Khái luận
Viêm cơ tim do virus là tình trạng cơ tim bị viêm và tổn thương liên quan đến nhiễm virus hoặc phản ứng miễn dịch xuất hiện sau nhiễm virus. Bệnh có thể xảy ra sau cảm cúm, sốt, đau họng, ho, viêm đường hô hấp, nôn, tiêu chảy hoặc một đợt nhiễm virus tưởng như đã hồi phục.
Biểu hiện của bệnh rất khác nhau. Có người chỉ cảm thấy mệt nhẹ, hồi hộp thoáng qua hoặc giảm sức vận động. Có người xuất hiện đau ngực, khó thở, tim đập nhanh, rối loạn nhịp hoặc phù. Trường hợp nặng có thể tiến triển thành suy tim cấp, phù Phế, sốc tim, block dẫn truyền, rối loạn nhịp thất, ngừng tuần hoàn hoặc đột tử.
Điểm cần chú ý là triệu chứng Tâm mạch có thể xuất hiện vài ngày đến vài tuần sau khi những biểu hiện nhiễm virus đã giảm. Người bệnh thường cho rằng mình chỉ còn yếu sau cảm, mất ngủ hoặc lo âu, trong khi cơ tim vẫn đang bị viêm.
Viêm cơ tim do virus có thể gặp ở mọi lứa tuổi, kể cả người trước đó hoàn toàn khỏe mạnh. Trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ, thanh thiếu niên, người cao tuổi, người suy giảm miễn dịch và người có bệnh Tâm nền có thể biểu hiện khác nhau. Ở trẻ nhỏ, bệnh đôi khi chỉ thể hiện bằng bú kém, nôn, thở nhanh, quấy khóc hoặc lừ đừ.
Trong Trung y, viêm cơ tim do virus có thể thuộc phạm vi Ôn độc phạm Tâm (温毒犯心), Nhiệt độc nhập Tâm (热毒入心), Tâm quý (心悸), Chinh xung (怔忡), Hung tý (胸痹), Tâm thống (心痛), Hư lao (虚劳) và Thoát chứng (脱证) khi bệnh nặng.
Bệnh cơ thường bắt đầu do ôn tà, nhiệt độc hoặc độc tà từ biểu nhập lý, xâm phạm Tâm và Tâm mạch. Tà độc làm Tâm khí, Tâm âm bị tổn thương, khí huyết vận hành bất lợi, Tâm thần không yên. Sau giai đoạn cấp, bệnh thường chuyển thành khí âm lưỡng hư, Tâm khí hư, Tâm Tỳ lưỡng hư, huyết ứ hoặc đàm nhiệt. Trường hợp nặng có thể xuất hiện Tâm dương hư, thủy khí lăng Tâm hoặc Tâm dương muốn thoát.
Viêm cơ tim do virus có thể diễn biến nhanh và khó lường. Nếu sau một đợt nhiễm virus xuất hiện đau ngực, khó thở, hồi hộp, tim đập nhanh hoặc không đều, mệt lả, choáng, ngất, phù chân hoặc khó thở khi nằm, cần được khám Tâm mạch sớm.
Viêm cơ tim do virus là gì
Virus có thể gây tổn thương cơ tim theo hai con đường chính.
Thứ nhất, virus trực tiếp xâm nhập tế bào cơ tim, làm rối loạn chức năng, phá hủy màng tế bào và gây hoại tử.
Thứ hai, sau khi cơ thể tạo đáp ứng miễn dịch chống virus, phản ứng này có thể tiếp tục tác động lên cơ tim, khiến tình trạng viêm kéo dài ngay cả khi lượng virus đã giảm.
Phản ứng viêm làm mô cơ tim phù nề, sức co bóp suy giảm và hệ thống dẫn truyền điện bị ảnh hưởng. Nếu tổn thương rộng, thất trái hoặc thất phải có thể giãn, khả năng bơm máu giảm và hình thành suy tim.
Khi vùng viêm liên quan nút xoang, nút nhĩ thất, bó His hoặc mạng Purkinje, người bệnh có thể xuất hiện nhịp nhanh, nhịp chậm, ngoại tâm thu, block dẫn truyền hoặc rối loạn nhịp thất.
Sau khi viêm giảm, một số vùng cơ tim có thể để lại mô xơ. Mô sẹo này không co bóp và dẫn truyền điện bình thường, từ đó tạo nền tảng cho bệnh cơ tim giãn, suy tim hoặc rối loạn nhịp kéo dài.
Những virus có thể liên quan
Nhiều nhóm virus có khả năng liên quan đến viêm cơ tim, bao gồm:
Enterovirus, trong đó có Coxsackievirus.
Adenovirus.
Virus cúm.
Virus á cúm.
Parvovirus B19.
Herpesvirus.
Cytomegalovirus.
Epstein–Barr virus.
Virus viêm gan.
Virus gây suy giảm miễn dịch ở người.
SARS-CoV-2.
