Bất kỳ nguyên nhân nào gây tổn thương thận cấp tính, làm mất khả năng điều hòa của đơn vị thận, không thể duy trì cân bằng điện giải và chất lỏng trong cơ thể cũng như thải các chất thải chuyển hóa, dẫn đến tăng huyết áp, nhiễm toan chuyển hóa và hội chứng ure máu cấp tính, đều được gọi là suy thận cấp tính. Trong lâm sàng, có sự phân biệt giữa suy thận cấp tính hẹp và rộng. Suy thận cấp tính hẹp chỉ tình trạng hoại tử ống thận cấp tính, còn suy thận cấp tính rộng là một hội chứng lâm sàng do nhiều nguyên nhân gây ra. Tăng dần nồng độ creatinin huyết thanh và nitơ ure máu (thường mỗi ngày creatinin huyết thanh tăng từ 88.4 đến 176.8 μmol/L, nitơ ure máu tăng từ 3.6 đến 10.7 mmol/L) là căn cứ đáng tin cậy để chẩn đoán suy thận cấp tính.
Y học Cổ truyền Trung Quốc phân loại suy thận cấp như thế nào?
Đông y không có tên bệnh suy thận cấp tính, nhưng nếu dựa theo triệu chứng của bệnh thì suy thận cấp tính phần nhiều thuộc nhiệt chứng và thực chứng, hậu kỳ có thể xuất hiện tổn thương chính khí, thường được chia theo các loại chứng cứ như: Nhiệt tà mãnh liệt (热邪炽盛), hỏa độc ứ trệ, thấp nhiệt uẩn kết, tà hãm tâm can, nội bế ngoại thoát, khí âm hư tổn. Trị liệu lấy khứ tà là chính, thích đáng dùng tá dược để phù trợ chính khí, thường dùng các trị pháp như: Thanh nhiệt giải độc, thanh doanh lương huyết, hoạt huyết hóa ứ, khai bế cố thoát, cứu âm liễm dương, hồi dương cứu nghịch, ích khí dưỡng âm.
(1) Nhiệt độc mãnh liệt: chứng thấy sốt cao không hạ, bồn chồn bất an, đánh trống ngực, khô miệng khát nước, đau đầu, tiểu tiện lượng ít có màu vàng, hoặc bí tiểu, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch Sác. Điều trị nên thanh nhiệt tả hỏa giải độc. Phương tuyển dụng: Thang Bạch hổ hợp thang Hoàng liên giải độc gia giảm: Thạch cao, tri mẫu, cam thảo, cánh mễ, hoàng liên, hoàng kỳ, hoàng bá, chi tử. Nếu sốt cao, thêm Tử tuyết tán để thanh tà nhiệt. Khát nước nhiều gia thêm thạch hộc, thiên phấn hoa để thanh nhiệt sinh tân dịch chỉ khát; Người bệnh đi tiểu lượng ít, màu đỏ hoặc tiểu ra máu gia Đại, tiểu kế, mao căn, địa du sống để thanh nhiệt lợi tiểu, lương huyết cầm máu; Táo bón gia Đại hoàng hoặc dùng thang Điều vị thừa khí, để thanh tả tà nhiệt ở kinh Dương minh; Thổ huyết, phát ban gia sinh địa, đan bì, huyền sâm để lương huyết (mát máu) hóa ban.
(2) Hỏa độc ứ trệ: Sốt cao, nói mê sảng, nóng nảy, nôn khan, đau thắt lưng, thổ huyêt, chảy máu mũi, phát ban tím đen hoặc đỏ tươi, lưỡi đỏ sẫm tím tối, rêu lưỡi vàng hoặc có gai, mạch tế sác. Điều trị nên thanh nhiệt giải độc, tả hỏa lương huyết, hoạt huyết hóa ứ. Phương tuyển: Thanh ôn bại độc ẩm gia giảm: Thạch cao, sinh địa, tê giác, chi tử, cát cánh, hoàng cầm, tri mẫu, xích thược, huyền sâm, liên kiều, cam thảo, đan bì, lá trúc tươi. Nếu tiểu ra máu khá rõ, gia Tiểu kế, Mao căn ; Thần trí không tỉnh táo gia Thạch xương bồ, Uất kim để thanh tâm khai khiếu; Bệnh nặng, dùng An cung ngưu hoàng hoàn.
(3) Thấp nhiệt uẩn kết (ứ đọng): Có triệu chứng tiểu ít hoặc bí tiểu, ăn ít, buồn nôn và nôn, tức ngực đầy hơi, miệng hôi mùi nước tiểu, nhức đầu, sốt, khô họng, khó chịu, nghiêm trọng có thể thần trí hôn ám, nói nhảm, rêu lưỡi vàng nhầy, mạch Hoạt sác. Điều trị nên thanh nhiệt giải độc, lợi ẩm hóa trọc. Phương tuyển: Cam lộ tiêu độc đan gia giảm: Hoạt thạch, nhân trần, hoàng kỳ, xương bồ, xuyên bối, thông thảo, hoắc hương, xạ can, liên kiều, bạc hà, Khấu nhân. Nếu nhiệt thế nặng thì thêm thạch cao, kim ngân hoa để thanh nhiệt giải độc; Người thấp nặng hoặc phù thũng, gia Trạch tả, Vân linh bì Xa tiền tử để lợi thuỷ thấp, xa tiền tử để lợi thủy ẩm; Đàm trọc che lấp tâm bào gia Xương bồ uất kim thang để trừ đàm khai khiếu.
(4) Tà hãm Tâm Can: Thân nhiệt hồi hộp tâm phiền, thần trí hôn ám nói nhảm, ngôn ngữ ngông cuồng, co giật, cứng người, móng xanh môi đen, lưỡi đỏ thẫm tím tối, mạch hoạt. Điều trị nên thanh tâm khai khiếu, lương can tức phong, hoạt huyết hóa ứ. Phương tuyển An cung ngưu hoàng hoàn hợp linh dương câu đằng thang hợp đào nhân thừa khí thang gia giảm: Linh dương giác, sương tang diệp, xuyên bối, sinh địa, câu đằng, cúc hoa, phục thần, bạch thược, cam thảo, trúc như, đào nhân, đương quy, đan bì, đại hoàng, mang tiêu, An cung ngưu hoàng hoàn. Nếu sốt cao phong động không ngừng thì thêm Tử Tuyết Đan để thanh nhiệt tức phong trị co giật. Đờm trọcche lấp tâm khiếu mà tinh thần hôn ám nặng nề thì gia Chí bảo đan để trừ đờm thanh nhiệt khai khiếu.
