Viêm phế quản cấp tính là tình trạng viêm cấp của niêm mạc khí quản và phế quản, biểu hiện chủ yếu bằng ho, khạc đàm, có thể kèm sốt, đau ngực, thở khò khè hoặc khó thở. Theo Trung y, bệnh thuộc phạm vi ngoại cảm khái thấu 外感咳嗽, phần nhiều do ngoại tà xâm phạm Phế, làm Phế khí mất tuyên phát và túc giáng.
Bệnh thường khởi đầu từ cảm mạo. Ngoại tà từ mũi, miệng hoặc bì mao xâm nhập vào Phế vệ, khiến khí đạo không thông, Phế khí nghịch lên mà phát ho. Nếu tân dịch không được phân bố bình thường sẽ tụ lại thành đàm. Tùy tính chất ngoại tà và thể chất người bệnh, có thể xuất hiện phong hàn, phong nhiệt, táo nhiệt, đàm thấp hoặc đàm nhiệt.
Ở trẻ nhỏ, Phế thường kiều nộn, khí đạo hẹp, khả năng khạc đàm còn yếu, vì vậy sau khi mắc bệnh dễ xuất hiện nhiều đàm, ho nôn, tiếng rít hoặc thở khò khè. Nếu sốt kéo dài, ho tăng, thở nhanh hoặc nghe phổi có ran ẩm nhỏ cố định, cần cảnh giác bệnh đã lan đến nhu mô phổi.
I. NGUYÊN NHÂN VÀ BỆNH CƠ
Khi cơ thể bị nhiễm lạnh, dầm mưa hoặc gặp gió lạnh, phong hàn có thể bó ở Phế vệ. Phế khí không tuyên, khí nghịch lên nên ho; tân dịch ngưng tụ thành đàm trắng loãng.
Phong nhiệt hoặc nhiệt tà xâm nhập Phế, làm Phế mất thanh túc. Nhiệt nung đốt tân dịch thành đàm vàng hoặc đàm dính, đồng thời gây sốt, họng đỏ và miệng khát.
Táo tà thường gặp khi thời tiết hanh khô. Táo làm tổn thương Phế âm và tân dịch, gây ho khan, ít đàm, đàm dính khó khạc, miệng mũi khô.
Người Tỳ vận hóa kém, ăn nhiều thức ăn béo ngọt hoặc cơ thể vốn nhiều đàm thấp, khi cảm ngoại tà dễ làm đàm trọc dâng lên Phế. Đàm làm bế tắc khí đạo nên ho nhiều, ngực tức, đàm dính và buồn nôn.
Ngoại tà vào trong hóa nhiệt hoặc đàm thấp lưu lại lâu ngày hóa nhiệt, hình thành đàm nhiệt. Đàm và nhiệt cùng bế tắc Phế, gây ho dữ dội, đàm vàng đặc, khó khạc, ngực tức và có thể thở khò khè.
II. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG
Viêm phế quản cấp thường khởi phát bằng triệu chứng cảm mạo, sau đó ho trở thành biểu hiện chính.
Triệu chứng thường gặp: Nghẹt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi, đau họng, sợ lạnh hoặc sốt, đau đầu, mệt mỏi, ho khan lúc đầu, sau đó khạc đàm trắng hoặc vàng, đàm có thể dính, ngực đau khi ho, buồn nôn hoặc nôn sau cơn ho; ho thường tăng vào sáng sớm, buổi tối và khi hít không khí lạnh.
Ở trẻ nhỏ, đàm thường được nuốt xuống vì trẻ chưa biết khạc. Một số trẻ có thể xuất hiện thở khò khè, đặc biệt khi đường thở phù nề và nhiều đàm.
Bệnh phần nhiều kéo dài khoảng một đến hai tuần. Nếu ho, sốt và khó thở tiếp tục tăng, cần đánh giá lại để loại trừ viêm phổi hoặc các bệnh khác.
III. PHÂN BIỆT VỚI MỘT SỐ BỆNH KHÁC
Triệu chứng mũi họng rõ như nghẹt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi; ho thường nhẹ, ít đàm, không có nhiều ran phế quản.
Khởi phát đột ngột, sốt, đau đầu, đau nhức toàn thân và mệt mỏi rõ; triệu chứng toàn thân thường nặng hơn triệu chứng ho đàm.
Sốt kéo dài, ho tăng, thở nhanh, triệu chứng toàn thân nặng, nghe phổi có ran ẩm nhỏ tương đối cố định; bệnh không giảm rõ sau khi ho hoặc khạc đàm.