Virus quai bị.
Virus rubella.
Không phải người nhiễm những virus này đều bị viêm cơ tim. Phần lớn người nhiễm virus không có tổn thương cơ tim. Bệnh chỉ xuất hiện ở một số trường hợp, tùy độc lực của virus, đáp ứng miễn dịch, thể trạng và những yếu tố chưa hoàn toàn được xác định.
Trong nhiều trường hợp, không thể tìm được chính xác loại virus gây bệnh vì khi người bệnh đến khám, giai đoạn nhiễm virus ban đầu đã qua. Việc phát hiện virus ở đường hô hấp hoặc trong máu cũng không tự động chứng minh virus đó đang trực tiếp gây tổn thương cơ tim.
Cơ chế bệnh sinh
Một. Virus trực tiếp làm tổn thương cơ tim
Virus có thể xâm nhập tế bào cơ tim, sử dụng bộ máy của tế bào để nhân lên và làm tế bào bị phá hủy.
Tổn thương trực tiếp làm sức co bóp giảm, giải phóng troponin và gây đau ngực hoặc suy tim.
Hai. Phản ứng miễn dịch quá mức
Cơ thể huy động tế bào miễn dịch và các chất trung gian viêm để chống virus.
Nếu phản ứng này mất điều hòa, mô cơ tim lành cũng có thể bị tổn thương. Vì vậy, viêm có thể tiếp tục dù triệu chứng nhiễm virus ban đầu đã giảm.
Ba. Phù nề mô kẽ
Dịch và tế bào viêm tích tụ giữa các sợi cơ tim, làm cơ tim dày, cứng và co bóp kém.
Phù nề cũng có thể chèn ép hệ thống dẫn truyền và gây block.
Bốn. Tổn thương vi mạch
Viêm các mạch máu nhỏ trong cơ tim làm tưới máu cục bộ giảm, khiến tế bào cơ tim và hệ thống dẫn truyền bị thiếu oxy.
Năm. Rối loạn dẫn truyền điện
Mô viêm dẫn truyền điện không đồng đều. Các vùng dẫn truyền chậm xen kẽ với vùng bình thường tạo điều kiện hình thành vòng tái nhập và rối loạn nhịp.
Sáu. Xơ hóa sau viêm
Khi tế bào cơ tim hoại tử được thay thế bằng mô xơ, sẹo hình thành.
Sẹo có thể tồn tại lâu dài, làm chức năng co bóp suy giảm và tăng nguy cơ nhịp nhanh thất.
Yếu tố có thể làm bệnh nặng hơn
Vận động gắng sức khi đang nhiễm virus.
Tiếp tục tập luyện khi đã xuất hiện đau ngực hoặc hồi hộp.
Thiếu ngủ và lao lực kéo dài.
Uống nhiều rượu.
Dùng chất kích thích.
Mất nước do nôn hoặc tiêu chảy.
Rối loạn điện giải.
Có bệnh Tâm nền.
Suy giảm miễn dịch.
Chậm đi khám khi triệu chứng Tâm mạch đã xuất hiện.
Vận động mạnh khi cơ tim đang viêm làm nhu cầu oxy tăng, nhịp Tâm nhanh và nguy cơ rối loạn nhịp cao hơn. Vì vậy, người đang sốt hoặc nhiễm virus không nên cố tập thể thao.
Triệu chứng thường gặp
Một. Đau ngực
Đau có thể nhói, tức, nặng, bóp chặt hoặc nóng rát ở sau xương ức hay vùng trước Tâm.
Một số trường hợp đau giống đau thắt ngực hoặc nhồi máu cơ tim, đồng thời troponin cũng tăng.
Nếu viêm màng ngoài Tâm đi kèm, đau có thể tăng khi nằm, ho hoặc hít sâu, giảm khi ngồi dậy và cúi người về trước.
Hai. Khó thở
Khó thở thường xuất hiện khi vận động, sau đó có thể tăng lên lúc nghỉ.
Người bệnh có thể khó thở khi nằm, phải kê cao gối hoặc đang ngủ phải ngồi dậy.
Khó thở tăng dần có thể phản ánh chức năng co bóp của Tâm suy giảm.
Ba. Hồi hộp
Người bệnh có thể cảm thấy tim đập thình thịch, bỏ nhịp, đập quá nhanh hoặc không đều.
Hồi hộp kèm đau ngực, khó thở, choáng hoặc ngất cần được đánh giá khẩn cấp.
Bốn. Mệt bất thường
Sau nhiễm virus, mệt nhẹ có thể thường gặp. Tuy nhiên, mệt do viêm cơ tim thường không tương xứng với hoạt động.
Người bệnh có thể chỉ đi lại nhẹ đã kiệt sức, khó tập trung và nghỉ ngơi vẫn không hồi phục rõ.
Năm. Giảm sức chịu đựng
Những hoạt động trước đây thực hiện dễ dàng nay gây thở ngắn, tim đập nhanh hoặc mệt nhiều.