(5) Nội bế ngoại thoát: Chứng thấy thần trí mê man nói nhảm hoặc không nói, quấy nhiễu bất an, tay chân lạnh, mồ hôi dính và lạnh, hơi thở nhẹ như muốn chết hoặc khó thở, đại tiểu tiện đều khó khăn, môi đen móng tay chân xanh tím, lưỡi màu tối, lưỡi khô và có gai, mạch tế hoặc trầm phục khó tìm thấy mạch. Điều trị nên khai bế cố thoát. Tuyển dụng Sinh mạch tán hợp Sâm phụ thang sắclấy nước thuốc để uống cùng An cung ngưu hoàng hoàn. Lúc này cũng nên phối hợp ứng dụng tây dược, cấp thời cứu chữa.
(6) Khí âm khuy tổn: Khó thở, mệt mỏi, vô lực, buồn ngủ, tự đổ mồ hôi hoặc đổ mồ hôi trộm, tay chân nóng, khó chịu, eo mỏi, lưỡi đỏ nhạt, rêu mỏng, mạch tế sác vô lực. Điều trị nên ích khí dưỡng âm. Phương tuyển dụng: Tiết thị sâm mạch thang gia giảm: Tây dương sâm, mạch đông, thạch hộc, Mộc qua, cam thảo sống, sinh cốc nha, Liên tử tươi. Nếu thận âm hư tổn, âm hư hỏa vượng, đi tiểu nhiều mà phiền nóng, nước tiểu màu vàng đỏ , thêm Lục vị địa hoàng hoàn hợp Nhị chí hoàn, để bổ thận âm, thanh hư nhiệt. Thận khí hư tổn, thận khí không kiên cố, nước tiểu trong và lượng nhiều, gia Thận khí hoàn hợp với Tang phiêu tiêu tán để kiên cố thận khí, tư nhiếp nạp (司摄纳). Nếu thấp nhiệt lưu luyến (dây dưa) khó giải trừ, ăn uống kém, lợm giọng, phân lỏng, tâm phiền rêu lưỡi vàng, gia Ôn đảm thang để thanh nhiệt hóa ẩm.
Làm thế nào để ngăn ngừa suy thận cấp tính?
Phòng ngừa suy thận cấp tính chủ yếu là chủ động phòng ngừa và điều trị bệnh nguyên phát, tránh và loại bỏ các yếu tố gây ra là nền tảng của phòng ngừa. Do đó, cần chú ý đến 3 điểm sau: (1) Điều dưỡng ngũ tạng: Sinh hoạt bình thường, chế độ ăn uống tiết độ, chú ý đến vệ sinh, tránh ngoại tà xâm nhập, đặc biệt là trong mùa dịch bệnh truyền nhiễm và khu vực dịch bệnh càng phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa; Không ăn thực phẩm quá cay nóng và béo mỡ, để tránh sinh ra thấp nhiệt; Điều hòa tình cảm, duy trì tinh thần vui vẻ, làm cho khí huyết thông suốt và tránh tạo ra bệnh khí trệ huyết ứ; Tăng cường tập thể dục để cải thiện khả năng phòng vệ của cơ thể. (2) Ngăn ngừa ngộ độc: Thông tin cho thấy 20% ~ 50% suy thận cấp tính là do thuốc gây ra, và một phần do tiếp xúc với các chất độc hại. Do đó, nên tránh sử dụng và tiếp xúc với thuốc hoặc chất độc hại cho thận càng xa càng tốt. Nếu dùng hoặc tiếp xúc do tai nạn cần được phát hiện và điều trị sớm kịp thời. ③ Phòng ngừa và điều trị kịp thời: Một khi bệnh nguyên gây suy thận cấp tính xuất hiện, cần điều trị sớm, chú ý mở rộng thể tích máu, điều chỉnh rối loạn nước, điện giải và cân bằng acid-bazơ, phục hồi chức năng tuần hoàn. Nếu phát hiện bệnh sắp xảy ra, cần thực hiện các biện pháp sớm như bổ sung thể tích máu, tăng lượng máu tim bơm ra, phục hồi lưu lượng tuần hoàn thận và tỷ lệ lọc cầu thận, loại bỏ vật cản trong ống thận, phòng ngừa nhiễm trùng, ngăn ngừa DIC và tổn thương mô thận do thiếu máu thận gây ra. Đồng thời, việc sử dụng thuốc hoạt huyết hóa ứ sớm có tác dụng tích cực trong việc phòng ngừa bệnh này.
Lương y Nguyễn Nghị dịch
Tài liệu tham khảo:
Nguyên nhân gây suy thận cấp tính là gì?
Có rất nhiều nguyên nhân gây suy thận cấp tính, thường được chia thành tiền thận, thận và sau thận ba loại chính.
Các nguyên nhân phổ biến của bệnh nitrogen tiền thận bao gồm:
(1) không đủ dung tích máu: có thể nhìn thấy: (1) xuất huyết lớn do nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như xuất huyết tiêu hóa lớn, xuất huyết lớn sau sinh, chấn thương, v.v. (2) mất dịch tiêu hóa, chẳng hạn như nôn mửa dữ dội và tiêu chảy, giảm căng thẳng đường tiêu hóa, v.v. (3) mất chất lỏng thứ phát trong thận, chẳng hạn như nhiễm toan ketosis tiểu đường, suy vỏ thượng thận, v.v. (4) Các nguyên nhân khác, chẳng hạn như bỏng, đổ mồ hôi quá mức và mất nước.
(2) Giảm sản lượng tim: chẳng hạn như suy tim sung huyết nặng hoặc hội chứng lưu lượng thấp (bệnh cơ tim, rối loạn nhịp tim nghiêm trọng và tắc nghẽn màng phổi), thuyên tắc động mạch phổi, v.v.
Nguyên nhân gây suy thận cấp tính sau thận là tắc nghẽn đường tiết niệu cấp tính do nhiều nguyên nhân khác nhau, chẳng hạn như sỏi niệu quản, tắc nghẽn mô hoại tử núm vú, hẹp niệu đạo, tắc nghẽn cổ bàng quang, sưng tuyến tiền liệt, v.v.
