giai đoạn ổn định.
Không ngừng thuốc điều trị hô hấp đã được kê khi triệu chứng tạm giảm.
XII. DẤU HIỆU CẦN ĐI KHÁM KHẨN CẤP
Khó thở tăng nhanh hoặc không thể nói thành câu.
Môi, đầu ngón tay tím tái.
Đau ngực, hồi hộp mạnh, vã mồ hôi lạnh.
Sốt cao, rét run hoặc tinh thần lơ mơ.
Đàm tăng đột ngột, chuyển vàng xanh, có mùi hôi hoặc lẫn máu.
Phải ngồi mới thở được hoặc không thể nằm.
Phù chân tăng, tiểu ít hoặc tăng cân nhanh.
Thuốc hít cắt cơn không còn hiệu quả.
Nói tóm lại, viêm phế quản mạn tính theo Trung y có biểu hiện tại Phế nhưng căn gốc thường liên quan đến Tỳ và Thận. Trong đợt phát tác, cần phân biệt phong hàn, phong nhiệt, đàm thấp và đàm nhiệt để tuyên Phế, hóa đàm, thanh nhiệt hoặc tán hàn. Trong giai đoạn kéo dài, cần căn cứ Phế khí hư, Tỳ dương hư, Thận dương hư hoặc Phế âm hư để phù chính. Điều trị chỉ đạt kết quả bền vững khi đồng thời kiểm soát đàm, bảo vệ Phế, kiện Tỳ, bổ Thận và tránh các yếu tố làm bệnh tái phát.
Trường Xuân biên soạn