Sáu. Sốt và triệu chứng nhiễm virus
Người bệnh có thể đã từng xuất hiện:
Sốt.
Đau họng.
Ho.
Đau cơ.
Đau khớp.
Đau đầu.
Nôn.
Tiêu chảy.
Phát ban.
Triệu chứng Tâm có thể xuất hiện đồng thời hoặc sau đó vài ngày đến vài tuần.
Bảy. Phù và tăng cân
Phù mắt cá chân, căng bụng, tăng cân nhanh, tiểu ít và khó thở có thể là biểu hiện suy tim.
Tám. Chóng mặt và ngất
Ngất có thể liên quan đến nhịp nhanh thất, block dẫn truyền, tụt huyết áp hoặc giảm cung lượng Tâm.
Chín. Đau bụng và buồn nôn
Một số người, nhất là trẻ em, biểu hiện bằng đau bụng, buồn nôn, nôn và ăn kém hơn là đau ngực.
Dấu hiệu nguy hiểm
Đau ngực dữ dội hoặc kéo dài.
Khó thở khi nghỉ.
Không thể nằm xuống.
Tim đập rất nhanh, rất chậm hoặc loạn rõ.
Choáng hoặc ngất.
Môi tím.
Tay chân lạnh.
Vã mồ hôi lạnh.
Huyết áp tụt.
Lơ mơ.
Phù tăng nhanh.
Tiểu ít.
Mệt lả.
Ho hoặc khạc bọt hồng.
Khi có những biểu hiện này, cần cấp cứu ngay. Không nên tự cho rằng đó chỉ là cảm cúm chưa hồi phục, thiếu ngủ hoặc trúng gió.
Biểu hiện ở trẻ em
Viêm cơ tim do virus ở trẻ em có thể không biểu hiện giống người lớn.
Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ có thể xuất hiện:
Bú kém.
Bỏ bú.
Nôn.
Tiêu chảy.
Thở nhanh.
Co kéo lồng ngực.
Da tái hoặc tím.
Tay chân lạnh.
Quấy khóc.
Lừ đừ.
Ngủ nhiều bất thường.
Ra nhiều mồ hôi khi bú.
Tăng cân kém.
Trẻ lớn và thanh thiếu niên có thể mô tả:
Đau ngực.
Hồi hộp.
Chóng mặt.
Mệt.
Khó thở.
Cảm giác tim bỏ nhịp.
Giảm khả năng chơi thể thao.
Ngất khi vận động.
Ở trẻ sơ sinh, một số nhiễm virus có thể ảnh hưởng đồng thời Tâm, gan và hệ thần kinh. Bệnh có thể tiến triển nhanh với sốt, bú kém, vàng da, khó thở, co giật, sốc và rối loạn ý thức.
Trẻ có những biểu hiện này cần được đánh giá tại bệnh viện, không tự điều trị tại nhà.
Sốt trong viêm cơ tim do virus
Sốt có thể thuộc giai đoạn nhiễm virus ban đầu hoặc xuất hiện cùng tình trạng viêm cơ tim.
Nhịp Tâm thường tăng khi sốt. Tuy nhiên, nếu nhịp Tâm nhanh quá mức so với mức sốt, kéo dài sau khi hạ sốt hoặc đi kèm đau ngực, khó thở, mệt lả, cần nghĩ đến khả năng tổn thương Tâm.
Ngược lại, nhịp Tâm chậm bất thường trong khi đang sốt cũng cần được chú ý vì có thể liên quan đến rối loạn dẫn truyền.
Không nên chỉ dựa vào nhịp Tâm nhanh hoặc chậm để tự chẩn đoán viêm cơ tim. Trẻ cần được khám, ghi điện tâm đồ và làm xét nghiệm phù hợp.
Không nên tự dùng kháng sinh khi chưa có bằng chứng nhiễm khuẩn. Kháng sinh không điều trị được virus và không phải thuốc bảo vệ cơ tim.
Biến chứng
Một. Suy tim cấp
Cơ tim viêm và co bóp yếu làm cung lượng Tâm giảm.
Người bệnh có thể khó thở, phù Phế, huyết áp thấp, tiểu ít và mệt lả.
Hai. Bệnh cơ tim giãn
Sau giai đoạn viêm, buồng Tâm có thể giãn và sức co bóp giảm kéo dài, hình thành bệnh cơ tim giãn.
Ba. Rối loạn nhịp
Các rối loạn nhịp có thể gồm:
Ngoại tâm thu nhĩ.
Ngoại tâm thu thất.
Rung nhĩ.
Nhịp nhanh trên thất.
Nhịp nhanh thất.
Rung thất.
Nhịp chậm xoang.
Block nhĩ thất.
Block nhánh.
Bốn. Sốc tim
Khi Tâm không đủ khả năng bơm máu, người bệnh tụt huyết áp, tay chân lạnh, lơ mơ và các cơ quan thiếu tưới máu.