Nguyên nhân gây suy thận cấp tính của thận là do nhiều bệnh lý về thận. Theo vị trí và tính chất của nó được chia thành 5 loại: (1) viêm cầu thận cấp tính và viêm mạch máu nhỏ, chẳng hạn như hội chứng viêm cầu thận cấp tính, viêm cầu thận tiến triển nhanh, lupus ban đỏ hệ thống, viêm mạch hoại tử toàn thân, viêm thận tím dị ứng , urê huyết tán huyết, đông máu trong mạch máu lây lan, tăng huyết áp ác tính và các dấu hiệu mang thai nặng; (2) bệnh mạch máu thận cấp tính, chẳng hạn như huyết khối động mạch thận, thuyên tắc động mạch thận, phình động mạch chủ bụng, huyết khối tĩnh mạch thận; (3) viêm thận kẽ cấp tính, chẳng hạn như viêm thận kẽ cấp tính phản ứng biến thái nhiễm trùng, viêm thận liên kết cấp tính phản ứng biến thái thuốc, v.v. (4) tăng cấp tính của bệnh thận mãn tính, chẳng hạn như nhiễm trùng kết hợp, tắc nghẽn đường tiết niệu, rối loạn điện giải, ứng dụng thuốc độc tính thận và suy tim; (5) Hoại tử ống thận cấp tính và hoại tử vỏ não thận cấp tính, chẳng hạn như thiếu máu cục bộ thận cấp tính do chấn thương nghiêm trọng, phẫu thuật và nhiễm trùng nghiêm trọng và ngoại sinh, sử dụng các chất độc tính thận nội sinh, v.v.
Nguyên nhân chính gây suy thận cấp sau thận là tắc nghẽn đường tiết niệu cấp tính, v.v.
Cơ khí khởi phát và thay đổi bệnh lý của suy thận cấp tính là gì?
Cơ chế khởi phát của suy thận cấp tính hiện không rõ ràng, có 4 lý thuyết chính sau đây: (1) tắc nghẽn ống thận, tức là lắng đọng trong ống của các tế bào hoại tử ống thận là nguyên nhân chính gây suy thận cấp tính; (2) rò rỉ trở lại của dịch ống thận, học thuyết này cho rằng, do sự phá hủy biểu mô của ống thận, tác dụng rào cản biến mất và áp lực hấp thụ trở lại của áp lực thẩm thấu keo chu vi ống, rò rỉ trở lại hệ thống mạch máu xung quanh ống tiểu cầu thận, và tại thời điểm này bộ lọc cầu thận hoạt động bình thường hoặc gần bình thường, nhiều nghiên cứu lâm sàng và thực nghiệm đã chứng minh điều này; (3) thay đổi huyết động mạch thận, biểu hiện chính là co thắt động mạch nhỏ vào cầu và sưng tế bào nội mô mao mạch và giãn động mạch nhỏ ra khỏi cầu, dẫn đến thiếu bộ lọc cầu thận; (4) Thay đổi tính thấm của cầu thận, do thiếu máu cục bộ và tổn thương độc tính thận, giảm diện tích bề mặt màng lọc cầu thận hoặc giảm hệ số lọc, dẫn đến suy thận. Để đi học, có thể làm việc cùng nhau để gây bệnh. Chiếm ưu thế trong quá trình bệnh là tổn thương thiếu máu cục bộ của các tế bào biểu mô ống thận.
Sự thay đổi bệnh lý của nó rất khác nhau, nhẹ chỉ có những thay đổi nhỏ trong ống thận, nặng hơn có thể có thoái hóa rộng rãi của ống thận và hoại tử. Quan sát bằng mắt thường có thể thấy thận mở rộng và mềm mại, tủy mặt cắt có màu đỏ sẫm; Vỏ não sưng lên và nhợt nhạt. Kính hiển vi kiểm tra các ống thận mỏng, sưng và hoại tử, với biểu mô bong tróc, hình ống và dịch tiết viêm trong khoang. Kẽ thận có thể có mức độ khác nhau của các tế bào viêm xâm lầy và phù nề. Cầu thận và động mạch thận thường không thay đổi đáng kể. Do nhiễm độc thận, tổn thương chủ yếu là hoại tử giống như các tế bào biểu mô của ống nhỏ gần, trong khi màng cơ sở còn nguyên vẹn. Do thiếu máu cục bộ thận, các tế bào ống thận thường bị hoại tử nặng, phân tán trong các đoạn của ống thận, màng cơ sở thường bị phá hủy.
Giảm mạnh lượng nước tiểu có phải là dấu hiệu của suy thận cấp tính không?
Nước mà người bình thường tiêu thụ hàng ngày bằng với nước thải, khoảng 2500mL, trong đó lượng nước tiểu hàng ngày trung bình là 1500mL. Nếu lượng nước tiểu hàng ngày ít hơn 400mL, được gọi là “ít nước tiểu”, ít hơn 100mL được gọi là “không có nước tiểu”.
Chất thải trao đổi chất trong cơ thể con người như creatinine, nitơ urê, creatine, v.v. chủ yếu được bài tiết ra khỏi cơ thể bằng phân. Nói chung, mỗi người sản xuất 35g chất thải nitơ chuyển hóa mỗi ngày, mỗi gram chất thải cần 15mL đi tiểu pha loãng. Vì vậy, lượng nước tiểu hiệu quả tối thiểu hàng ngày nên là 500mL. Ăn nhiều protein hơn, lượng nước tiểu cần thiết để loại trừ chất thải trao đổi chất càng nhiều. Khi đi tiểu ít hoặc không có nước tiểu, quá nhiều chất thải tích tụ trong cơ thể tạo ra các triệu chứng ngộ độc. Nếu một bệnh nhân, đột nhiên lượng nước tiểu hàng ngày giảm mạnh (ít nước tiểu hoặc không có nước tiểu), thường là một tình trạng nghiêm trọng, có thể được coi là một dấu hiệu của suy thận cấp tính. Tình trạng này thường gặp ở suy thận sau thận do thiếu dung tích máu hiệu quả cấp tính và suy thận sau thận do tắc nghẽn đường tiết niệu cấp tính. Cần nhấn mạnh rằng không phải tất cả các suy thận cấp tính đều có biểu hiện tiểu ít hơn, trong hơn 10 năm qua đã phát hiện ra suy thận cấp tính không ít nước tiểu chiếm khoảng một nửa, lượng nước tiểu hàng ngày của nó > 600mL, điều này nên gây ra sự chú ý cao để tránh chẩn đoán sai.
Các biểu hiện lâm sàng của suy thận cấp tính là gì?
Quá trình lâm sàng của hoại tử ống thận cấp tính thường được chia thành bốn giai đoạn đầu (giai đoạn đầu), ít nước tiểu, đi tiểu nhiều và phục hồi.