Trẻ có tiếng rít tái phát, cơn khò khè rõ về đêm hoặc sáng sớm, có thể có tiền sử chàm hoặc dị ứng. Một số trường hợp tái diễn nhiều lần cần được theo dõi về khả năng phát triển thành hen.
IV. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
Ngoại cảm khái thấu lấy khu tà tuyên Phế làm chính.
Phong hàn thì tân ôn giải biểu, tuyên Phế tán hàn.
Phong nhiệt thì sơ phong thanh nhiệt, tuyên Phế chỉ khái.
Táo nhiệt thì thanh Phế nhuận táo, sinh tân hóa đàm.
Đàm thấp thì táo thấp hóa đàm, lý khí hòa trung.
Đàm nhiệt thì thanh nhiệt hóa đàm, tuyên Phế giáng khí.
Trẻ nhỏ, người cao tuổi hoặc người thể trạng yếu cần tránh phát tán, thanh nhiệt hoặc công hạ quá mức.
V. CÁC THỂ BỆNH THƯỜNG GẶP
Triệu chứng
Ho, đàm trắng loãng, nghẹt mũi, chảy nước mũi trong, sợ lạnh, có thể sốt nhẹ, không ra mồ hôi, đau đầu, đau mình, không khát hoặc thích uống ấm, lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch phù khẩn.
Phép trị
Tân ôn giải biểu, tuyên Phế chỉ khái.
Phương thuốc tham khảo
Tam ảo thang giản hóa
Thành phần theo tài liệu: Ma hoàng 4,5 g, Hạnh nhân 9 g, Sinh cam thảo 3 g.
Cách dùng: Sắc uống, mỗi ngày một thang.
Công dụng: Tuyên Phế, tán hàn, chỉ khái.
Phương có Ma hoàng không thích hợp để tự dùng cho trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai, người tăng huyết áp, bệnh tim, mất ngủ hoặc cường giáp.
Phương trà Khoản đông Tử uyển
Thành phần: Trà 6 g, Khoản đông hoa 3 g, Tử uyển 3 g.
Cách dùng: Hãm với nước sôi, dùng như trà.
Công dụng: Chỉ khái, hóa đàm, bình suyễn.
Triệu chứng
Ho, sốt, hơi sợ gió, họng đau, miệng khát, đàm vàng hoặc trắng đặc, khó khạc, mũi họng khô nóng, lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch phù sác.
Phép trị
Sơ phong thanh nhiệt, tuyên Phế, hóa đàm.
Phương thuốc tham khảo
Tang bạch bì Tỳ bà diệp thang
Thành phần: Tang bạch bì 12 g, Tỳ bà diệp 12 g.
Cách dùng: Sắc uống, mỗi ngày một thang. Tỳ bà diệp cần bỏ sạch lông trước khi sắc.
Công dụng: Thanh Phế giáng khí, chỉ khái bình suyễn.
Ngư tinh thảo thang
Thành phần: Ngư tinh thảo 30 g.
Cách dùng: Sắc uống, mỗi ngày một thang.
Công dụng: Thanh nhiệt giải độc, dùng khi ho đàm vàng và nhiệt chứng tương đối rõ.
Hoàng cầm Uất kim thang
Thành phần: Hoàng cầm bột 10 g, Uất kim bột 8 g.
Cách dùng theo tài liệu: Sắc uống, mỗi ngày một thang.
Công dụng: Thanh nhiệt, hành khí giải uất.
Phương này không nên tự dùng cho phụ nữ mang thai hoặc người Tỳ Vị hư hàn.
Triệu chứng
Ho nhiều, đàm vàng đặc dính, khó khạc, ngực tức, miệng khát, có thể sốt, thở khò khè, lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa đàm, tuyên Phế giáng khí.
Phương thuốc tham khảo
Tỳ bà diệp thang
Thành phần: Tỳ bà diệp đã bỏ lông, sao mật 15–25 g.
Cách dùng: Sắc lấy nước, uống trong ngày.
Công dụng: Thanh Phế, hóa đàm, chỉ khái.
Phương Trần bì Hải tảo
Thành phần: Trần bì 20 g, Hải tảo 15 g.
Cách dùng theo tài liệu: Sắc hai lần, hòa chung nước thuốc, chia uống trong ngày.
Công dụng theo tài liệu: Hóa đàm, lý khí, tán kết.
Hải tảo có thể ảnh hưởng đến chức năng tuyến giáp và tương tác với thuốc, không nên tự dùng kéo dài.
Triệu chứng
Ho, đàm nhiều trắng đục hoặc dính, ngực đầy tức, buồn nôn, ăn uống kém, miệng nhạt, người nặng nề, lưỡi nhạt, rêu trắng nhờn, mạch hoạt.