Năm. Huyết khối trong buồng Tâm
Vùng cơ tim co bóp yếu làm máu lưu thông chậm và dễ hình thành huyết khối.
Huyết khối có thể gây đột quỵ hoặc thuyên tắc cơ quan khác.
Sáu. Viêm màng ngoài Tâm
Viêm có thể lan đến màng ngoài Tâm, gây đau ngực theo tư thế và tích tụ dịch quanh Tâm.
Bảy. Ngừng tuần hoàn và đột tử
Nhịp nhanh thất, rung thất hoặc suy Tâm tối cấp có thể gây ngừng tuần hoàn.
Chẩn đoán
Viêm cơ tim do virus không được chẩn đoán chỉ dựa vào việc người bệnh vừa cảm cúm và có hồi hộp.
Cần phối hợp bệnh sử, khám, điện tâm đồ, xét nghiệm và hình ảnh học.
Khai thác bệnh sử
Cần hỏi về:
Sốt, đau họng, ho hoặc tiêu chảy trước đó.
Thời điểm xuất hiện triệu chứng Tâm.
Mức độ vận động trước khi phát bệnh.
Thuốc và thực phẩm bổ sung đang dùng.
Tiền sử bệnh Tâm.
Sử dụng rượu hoặc chất kích thích.
Tiền sử bệnh tự miễn.
Điều trị ung thư.
Điện tâm đồ
Điện tâm đồ có thể ghi nhận:
Nhịp xoang nhanh.
Nhịp chậm.
Ngoại tâm thu.
Rung nhĩ.
Nhịp nhanh thất.
Block dẫn truyền.
ST chênh lên hoặc chênh xuống.
Sóng T đảo.
Những thay đổi giống nhồi máu cơ tim.
Không có một kiểu điện tâm đồ duy nhất đặc hiệu cho viêm cơ tim.
Troponin
Troponin có thể tăng khi tế bào cơ tim bị tổn thương.
Troponin bình thường không hoàn toàn loại trừ viêm cơ tim, nhất là khi tổn thương nhỏ hoặc xét nghiệm được thực hiện không đúng thời điểm.
Các dấu viêm
CRP, tốc độ lắng máu và bạch cầu có thể tăng, nhưng các chỉ số này không đặc hiệu.
Xét nghiệm chức năng gan, Thận và điện giải giúp đánh giá toàn trạng và lựa chọn điều trị.
Siêu âm Tâm
Siêu âm giúp đánh giá:
Sức co bóp của thất trái và thất phải.
Kích thước buồng Tâm.
Vận động thành Tâm.
Chức năng van.
Dịch màng ngoài Tâm.
Áp lực tuần hoàn Phế.
Huyết khối trong buồng Tâm.
Cộng hưởng từ Tâm
Cộng hưởng từ có thể phát hiện phù nề, viêm, hoại tử và xơ hóa cơ tim.
Phương pháp này giúp xác định vị trí và phạm vi tổn thương, đồng thời hỗ trợ phân biệt viêm cơ tim với một số bệnh khác.
Chụp động mạch vành
Đau ngực, ST thay đổi và troponin tăng có thể giống nhồi máu cơ tim.
Ở những trường hợp phù hợp, bác sĩ có thể cần kiểm tra động mạch vành để loại trừ tắc nghẽn cấp.
Sinh thiết nội mạc cơ tim
Sinh thiết không cần thực hiện trong mọi trường hợp.
Phương pháp này có thể được cân nhắc khi bệnh diễn tiến nhanh, suy tim nặng, rối loạn nhịp nguy hiểm, block dẫn truyền hoặc nghi một thể viêm đặc biệt cần điều trị riêng.
Xét nghiệm virus
Xét nghiệm tìm virus trong máu hoặc đường hô hấp có thể hữu ích trong một số tình huống, nhưng không tự động xác định virus đó là nguyên nhân trực tiếp gây viêm cơ tim.
Việc chẩn đoán cần căn cứ toàn bộ bệnh cảnh.
Phân biệt với một số bệnh khác
Nhồi máu cơ tim
Cả hai có thể gây đau ngực, troponin tăng và biến đổi điện tâm đồ.
Cần căn cứ tuổi, yếu tố nguy cơ, hình ảnh động mạch vành, siêu âm và cộng hưởng từ.
Viêm màng ngoài Tâm
Đau thường tăng khi nằm hoặc hít sâu và giảm khi ngồi dậy. Tuy nhiên, hai bệnh có thể cùng tồn tại.
Thuyên tắc Phế
Khó thở đột ngột, đau tăng khi hít sâu, ho ra máu và giảm oxy cần được đánh giá theo hướng thuyên tắc Phế.
Bệnh cơ tim do stress
Có thể xuất hiện sau cú sốc tinh thần hoặc thể chất, gây đau ngực, troponin tăng và rối loạn vận động thành Tâm.