Giai đoạn đầu là giai đoạn giữa bệnh nitrogen trước thận điển hình và hoại tử ống thận cấp tính được thành lập, còn được gọi là suy thận cấp tính chức năng, hoặc suy thận cấp tính bắt đầu, v.v. Các biểu hiện lâm sàng ở giai đoạn này là giảm nồng độ phân tử (300 ~ 500mOsm / kg), giảm điểm bài tiết natri lọc (FeNa), giảm tỷ lệ loại bỏ urê và creatinine bằng nhau, biểu hiện bằng sự trầm trọng hơn nữa của bệnh nguyên phát. Nếu nhiễm trùng nặng hoặc tổn thương chấn thương không thể kiểm soát được, bệnh nhân có khát nước, độ đàn hồi da kém, thờ ơ, chóng mặt, chóng mặt, hạ huyết áp và giảm dần lượng nước tiểu và các bệnh thiếu dung tích máu hiệu quả khác, hầu hết sau khi điều trị kịp thời trong vòng 1 đến 3 ngày suy giảm chức năng thận đảo ngược.
Thời gian tiểu ít, thường là 7 đến 14 ngày (ngắn 2 ngày, người cao tuổi lên đến tháng Giêng). Những người gây ra bởi các chất độc tính thận ngắn hơn và các triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn; Chấn thương chèn ép hoặc chấn thương nghiêm trọng gây ra một quá trình dài hơn, các triệu chứng cũng nặng, tiên lượng kém. Những thay đổi sau đây phổ biến sau đây: (1) bất thường đi tiểu, chẳng hạn như ít nước tiểu hoặc không có nước tiểu, nước tiểu đậm và đục, protein nước tiểu + đến ++, có thể có một số lượng khác nhau của hồng cầu, bạch cầu, tế bào biểu mô và loại ống hạt. Những người bị chấn thương chèn ép nghiêm trọng hoặc tổn thương cơ bắp lớn có thể có loại ống mymoglobin và mycoin. Tỷ lệ nước tiểu là 1.010 ~ 1.015 (suy thận sớm lên đến 1.018). (2) Nitride máu, sự gia tăng creatinine máu và nitơ urê ở bệnh nhân bị hoại tử ống thận cấp tính nói chung là 44,2 ~ 88,4μmol / L và 3,57 ~ 7,14mmol / L; Trong khi ở những bệnh nhân chuyển hóa phân hủy cao như sốt cao, nhiễm trùng huyết và chấn thương nghiêm trọng, creatinine máu và nitơ urê phát triển nhanh hơn, lên đến 176,8μmo l / L và 10,7mmol / L mỗi ngày. Khi thận loại bỏ các rối loạn chức năng của chất thải nitơ, bệnh máu nitơ trở nên tồi tệ hơn, và nitơ urê máu sau này có thể đạt 71,4mmol / L. Bệnh nhân bị hòa tan bởi cơ hoành, cơ bắp máu của nó tăng nhanh hơn (cơ bắp ngang giải thích một lượng lớn creatine, được thủy phân thành creatinine thông qua thủy phân không enzyme), và không tương xứng với sự gia tăng nitơ urê máu. (3) nhiễm toan chuyển hóa, do các sản phẩm chuyển hóa axit không dễ bay hơi như rối loạn bài tiết phosphate vô cơ, và mất chức năng tiết H+ của ống thận và amoniac sản xuất, gây tích tụ các sản phẩm chuyển hóa axit trong cơ thể và giảm nồng độ ion bicarbonate trong máu, tạo ra nhiễm toan chuyển hóa trong khoảng cách anion cao, thường xuất hiện sau vài ngày ít nước tiểu. Bệnh nhân có biểu hiện mệt mỏi, buồn ngủ, thở sâu và nhanh, chán ăn, buồn nôn, nôn, đau bụng và thậm chí hôn mê. (4) Ngộ độc nước và giữ natri, chẳng hạn như đau đầu, buồn ngủ, mù mắt, rối loạn chung, nhìn chằm chằm, biểu hiện thờ ơ và rối loạn tâm thần. Nặng thì co giật hoặc hôn mê. Khi bị nhiễm độc nước, natri trong máu thường dưới 125mmol/L, được gọi là hạ natri máu loãng. Nếu không kiểm soát chặt chẽ lượng muối natri, lưu giữ natri có thể xảy ra, dẫn đến tăng cân, phù nề xung quanh, tăng huyết áp và suy tim. Sau này là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do bệnh này. (5) Tăng kali máu, nói chung tăng kali máu hàng ngày khoảng 0,3mmol / L, người trao đổi chất phân hủy cao, kali máu của nó tăng nhanh hơn và nặng hơn. Khi kali máu ≥ 6mmol/L, nó ngăn chặn quá trình khử phân cực của các cơ thần kinh cơ dẫn đến rối loạn dẫn truyền xung. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là rối loạn nhịp tim, nhịp tim chậm, tắc nghẽn dẫn truyền, thậm chí ngừng tim và các biểu hiện tim khác và mệt mỏi chân tay, cảm giác bất thường, phản xạ gân biến mất, và thậm chí làm chậm các triệu chứng thần kinh cơ của tê liệt cơ xương. Kiểm tra điện tâm đồ nhiều lần và đo kali huyết thanh có giá trị quan trọng trong chẩn đoán sớm tăng kali máu. Khi kali huyết thanh ≥ 6mmol /L, điện tâm đồ có thể thấy nhịp tim quá chậm, sóng T cao; Khi 7 ~ 8mmol / L, sóng P giảm, thời gian P-R kéo dài hoặc sóng QRS mở rộng, sóng T thấp. (6) Phốt pho cao và hạ canxi máu, chấn thương mô rộng, hòa tan cơ vân ngang và bệnh nhân chuyển hóa phân hủy cao khác, phốt pho máu có thể lên đến 1,9 ~ 2,6mmol / L. Do tăng phốt pho máu, sản xuất thận 1,25 (OH) 2D3 và xương suy yếu tác dụng huy động canxi của adrenaline, thường là hạ canxi máu. (7) Các triệu chứng của urê huyết, chẳng hạn như buồn nôn, nôn, tiêu chảy, hoặc xuất huyết tiêu hóa và nôn ra máu và dạ dày của phân đenCác triệu chứng đường ruột; các biến chứng tim mạch của tăng huyết áp và suy tim do quá tải natri và nước; buồn ngủ, rối loạn thần kinh, lo lắng và bồn chồn, run rẩy giống như cánh, co thắt cơ thẳng mạnh và biểu hiện thần kinh và tinh thần của co giật; Thiếu máu sắc tố dương tế bào dương, ứ đọng hồng cầu là 20% ~ 30%. Số lượng bạch cầu máu sớm tăng lên, lên đến (10 ~ 20) × 109 / L, tăng phân loại bạch cầu trung tính và di chuyển trái hạt nhân. Có thể có giảm tiểu cầu, chẳng hạn như suy thận cấp tính sau 1 tuần vẫn còn tăng bạch cầu, nhiều nhiễm trùng. Vị trí tốt của nhiễm trùng là đường hô hấp, đường tiết niệu và vết thương phẫu thuật, vi khuẩn gây bệnh là vi khuẩn gram dương hoặc vi khuẩn gram âm.