Phép trị
Táo thấp hóa đàm, lý khí hòa trung.
Phương thuốc tham khảo
Trần bì Pháp bán hạ tán
Thành phần theo tài liệu: Trần bì 5 g, Pháp bán hạ 20 g, Xuyên bối mẫu 10 g, Bạc hà 1 g.
Tài liệu gốc còn ghi Bạch phàn 1,5 g. Do Bạch phàn đường uống có thể gây kích ứng và nguy cơ độc tính nếu dùng không đúng, không nên tự phối chế phương này.
Các vị còn lại cũng chỉ dùng khi đã được biện chứng và hướng dẫn chuyên môn.
Bạch giới tử thang
Thành phần: Bạch giới tử 10 g.
Cách dùng theo tài liệu: Sắc uống.
Công dụng: Ôn Phế, khu đàm, lợi khí.
Bạch giới tử có tính cay nóng, không thích hợp với ho khan, đàm vàng, họng đỏ hoặc Phế âm hư.
Triệu chứng
Ho khan, ít đàm hoặc đàm dính khó khạc, miệng khô, mũi họng khô, đau họng, có thể sốt nhẹ, đại tiện khô, lưỡi đỏ, ít tân dịch, rêu mỏng khô.
Phép trị
Thanh Phế nhuận táo, sinh tân chỉ khái.
Phương thuốc tham khảo
Lê hấp Xuyên bối
Thành phần: Lê lớn 1 quả, Xuyên bối mẫu tán bột 3 g, Băng đường 9 g.
Cách làm: Bổ đôi quả lê, bỏ hạt, cho Xuyên bối mẫu và Băng đường vào giữa, hấp chín rồi dùng.
Công dụng: Nhuận Phế, thanh nhiệt, hóa đàm, chỉ khái.
Phương này phù hợp hơn với ho khan hoặc đàm ít dính thuộc táo nhiệt, không phù hợp với ho đàm trắng loãng, sợ lạnh và đại tiện lỏng.
Hạt bí đao Mạch môn thang
Thành phần: Hạt bí đao 15 g, Mạch môn 15 g.
Cách dùng: Sắc uống, chia hai lần trong ngày.
Công dụng: Dưỡng âm, thanh nhiệt, hóa đàm.
Bách hợp thang
Thành phần theo tài liệu: Bách hợp 100 g, đường đỏ 50 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Bách hợp có tác dụng dưỡng âm nhuận Phế. Tuy nhiên, đường đỏ không cần dùng nhiều, nhất là ở người đái tháo đường hoặc đàm thấp.
Triệu chứng
Sợ lạnh, đau đầu, nghẹt mũi, có thể không ra mồ hôi; đồng thời ho đàm vàng, miệng khát, họng đỏ, bứt rứt, lưỡi đỏ, rêu trắng hơi vàng.
Phép trị
Giải biểu tán hàn, thanh lý nhiệt, tuyên Phế hóa đàm.
Phương thuốc tham khảo
Thạch cao Trần bì Thông bạch thang
Thành phần: Sinh thạch cao 15 g, Trần bì 9 g, Thông bạch 10 củ.
Cách dùng: Sắc uống.
Công dụng theo tài liệu: Thanh nhiệt, hành khí, hóa đàm, dùng khi bên ngoài còn hàn mà bên trong đã có nhiệt.
Phương này không nên dùng khi người bệnh sợ lạnh rõ, đàm trắng loãng, không khát và lưỡi nhạt.
VI. VIÊM PHẾ QUẢN DẠNG THỞ KHÒ KHÈ Ở TRẺ NHỎ
Viêm phế quản dạng thở khò khè thường gặp ở trẻ nhỏ, nhất là trẻ có cơ địa dị ứng hoặc tiền sử chàm. Do khí đạo của trẻ hẹp, niêm mạc dễ phù nề, dịch tiết khó đào thải nên khi viêm có thể xuất hiện tiếng rít.
Triệu chứng: Ho, thở khò khè, tiếng rít rõ hơn về đêm, khi khóc hoặc sáng sớm, có thể sốt nhẹ hoặc không sốt, ngủ không yên, nghe phổi có ran rít và ran ẩm.
Theo Trung y, bệnh có thể liên quan đến phong tà phạm Phế, đàm trọc ngăn trở và Phế khí không tuyên. Điều trị cần căn cứ hàn nhiệt và tính chất đàm, không nên chỉ thấy tiếng rít mà dùng thuốc bình suyễn giống nhau.