Rối loạn lo âu
Lo âu có thể gây hồi hộp, đau ngực và khó thở, nhưng không nên quy triệu chứng cho tâm lý khi chưa loại trừ bệnh Tâm.
Rối loạn nhịp lành tính
Ngoại tâm thu ở người trẻ có thể liên quan caffeine, thiếu ngủ, stress hoặc mất nước. Viêm cơ tim chỉ được nghĩ đến khi có thêm bằng chứng tổn thương Tâm hoặc tiền sử nhiễm trùng phù hợp.
Điều trị theo y học hiện đại
Nghỉ ngơi
Giảm hoạt động giúp hạ nhu cầu oxy và giảm gánh nặng cho cơ tim.
Người bệnh không nên chạy, đá bóng, bơi gắng sức, tập gym nặng, leo núi hoặc lao động nặng khi bệnh chưa ổn định.
Điều trị suy tim
Nếu chức năng Tâm giảm, bác sĩ có thể sử dụng thuốc điều trị suy tim phù hợp với huyết áp, nhịp Tâm, chức năng Thận và tình trạng giữ dịch.
Điều trị rối loạn nhịp
Rối loạn nhịp có thể cần:
Theo dõi liên tục.
Điều chỉnh điện giải.
Thuốc chống loạn nhịp.
Sốc điện.
Máy tạo nhịp tạm thời.
Thiết bị hỗ trợ trong một số trường hợp.
Điều trị nguyên nhân
Không phải mọi viêm cơ tim do virus đều có thuốc kháng virus đặc hiệu.
Kháng sinh không có tác dụng với virus, chỉ được dùng khi có bằng chứng hoặc nghi ngờ nhiễm khuẩn.
Thuốc ức chế miễn dịch không được sử dụng thường quy cho mọi trường hợp mà chỉ dành cho những thể bệnh và chỉ định thích hợp.
Hỗ trợ tuần hoàn
Người suy tim tối cấp hoặc sốc tim có thể cần thuốc vận mạch, thuốc trợ Tâm, hỗ trợ hô hấp hoặc thiết bị hỗ trợ tuần hoàn cơ học.
Thuốc chống đông
Chỉ dùng khi có chỉ định như rung nhĩ, huyết khối trong buồng Tâm hoặc nguy cơ thuyên tắc đặc biệt.
Không tự dùng aspirin hoặc thuốc chống đông khi chưa được chỉ định.
Những liệu pháp chuyển hóa cũ
Một số tài liệu trước đây từng đề cập đến vitamin C liều cao, coenzyme A, coenzyme Q10, inosine hoặc ATP nhằm hỗ trợ chuyển hóa cơ tim.
Những phương pháp này không thay thế điều trị suy tim, rối loạn nhịp, sốc hoặc theo dõi chuyên khoa. Không nên tự truyền hoặc tự sử dụng với kỳ vọng điều trị đặc hiệu viêm cơ tim.
Theo dõi lâu dài
Người bệnh có thể cần được theo dõi bằng:
Điện tâm đồ.
Holter điện tâm đồ.
Siêu âm Tâm.
Xét nghiệm troponin khi phù hợp.
Cộng hưởng từ Tâm.
Đánh giá khả năng gắng sức.
Thời điểm trở lại vận động phải được cá thể hóa.
Nhận thức của Trung y
Ôn độc phạm Tâm
Ngoại cảm ôn tà hoặc độc tà không giải, từ biểu nhập lý và phạm vào Tâm.
Người bệnh có thể sốt, họng đau, ngực tức, hồi hộp, miệng khô, lưỡi đỏ và mạch sác.
Nhiệt độc thương âm
Nhiệt làm tân dịch hao tổn, Tâm âm bất túc và Tâm thần mất nuôi dưỡng.
Người bệnh miệng khô, bứt rứt, mất ngủ, hồi hộp và mạch tế sác.
Khí âm lưỡng hư
Bệnh và sốt làm khí âm cùng tổn thương.
Người bệnh vừa mệt, thở ngắn, tự ra mồ hôi, vừa miệng khô, mất ngủ và hồi hộp.
Tâm khí hư
Tâm khí không đủ thúc đẩy huyết mạch, gây mệt, thở ngắn, hồi hộp và giảm sức vận động.
Đàm nhiệt nhiễu Tâm
Tà nhiệt chưa giải, Tỳ mất kiện vận, đàm nhiệt kết lại và quấy nhiễu Tâm thần.
Người bệnh hồi hộp, bứt rứt, mất ngủ, rêu vàng nhầy và mạch hoạt sác.
Huyết ứ trở Tâm mạch
Tà độc làm tổn thương Tâm lạc, khí huyết vận hành bất lợi, lâu ngày thành huyết ứ.
Tâm dương hư
Bệnh nặng làm Tâm dương suy, mạch mất ôn thông và thủy dịch đình lại.
Người bệnh khó thở, phù, tay chân lạnh và mạch trầm nhược.