Thời kỳ tiểu nhiều, tức là khi lượng nước tiểu hàng ngày của bệnh nhân tăng lên hơn 400mL, được gọi là thời kỳ đa tiểu. Giai đoạn này kéo dài khoảng 2 tuần. Lượng nước tiểu tăng lên từng ngày, sau khi lượng nước tiểu hàng ngày đạt 500mL, tốc độ tăng nước tiểu tăng nhanh, sau 5 đến 7 ngày đạt đỉnh nước tiểu, có thể đạt 2000mL mỗi ngày. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ tiểu nhiều, các đơn vị thận vẫn chưa được phục hồi hoàn toàn, vì vậy không thể cố gắng loại bỏ chất thải nitơ, kali và phốt pho trong chảy máu càng nhiều càng tốt, bệnh nhân vẫn chưa thoát khỏi giai đoạn nguy hiểm. Khi lượng nước tiểu đạt đến đỉnh điểm, cần cảnh giác với các rối loạn nước và chất điện giải, theo dõi chặt chẽ và theo dõi.
Thời gian phục hồi, sau thời gian đi tiểu nhiều, chức năng thận được cải thiện đáng kể, lượng nước tiểu dần trở lại bình thường, creatinine máu, nitơ urê cũng gần mức bình thường. Nhưng chức năng ống thận vẫn còn một rối loạn nhẹ, thường mất vài tháng để phục hồi. Bệnh nhân cá nhân có thể để lại suy giảm chức năng thận vĩnh viễn và thậm chí suy thận mãn tính.
Bệnh nhân suy thận cấp nên làm những xét nghiệm trong phòng thí nghiệm nào?
Để chẩn đoán và hướng dẫn điều trị bệnh rõ ràng, ngoài việc theo dõi lịch sử y tế chi tiết và kiểm tra thể chất chi tiết và toàn diện của bệnh nhân, cần thực hiện các xét nghiệm trong phòng thí nghiệm cần thiết và kiểm tra phụ trợ.
(1) Kiểm tra nước tiểu thường xuyên: có thể giúp xác định loại bệnh gốc nào gây suy thận cấp tính, đặc biệt là do bệnh thực chất thận nào. Chẳng hạn như bệnh nhân hoại tử ống thận cấp tính hầu hết có biểu hiện trầm tích nước tiểu hoạt động, kèm theo các tế bào biểu mô ống thận, mảnh vỡ tế bào, loại ống tế bào ống thận hoặc loại ống hạt; suy thận cấp tính tiền thận, sau thận suy thận trầm tích bình thường hoặc cơ bản bình thường; viêm cầu thận hoặc viêm mạch vi mô có loại hồng cầu và hồng cầu; Viêm thận kẽ cấp tính có bạch cầu, đôi khi có loại ống bạch cầu; Tăng axit uric máu cấp tính tổn thương thận có thể có kết tinh axit uric trong nước tiểu.
(2) Phân tích sinh hóa nước tiểu: chức năng ống thận bị hoại tử ống thận cấp tính có thể được ước tính. Bao gồm các chỉ số sau: (1) xác định khả năng cô đặc nước tiểu, tỷ lệ nước tiểu trong bệnh nitride tiền thận > 1.020, trong khi hoại tử ống thận cấp tính < 1.010, áp suất thẩm thấu nước tiểu (mOsm), áp suất thẩm thấu nước tiểu / áp suất thẩm thấu huyết tương, tỷ lệ loại bỏ nước tự do (mL / min), bệnh nitơ tiền thận lần lượt là >500, > 1,3, <-20; Hoại tử ống thận cấp tính lần lượt là <350, < 1,1, >-11. (2) Chỉ số suy thận (RFI) và phân đoạn bài tiết natri lọc (FeNa), công thức tính toán là natri nước tiểu / (creatinine nước tiểu / creatinine máu) và (natri nước tiểu / natri máu) / (creatinine nước tiểu / creatinine máu) × 100%. Hai loại natri nước tiểu và đơn vị natri máu là mmol / L, đơn vị của creatinine nước tiểu và creatinine máu là mg / dl, natri nước tiểu, creatinine nước tiểu là giá trị xác định của bất kỳ mẫu vật nào, natri máu và creatinine máu là giá trị xác định mẫu máu được thu thập đồng thời với mẫu nước tiểu. Điểm bài tiết natri lọc được định nghĩa là natri được lọc ra bởi cầu thận, sau khi hấp thụ lại qua ống thận, tỷ lệ phần trăm được bài tiết bởi thận. Theo thói quen, chỉ số suy thận thường được thay thế. Nạn nhân bị hoại tử ống thận cấp tính, FeNa > 1%, RFI >1. Điều đáng chú ý là nếu thuốc lợi tiểu đã được sử dụng như nước tiểu nhanh hoặc glycol, hoặc có bệnh tiểu đường, gây lợi tiểu thấm, có thể làm cho các chỉ số nước tiểu của bệnh máu nitơ tiền thận tương tự như hoại tử ống thận cấp tính, vì vậy trước khi sử dụng thuốc lợi tiểu, nên dẫn mẫu nước tiểu để xác định các chỉ số nước tiểu.