Trẻ thở khò khè tái phát nhiều lần cần được khám để đánh giá hen, dị ứng, dị vật đường thở hoặc các bệnh phổi khác.
VII. ĐIỀU DƯỠNG
Người bệnh cần nghỉ ngơi, tránh vận động mạnh và thức khuya. Trẻ nhỏ nên được thay đổi tư thế nằm, bế ngồi và vỗ lưng nhẹ để hỗ trợ dẫn lưu đàm.
Uống nước ấm từng ít một giúp làm loãng đàm. Không nên ép trẻ uống quá nhiều trong một lần vì dễ gây nôn.
Nên ăn thức ăn thanh đạm, dễ tiêu như cháo, canh, mì mềm, rau củ nấu chín.
Hạn chế thức ăn chiên rán, béo ngọt, quá cay, quá lạnh và khó tiêu.
Người đàm trắng loãng, sợ lạnh không nên dùng nhiều lê, nước lạnh hoặc thức ăn có tính hàn.
Người đàm vàng, miệng khát nên ăn thanh đạm, tránh thức ăn cay nóng và nhiều dầu mỡ.
Phòng ở cần thông thoáng, không quá nóng hoặc quá khô.
Tránh khói thuốc, bụi, khí hóa học, nước hoa nồng và không khí lạnh thổi trực tiếp.
Không nên xông giấm, đốt chất tạo khói hoặc sử dụng tinh dầu nồng trong phòng trẻ đang ho.
VIII. PHÒNG NGỪA
Giữ ấm khi thời tiết thay đổi, đặc biệt vùng cổ, ngực và bàn chân.
Rửa tay thường xuyên, tránh tiếp xúc gần với người đang mắc bệnh hô hấp.
Tránh hút thuốc và khói thuốc thụ động.
Giữ môi trường sống sạch, giảm bụi và nấm mốc.
Ăn uống đủ chất, ngủ đủ và vận động phù hợp để nâng cao thể lực.
Điều trị sớm viêm mũi, viêm họng, viêm xoang và các bệnh hô hấp trên.
Tiêm chủng theo lịch, bao gồm vắc-xin cúm khi có chỉ định.
Không nên tự dùng thuốc kháng virus, kháng sinh hoặc thuốc Đông y thanh nhiệt để phòng bệnh hằng ngày.
IX. NHỮNG ĐIỂM CẦN THẬN TRỌNG
Không tự dùng kháng sinh chỉ vì ho có đàm. Phần lớn viêm phế quản cấp do virus, kháng sinh chỉ dùng khi có chỉ định.
Không tự dùng Codein hoặc thuốc giảm ho mạnh cho trẻ nhỏ và người có nhiều đàm.
Không tự sử dụng Ma hoàng, Bạch phàn, Hải tảo, Bạch giới tử liều cao hoặc các phương thuốc không rõ nguồn gốc.
Không dùng những món ăn thuốc có Cóc hoặc động vật chưa được kiểm soát vệ sinh và độc tính.
Không dùng một phương thuốc giống nhau cho cả ho phong hàn, ho phong nhiệt và ho táo nhiệt.
Không kéo dài việc dùng thuốc khi bệnh không cải thiện hoặc xuất hiện dấu hiệu nặng.
X. DẤU HIỆU CẦN ĐI KHÁM KHẨN CẤP
Sốt cao kéo dài hoặc sốt giảm rồi tăng trở lại.
Thở nhanh, khó thở, co kéo lồng ngực hoặc tím môi.
Trẻ bỏ bú, không uống được nước, li bì hoặc khó đánh thức.
Ho tăng nhanh, đau ngực rõ hoặc khạc đàm lẫn máu.
Tiếng rít tăng, trẻ không nói hoặc khóc được bình thường.
Nôn liên tục, tiểu ít hoặc có biểu hiện mất nước.
Ho kéo dài quá hai đến ba tuần hoặc tái phát nhiều lần.
Nói tóm lại, viêm phế quản cấp tính theo Trung y thuộc ngoại cảm khái thấu, bệnh vị chủ yếu ở Phế. Phong hàn, phong nhiệt, táo nhiệt và đàm trọc đều có thể làm Phế mất tuyên giáng, phát sinh ho và khạc đàm. Điều trị cần căn cứ hàn nhiệt, tính chất đàm và thể trạng người bệnh; phong hàn thì tán hàn tuyên Phế, phong nhiệt thì thanh nhiệt, táo nhiệt thì nhuận Phế, đàm thấp thì hóa đàm. Trẻ nhỏ và người thể trạng yếu cần được theo dõi sát để phát hiện sớm viêm phổi hoặc tình trạng khó thở.
Trường Xuân biên soạn