Tâm Tỳ lưỡng hư
Bệnh kéo dài làm Tỳ khí suy, khí huyết sinh hóa không đủ. Tâm huyết thiếu gây hồi hộp, mất ngủ và nhiều mộng.
Bệnh cơ tổng quát
Giai đoạn đầu thường thiên về ôn độc, nhiệt độc và đàm nhiệt.
Giai đoạn giữa thường là tà độc chưa hết nhưng khí âm đã tổn thương.
Giai đoạn hồi phục thường biểu hiện khí âm lưỡng hư, Tâm khí hư, Tâm Tỳ lưỡng hư và huyết ứ.
Giai đoạn nặng có thể thuộc Tâm dương hư, thủy khí lăng Tâm hoặc dương khí muốn thoát.
Nguyên tắc điều trị theo Trung y
Giai đoạn cấp hoặc nghi nặng
Không dùng Trung y thay thế điện tâm đồ, troponin, siêu âm Tâm, cộng hưởng từ, điều trị suy tim hoặc xử trí rối loạn nhịp.
Ôn độc còn rõ
Thanh nhiệt giải độc, thanh Tâm, dưỡng âm và thông Tâm mạch nhẹ.
Nhiệt độc thương âm
Thanh dư nhiệt, dưỡng âm sinh tân, dưỡng Tâm an thần.
Khí âm lưỡng hư
Ích khí dưỡng âm, phục mạch dưỡng Tâm.
Tâm khí hư
Ích khí dưỡng Tâm, cố biểu và thông mạch nhẹ.
Đàm nhiệt
Thanh nhiệt hóa đàm, khoan hung và an thần.
Huyết ứ
Hoạt huyết thông lạc nhưng phải thận trọng với thuốc chống đông.
Tâm dương hư
Ôn dương ích khí, hóa khí lợi thủy, nhưng phải phối hợp chặt chẽ với điều trị suy tim.
Một. Ôn độc phạm Tâm
Chứng trạng
Sau sốt, cảm cúm, đau họng, ho hoặc tiêu chảy, người bệnh hồi hộp, Tâm đập nhanh, đau tức ngực, mệt, miệng khô, khát, có thể còn sốt nhẹ, bứt rứt và ngủ kém; lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch sác hoặc tế sác.
Bệnh cơ
Ôn độc chưa giải, từ biểu nhập lý và phạm vào Tâm. Nhiệt độc làm Tâm thần bất an, Tâm khí và Tâm âm tổn thương, Tâm mạch không yên.
Pháp trị
Thanh nhiệt giải độc, thanh Tâm an thần, ích khí dưỡng âm.
Phương thang
Ngân kiều tán hợp Sinh mạch tán gia giảm (银翘散合生脉散加减): Kim ngân hoa (金银花), Liên kiều (连翘), Trúc diệp (竹叶), Ngưu bàng tử (牛蒡子), Bạc hà (薄荷), Cát cánh (桔梗), Cam thảo (甘草), Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Đan sâm (丹参), Liên tử tâm (莲子心).
Gia giảm
Sốt, họng đau rõ gia Hoàng cầm (黄芩), Huyền sâm (玄参), Bản lam căn (板蓝根) theo biện chứng; hồi hộp, ngủ kém gia Toan táo nhân (酸枣仁), Dạ giao đằng (夜交藤); ngực tức gia Qua lâu (瓜蒌), Uất kim (郁金).
Ý nghĩa
Kim ngân hoa và Liên kiều thanh nhiệt giải độc; Trúc diệp và Liên tử tâm thanh Tâm trừ phiền; Ngưu bàng tử, Bạc hà và Cát cánh tuyên Phế lợi họng; Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí; Đan sâm thông Tâm mạch nhẹ.
Chú ý
Khi còn sốt kèm đau ngực, khó thở, troponin tăng hoặc rối loạn nhịp, không tự điều trị bằng thuốc thang tại nhà.
Hai. Nhiệt độc thương âm
Chứng trạng
Sau sốt hoặc nhiễm virus, người bệnh miệng khô, họng khô, hồi hộp, bứt rứt, ngủ kém, ra mồ hôi, ngực tức âm ỉ, mệt; lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác.
Bệnh cơ
Nhiệt độc làm âm dịch hao tổn. Tâm âm bất túc, Tâm thần và Tâm mạch mất nhu dưỡng.
Pháp trị
Thanh dư nhiệt, dưỡng âm sinh tân, dưỡng Tâm an thần.
Phương thang
Thanh doanh thang hợp Sinh mạch tán gia giảm (清营汤合生脉散加减): Sinh địa hoàng (生地黄), Huyền sâm (玄参), Mạch môn đông (麦门冬), Đan sâm (丹参), Liên kiều (连翘), Trúc diệp (竹叶), Hoàng liên (黄连) lượng nhỏ, Đảng sâm (党参), Ngũ vị tử (五味子), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Miệng khô nhiều gia Thạch hộc (石斛), Ngọc trúc (玉竹); mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤); mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎).