Tỷ lệ creatinine/creatinine máu phản ánh khả năng tái hấp thụ nước từ cầu thận. Bởi vì creatinine không được hấp thụ lại bởi ống thận, do đó nồng độ creatinine nước tiểu càng thấp, khả năng hấp thụ nước của ống thận càng kém. Tỷ lệ của bệnh máu nitơ tiền thận là > 40, trong khi hoại tử ống thận cấp tính < 20. Đây là một chỉ số đáng tin cậy hơn để xác định chẩn đoán. <b136> Nồng độ natri trong nước tiểu có thể được sử dụng như một chỉ số ước tính mức độ hoại tử ống thận. Khi hoại tử ống thận cấp tính, nồng độ natri nước tiểu thường > 40mmol/L; Ở những người bị bệnh máu nitơ tiền thận, nồng độ natri nước tiểu thường < 20mmol / L, nếu natri nước tiểu nằm trong 20 ~ 40mmol / L, nó cho thấy rằng tình trạng đang phát triển từ máu nitơ tiền thận đến suy thận cấp tính. Nồng độ natri trong nước tiểu có thể thấp hơn ở những người bị bỏng, suy tuần hoàn, suy gan, ngay cả khi hoại tử ống thận cấp tính. <b137> (3) Kiểm tra hình ảnh thận: bao gồm: (1) bụng phẳng, thận co lại cho thấy bệnh thận mãn tính ban đầu; thận mở rộng gợi ý tắc nghẽn, viêm hoặc tổn thương xâm lút; Vôi hóa được tìm thấy rộng rãi trong động mạch chủ hoặc động mạch thận, hoặc bất đối xứng rõ ràng về thể tích và hình thái của thận, chủ yếu là bệnh mạch máu thận. Bệnh nhân ít đi tiểu hoặc không có nước tiểu, đã kéo dài nhiều tuần, trên X-quang phẳng phát hiện vỏ thận có nhiều điểm vôi hóa, gợi ý hoại tử vỏ não thận. (2) Hình ảnh siêu âm, chẳng hạn như vỏ não mỏng hoặc phù nề gợi ý bệnh thận mãn tính hoặc viêm cấp tính. Tắc nghẽn trong 24 đến 36 giờ, siêu âm hình ảnh thấy bể thận và thận mở rộng không có tiếng vang. (3) Hình ảnh bể thận ngược dòng và hạ lưu, có thể cung cấp bằng chứng đáng tin cậy nhất về tắc nghẽn. Chụp xước bể thận ngược có thể dẫn đến nhiều biến chứng hơn, chẳng hạn như chấn thương niệu quản, chảy máu và nhiễm trùng đường tiết niệu, vì vậy cần nắm vững các bằng thích ứng. (4) Kiểm tra nucleotine, có thể được sử dụng để xác định lưu lượng máu thận, chức năng ống thận, v.v. để xác định sự bài tiết cấp tính trong cấy ghép thận (giảm lưu lượng máu thận) và hoại tử ống thận cấp tính (giảm lưu lượng máu thận không rõ ràng), tắc nghẽn niệu quản cấp tính, bệnh mạch máu thận và viêm thận kẽ. (5) CT và những người khác, CT cung cấp chẩn đoán hình ảnh đáng tin cậy, chẳng hạn như liệu thận có đối xứng hay không, kích thước, hình dạng và liệu có dịch bể thận hay không. Cộng hưởng từ cũng có thể được sử dụng.
(4) Sinh thiết thận: Khi được chẩn đoán hoại tử ống thận cấp tính và nghi ngờ, sinh thiết thận có thể được thực hiện. Bằng chứng thích ứng của nó là: (1) bệnh nhân không có nguyên nhân gây bệnh rõ ràng (thiếu máu cục bộ thận hoặc độc tố thận); (2) biểu hiện lâm sàng không điển hình, chẳng hạn như niệu protein nghiêm trọng và / hoặc nước tiểu máu, hoặc tăng huyết áp nghiêm trọng, v.v. (3) không có nước tiểu hoặc ít nước tiểu hơn 4 tuần; (4) Có biểu hiện lâm sàng ngoài thận, có thể là bệnh cầu thận thứ phát, chẳng hạn như bệnh thấp khớp gây tổn thương thận; (5) Không loại trừ viêm thận kẽ cấp tính.
Nguyên tắc phòng ngừa suy thận cấp tính là gì?
(1) Chú ý đến việc điều trị khẩn cấp khi gặp phải tình huống suy thận cấp tính có thể xảy ra.
(2) Chủ động phòng ngừa và điều trị hợp lý các bệnh nhiễm trùng khác nhau.
(3) Sử dụng hợp lý glycol và nước tiểu nhanh.
(4) Một khi suy thận cấp tính xảy ra, nên được xử lý theo từng giai đoạn: nếu thời gian đi tiểu ít hơn nên kiểm soát chặt chẽ lượng nước và natri, cung cấp calo cao, chế độ ăn ít protein. Người bị nhiễm bệnh chọn thuốc kháng khuẩn không độc hại và hiệu quả cao, phải dựa trên mức độ suy giảm chức năng thận của bệnh nhân và tốc độ bài tiết thuốc trong cơ thể để xác định liều lượng thuốc và khoảng thời gian sử dụng thuốc. Chú ý đến việc ngăn ngừa xuất huyết tiêu hóa và suy tim. Đối với urê huyết, nhiễm toan có thể được sử dụng liệu pháp lọc máu. Trong thời gian đi tiểu nhiều nên chú ý đến việc phòng ngừa mất nước và hạ kali máu. Thời gian phục hồi nên chú ý đến dinh dưỡng và tập thể dục của bệnh nhân.
(5) Nên kết hợp điều trị bằng chứng y học Cổ truyền Trung Quốc để điều trị kết hợp y học Trung Quốc và phương Tây.
Giai đoạn đầu của suy thận cấp nên được điều trị như thế nào?
(1) Tích cực điều trị các bệnh nguyên phát (ví dụ: chấn thương nghiêm trọng, nhiễm trùng nặng, v.v.), đặc biệt là để đối phó với dung tích máu không đầy đủ, sốc và loại bỏ các mô hoại tử.
(2) điều trị ban đầu bao gồm:
(1) glycol, nhỏ giọt tĩnh mạch 60 ~ 125mL, 5 ~ 10 phút tiêm, chẳng hạn như 2 giờ vẫn không có nước tiểu, có thể tái sử dụng liều trên glycol tăng tốc nước tiểu 240mg, nếu lượng nước tiểu vẫn không tăng, sau đó chỉ đơn giản là sử dụng nước tiểu nhanh 480mg nhỏ giọt tĩnh mạch, nếu lượng nước tiểu vẫn không tăng, cho thấy suy thận cấp tính đã được thiết lập, điều trị lợi tiểu không hiệu quả không nên tái sử dụng.
(2) Thuốc giãn mạch, chẳng hạn như thuốc phin 30 mg, tiêm bắp, 1 lần một lần một lần mỗi 4 giờ, kéo dài 48 giờ, hoặc với liều lượng nhỏ dopamine (1 ~ 5 μg / kg mỗi phút), có tác dụng giãn mạch thận, có thể ngăn ngừa và cải thiện suy thận cấp tính.
(3) Thuốc chẹn kênh canxi, có thể ngăn ngừa suy thận cấp thiếu máu cục bộ, có thể làm suy thận loại tiểu ít hơn thành suy thận không ít nước tiểu.
Điều trị suy thận cấp tính ít tiểu giai đoạn bao gồm những khía cạnh nào?
Một khi suy thận cấp tính được thiết lập, các biện pháp điều trị tích cực nên được thực hiện ngay lập tức:
(1) kiểm soát chặt chẽ lượng nước và natri: đây là một phần chính của điều trị giai đoạn này. Sau khi sửa chữa sự vắng mặt của chất lỏng cơ thể ban đầu, chúng ta nên tuân thủ nguyên tắc “số lượng ra vào”. Lượng nước tiểu hàng ngày là lượng nước tiểu của ngày hôm trước cộng với lượng nước bị mất đáng kể và mất nước không rõ ràng khoảng 400mL (độ ẩm bốc hơi da, đường hô hấp 700mL trừ đi 300mL nước nội sinh). Mất nước rõ ràng đề cập đến tổng lượng chất lỏng có thể quan sát được như phân, chất nôn, chất lỏng tiết dịch, chất dẫn lưu, v.v. Đối với người bị sốt, nhiệt độ cơ thể tăng 1 °C nên được thêm vào 100mL. Việc theo dõi natri trong máu cung cấp cơ sở cho lượng nước bổ sung. Sự sụt giảm đột ngột của natri máu không rõ nguyên nhân cho thấy lượng nước đầu vào quá nhiều, đặc biệt là quá nhiều nước đầu vào, dẫn đến loãng natri máu. Sự gia tăng natri trong máu cho thấy tình trạng thiếu nước, gây tăng natri máu cô đặc, không cần phải hạn chế quá nghiêm ngặt lượng chất lỏng căng thẳng thấp. Quá nhiều nước nhẹ, chỉ cần hạn chế nghiêm ngặt lượng nước, và uống 25% sorbitol 30mL thông qua tiêu chảy. Rõ ràng là quá nhiều nước, các biện pháp trên không hiệu quả, nên được điều trị bằng lọc máu ngay lập tức để mất nước.
(2) Chế độ ăn uống và dinh dưỡng: nên cung cấp đủ năng lượng nhiệt để đảm bảo nhu cầu trao đổi chất của cơ thể. Tiêu thụ tối thiểu 100g carbohydrate mỗi ngày, có thể được cho ăn hoặc bổ sung tĩnh mạch để giảm dị sinh đường và nhiễm toan đói. Để giảm nguồn nitơ, kali, phốt pho và lưu huỳnh, lượng protein cần được hạn chế một cách thích hợp. Cho protein 0,5g/ kg trọng lượng cơ thể mỗi ngày, chọn protein động vật chất lượng cao có giá trị sinh học cao như trứng, cá, sữa và thịt. Cũng có thể sử dụng ống thông tĩnh mạch để nhỏ giọt dinh dưỡng caoChất lỏng tiêm, chủ yếu bao gồm tám axit amin L thiết yếu, vitamin tổng hợp và nồng độ glucose cao. Sau khi sử dụng chất tiêm dinh dưỡng cao, nitơ urê máu có thể được giảm, cải thiện các triệu chứng urê huyết, giảm biến chứng và giảm tỷ lệ tử vong do suy thận cấp tính. Tuy nhiên, cần chú ý đến các bệnh đồng thời của nó, chủ yếu là các bệnh đồng thời liên quan đến ống thông và rối loạn chuyển hóa. Chẳng hạn như nhiễm trùng cục bộ, nhiễm trùng huyết và huyết khối tĩnh mạch, rối loạn cân bằng nước, điện giải và axit-bazơ và tăng đường huyết. Vì vậy, khi sử dụng, nên theo dõi mức độ natri máu, kali, carbon dioxide và đường, để điều trị kịp thời.
(3) axit rối loạn: nhiễm toan chuyển hóa nhẹ không cần điều trị, trừ khi nồng độ bicarbonate trong máu < 10mmol / L, chỉ để bổ sung kiềm. Tùy thuộc vào tình trạng, natri bicarbonate, natri lactic hoặc trioxin methylamin metan được điều trị. Sau khi điều chỉnh nhiễm toan, nồng độ ion canxi trong máu có thể giảm, xuất hiện co giật tay chân, vì vậy nên kết hợp với 10% canxi gluconate 10 ~ 20mL tiêm tĩnh mạch. <b159> (4) Điều trị tăng kali máu: tăng kali máu nhẹ (<6mmol / L) chỉ cần theo dõi chặt chẽ và hạn chế nghiêm ngặt việc sử dụng thực phẩm và thuốc có hàm lượng kali cao. Chẳng hạn như kali máu > 6,5mmol / L, điện tâm đồ xuất hiện các dấu hiệu bất lợi như tăng chiều rộng sóng QRS, cần được xử lý kịp thời. Các biện pháp có tiêm tĩnh 10% canxi gluconate 10 ~ 20mL, 2 ~ 5 phút tiêm đầy; Tiêm tĩnh 5% natri bicarbonate 100 mL, 5 phút sau khi tiêm, những người có chức năng không đầy đủ thận trọng; 50% glucose 40mL tiêm tĩnh mạch và dưới da tiêm insulin thông thường 10 U; hoặc điều trị chạy thận sớm.
(5) Điều chỉnh suy tim: suy tim cấp tính trong suy thận cấp tính chủ yếu là do nước, natri quá mức, tải trọng tim tăng lên, hoặc rối loạn nhịp tim do rối loạn điện giải gây ra, nhiễm toan chuyển hóa, v.v. cũng có liên quan đến suy tim. Biểu hiện lâm sàng của nó gần giống như suy tim cấp tính nói chung, và các biện pháp điều trị về cơ bản là tương tự. Tuy nhiên, liều lượng của các loại thuốc vàng dương nên được điều chỉnh theo tỷ lệ loại bỏ creatinine nội sinh. Biện pháp điều trị tốt nhất của nó là chạy thận càng sớm càng tốt.