Ý nghĩa
Sinh địa, Huyền sâm và Mạch môn đông dưỡng âm thanh nhiệt; Liên kiều và Trúc diệp thanh dư nhiệt; Hoàng liên thanh Tâm; Đảng sâm ích khí; Ngũ vị tử liễm khí; Đan sâm dưỡng Tâm mạch; Toan táo nhân an thần.
Ba. Khí âm lưỡng hư
Chứng trạng
Sau khi hết sốt, người bệnh mệt kéo dài, hồi hộp, thở ngắn, miệng khô, ra mồ hôi, ngủ kém, ngực tức âm ỉ, vận động nhẹ đã mệt; lưỡi đỏ nhạt hoặc ít rêu, mạch tế sác hoặc hư sác.
Bệnh cơ
Tà độc và bệnh kéo dài làm khí âm cùng tổn thương. Khí hư gây mệt, thở ngắn và ra mồ hôi; âm hư gây miệng khô, ngủ kém; Tâm mạch mất nuôi dưỡng nên hồi hộp.
Pháp trị
Ích khí dưỡng âm, phục mạch dưỡng Tâm, an thần.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Chích cam thảo thang gia giảm (生脉散合炙甘草汤加减): Đảng sâm (党参), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Chích cam thảo (炙甘草), Sinh địa hoàng (生地黄), A giao (阿胶), Ma nhân (麻仁), Quế chi (桂枝), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Miệng khô gia Thạch hộc (石斛), Ngọc trúc (玉竹), Huyền sâm (玄参); mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Mẫu lệ (牡蛎); mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤).
Ý nghĩa
Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông, Sinh địa và A giao dưỡng âm huyết; Ngũ vị tử liễm khí; Chích cam thảo phục mạch; Quế chi thông dương; Đan sâm thông Tâm mạch; Toan táo nhân dưỡng Tâm.
Bốn. Tâm khí hư
Chứng trạng
Mệt, hồi hộp, thở ngắn, vận động nhẹ đã mệt, tự ra mồ hôi, sắc mặt nhợt, tiếng nói nhỏ, ngực tức nhẹ; lưỡi nhạt, mạch hư nhược hoặc tế nhược.
Bệnh cơ
Tâm khí bị tổn thương, không đủ sức thúc đẩy huyết mạch. Khí hư không cố biểu nên tự ra mồ hôi.
Pháp trị
Ích khí dưỡng Tâm, cố biểu, thông mạch nhẹ.
Phương thang
Bảo nguyên thang hợp Sinh mạch tán gia giảm (保元汤合生脉散加减): Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Chích cam thảo (炙甘草), Mạch môn đông (麦门冬), Ngũ vị tử (五味子), Phục linh (茯苓), Đan sâm (丹参), Toan táo nhân (酸枣仁). Nhục quế (肉桂) chỉ cân nhắc lượng nhỏ khi hàn tượng rõ.
Gia giảm
Mồ hôi nhiều gia Phù tiểu mạch (浮小麦), Ma hoàng căn (麻黄根), Mẫu lệ (牡蛎); ăn kém gia Bạch truật (白术), Sơn dược (山药), Sa nhân (砂仁); hồi hộp gia Long cốt (龙骨), Bá tử nhân (柏子仁).
Ý nghĩa
Hoàng kỳ và Đảng sâm ích khí; Mạch môn đông dưỡng âm; Ngũ vị tử liễm khí; Phục linh kiện Tỳ; Đan sâm thông mạch nhẹ; Toan táo nhân dưỡng Tâm.
Năm. Đàm nhiệt nhiễu Tâm
Chứng trạng
Sau nhiễm virus, người bệnh hồi hộp, Tâm đập nhanh, ngực tức, bứt rứt, mất ngủ, đàm dính, buồn nôn, miệng đắng; lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Tà nhiệt chưa giải, Tỳ mất kiện vận, đàm nhiệt kết lại và thượng nhiễu Tâm thần. Đàm làm khí cơ vùng ngực không thông, nhiệt làm Tâm thần bất an.
Pháp trị
Thanh nhiệt hóa đàm, an thần, khoan hung.
Phương thang
Hoàng liên ôn đảm thang gia giảm (黄连温胆汤加减): Hoàng liên (黄连), Bán hạ (半夏), Trần bì (陈皮), Trúc nhự (竹茹), Phục linh (茯苓), Chỉ thực (枳实), Cam thảo (甘草), Sinh khương (生姜), Đại táo (大枣), Qua lâu (瓜蒌), Đan sâm (丹参), Viễn chí (远志), Toan táo nhân (酸枣仁).
Gia giảm
Mất ngủ gia Dạ giao đằng (夜交藤), Liên tử tâm (莲子心), Trân châu mẫu (珍珠母); miệng đắng, sốt nhẹ gia Chi tử (栀子), Hoàng cầm (黄芩); ngực tức gia Giới bạch (薤白), Uất kim (郁金).