(6) Phòng ngừa nhiễm trùng: Nhiễm trùng là một biến chứng phổ biến của suy thận cấp tính, tỷ lệ mắc khoảng 51% ~ 89%, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây suy thận cấp tính. Thuốc kháng sinh thường không được sử dụng để phòng ngừa, nhưng khi có dấu hiệu nhiễm trùng như phế quản, phổi, nhiễm trùng đường tiết niệu và nhiễm trùng huyết, thuốc kháng sinh hiệu quả không độc hại hoặc ít độc hại đối với thận nên được chọn càng sớm càng tốt và điều chỉnh liều theo tỷ lệ loại bỏ creatinine. Đồng thời, làm tốt công tác phòng ngừa, chẳng hạn như hoạt động vô trùng nghiêm ngặt và cách ly giường, chú ý đến việc làm sạch miệng, da, âm hộ, giúp bệnh nhân trở mình nhiều hơn. Đặc biệt chú ý đến nhiễm trùng phổi, ghẻ, ống thông tĩnh mạch và các vị trí niệu quản.
(7) Điều trị chảy máu đường tiêu hóa: Xuất huyết đường tiêu hóa cũng là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây suy thận cấp tính. Nguyên nhân chính là loét căng thẳng. Để phát hiện kịp thời chảy máu đường tiêu hóa ẩn, cần thường xuyên quan sát phân và làm xét nghiệm máu tiềm ẩn và theo dõi ứ đọng hồng cầu. Việc lựa chọn các chất đối kháng thụ thể H2 (ví dụ: methylene, renitidin và famodedine, v.v.) có thể ngăn ngừa xuất huyết tiêu hóa ở những bệnh nhân suy thận cấp tính nặng. Nếu có dấu hiệu chảy máu, ranitine hoặc methylene nên được sử dụng kịp thời, nhưng liều lượng nên được giảm xuống còn 1/2 người bình thường. Chẳng hạn như methanoi 0,1g, 4 lần một ngày. Hoặc methylene 0,2g thêm 5% dung dịch tiêm glucose 20 mL từ từ tĩnh. Xuất huyết đường tiêu hóa của suy thận cấp tính giống như các biện pháp điều trị chảy máu lớn của đường tiêu hóa nói chung.
(8) Liệu pháp lọc máu: Các dấu hiệu lọc máu được xây dựng tại Hội nghị học thuật cấp cứu quốc gia năm 1982 là: thúc đẩy lọc máu dự phòng sớm, trong vòng 1 ngày xác định suy thận cấp tính, bất cứ ai thuộc nhóm chuyển hóa phân hủy cao (tăng nitơ urê máu > 8,9mmol / L) nên được điều trị lọc máu ngay lập tức. Những người chuyển hóa không phân hủy cao, một trong những trường hợp sau đây nên được điều trị lọc máu ngay lập tức: các triệu chứng của urê huyết rõ ràng, chẳng hạn như buồn nôn, nôn, các triệu chứng tâm thần, v.v. Có các triệu chứng suy tim do nước, natri giữ lại hoặc sung huyết; Tăng kali máu nặng, kali máu > 6,5mmol /L, điện tâm đồ xuất hiện hiện tượng kali cao rõ rệt; Creatinine máu > 580,4 ~ 707μmol /L, nitơ urê > 28,6mmol/L; Nhiễm toan chuyển hóa nghiêm trọng, nồng độ bicarbonate trong máu tiếp tục < 10mmol / L, sau khi bổ sung kiềm khó sửa chữa. <b164> Việc lựa chọn liệu pháp lọc máu thường được quyết định dựa trên tình hình của bệnh nhân tại thời điểm đó và điều kiện thiết bị địa phương. Đối với những người có động lực học lưu lượng máu không ổn định, giảm huyết áp, suy tim hoặc có khuynh hướng chảy máu, nên được điều trị lọc máu phúc mạc; Suy thận cấp tính chuyển hóa cao, tổn thương hở nội tạng ổ bụng hoặc phẫu thuật khoang bụng trong vòng 3 ngày, thích hợp để lọc máu. Lọc máu tĩnh mạch liên tục (CAVH) điều trị hoại tử ống thận cấp tính tốt hơn và dung nạp tốt. Đặc biệt thích hợp cho bệnh nhân bị quá tải dịch cơ thể, suy đa cơ quan và sau phẫu thuật bụng.
(9) Điều trị y học Cổ truyền Trung Quốc: có thể dùng đại hoàng, phụ tử, công anh, hàu, long cốt, đan sâm và các loại nước sắc khác để thông phủ tiết trọc, giải độc trừ trệ.
Làm thế nào để điều trị suy thận cấp tính trong thời kỳ tiểu nhiều?
Bắt đầu một vài ngày kể từ khi giai đoạn này bắt đầu, vì GFR vẫn chưa được khôi phục, nó vẫn nên được xử lý theo nguyên tắc thời gian ít nước tiểu. Khi lượng nước tiểu > 1000mL/d, nitơ urê máu sẽ giảm dần, tại thời điểm này phải chú ý đến sự xuất hiện của mất nước và hạ kali máu. Đối với những người có lượng nước tiểu hàng ngày từ 5 đến 10L, phương pháp điều trị tốt nhất là: bổ sung nước tiểu với một nửa lượng nước muối như vậy cho đến khi nitơ urê giảm xuống còn 21,4 ~ 25mmol / L. Chẳng hạn như nitơ urê máu < 21,4mmol / L, ngay cả khi dịch cơ thể có cân bằng âm và giảm cân, cũng không nên bù nước nhiều. Nhưng nếu dân số bị bệnh khát, bạn có thể uống nước miễn phí. Cho dù phải bù nước, mỗi ngày chỉ nên bổ sung khoảng 2L. Bởi vì tại thời điểm này thận bệnh đang phục hồi chức năng, có thể làm cho cơ thể không còn mất nước, và về cơ bản sẽ không xảy ra lợi tiểu tan buộc, vì vậy bệnh nhân sẽ không mất nước. <b169>
Thời gian phục hồi suy thận cấp tính được điều trị như thế nào?
Giai đoạn này chủ yếu dựa trên tình hình của bệnh nhân để nhấn mạnh việc nuôi dưỡng và tăng số lượng hoạt động, lựa chọn điều trị bằng thuốc đông y, tránh sử dụng thuốc tổn thương thận. Nếu tính tình hư giả dùng hương sa lục quân tử hoàn. Thận dương hư giả dùng kim quỹ thận khí hoàn; Người thận âm hư dùng lục vị địa hoàng hoàn.