Ý nghĩa
Hoàng liên thanh Tâm hỏa; Bán hạ, Trần bì và Phục linh hóa đàm; Trúc nhự thanh đàm nhiệt; Chỉ thực hành khí; Qua lâu khoan hung; Đan sâm thông mạch; Viễn chí và Toan táo nhân an thần.
Sáu. Huyết ứ trở Tâm mạch
Chứng trạng
Đau tức ngực kéo dài hoặc tái phát, hồi hộp, sắc mặt tối, môi hơi tím; lưỡi tím hoặc có điểm ứ, tĩnh mạch dưới lưỡi tím, mạch sáp hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Tà độc làm tổn thương Tâm mạch, khí huyết vận hành bất lợi, lâu ngày thành huyết ứ.
Pháp trị
Hoạt huyết hóa ứ, thông mạch dưỡng Tâm.
Phương thang
Đan sâm ẩm hợp Huyết phủ trục ứ thang gia giảm (丹参饮合血府逐瘀汤加减): Đan sâm (丹参), Đàn hương (檀香), Sa nhân (砂仁), Đương quy (当归), Sinh địa hoàng (生地黄), Xích thược (赤芍), Xuyên khung (川芎), Đào nhân (桃仁), Hồng hoa (红花), Chỉ xác (枳壳), Cát cánh (桔梗), Uất kim (郁金), Cam thảo (甘草).
Gia giảm
Đau rõ gia Huyền hồ sách (玄胡索); khí hư gia Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参); mất ngủ gia Toan táo nhân (酸枣仁), Bá tử nhân (柏子仁).
Ý nghĩa
Đan sâm, Xích thược, Xuyên khung, Đào nhân và Hồng hoa hoạt huyết; Đàn hương, Sa nhân, Chỉ xác và Uất kim hành khí; Đương quy và Sinh địa dưỡng huyết; Cát cánh tuyên thông vùng ngực.
Chú ý
Người đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu không được tự dùng phương hoạt huyết.
Bảy. Tâm dương hư, thủy khí lăng Tâm
Chứng trạng
Sau viêm cơ tim, người bệnh hồi hộp, khó thở khi gắng sức hoặc khi nằm, mệt, sợ lạnh, tay chân lạnh, sắc mặt trắng xanh, phù chân, tiểu ít hoặc tiểu đêm; lưỡi nhạt bệu, rêu trắng trơn, mạch trầm tế hoặc kết đại.
Bệnh cơ
Tâm dương không đủ ôn thông huyết mạch và hóa thủy. Thủy khí đình lại, thượng lăng Tâm Phế, gây khó thở, phù và hồi hộp.
Pháp trị
Ôn dương ích khí, hóa khí lợi thủy, thông Tâm mạch.
Phương thang
Chân vũ thang hợp Quế chi cam thảo thang gia giảm (真武汤合桂枝甘草汤加减): Phụ tử chế (制附子), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Bạch thược (白芍), Sinh khương (生姜), Quế chi (桂枝), Chích cam thảo (炙甘草), Hoàng kỳ (黄芪), Đảng sâm (党参), Đan sâm (丹参), Trạch tả (泽泻).
Gia giảm
Phù rõ gia Trư linh (猪苓), Xa tiền tử (车前子), Đại phúc bì (大腹皮); khó thở có thể cân nhắc Tô tử (苏子), nhưng phải đánh giá suy tim; hồi hộp, ngủ kém gia Long cốt (龙骨), Mẫu lệ (牡蛎).
Ý nghĩa
Phụ tử chế và Quế chi ôn dương hóa khí; Bạch truật và Phục linh kiện Tỳ lợi thủy; Hoàng kỳ và Đảng sâm ích khí; Đan sâm thông mạch; Trạch tả lợi thủy.
Chú ý
Phụ tử có độc tính. Người có viêm cơ tim, suy tim, rối loạn nhịp hoặc huyết áp không ổn định không được tự dùng.
Tám. Tâm Tỳ lưỡng hư
Chứng trạng
Sau viêm cơ tim, người bệnh mệt, ăn kém, ngủ kém, nhiều mộng, hồi hộp, dễ lo sợ, sắc mặt nhợt, bụng đầy, đại tiện không đều; lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Bệnh cơ
Bệnh kéo dài làm Tâm Tỳ cùng hư. Tỳ khí hư khiến khí huyết sinh hóa không đủ; Tâm huyết thiếu làm hồi hộp, mất ngủ và nhiều mộng.
Pháp trị
Kiện Tỳ dưỡng Tâm, ích khí dưỡng huyết, an thần.
Phương thang
Quy Tỳ thang gia giảm (归脾汤加减): Đảng sâm (党参), Hoàng kỳ (黄芪), Bạch truật (白术), Phục linh (茯苓), Đương quy (当归), Long nhãn nhục (龙眼肉), Toan táo nhân (酸枣仁), Viễn chí (远志), Mộc hương (木香), Chích cam thảo (炙甘草), Đại táo (大枣), Sinh khương (生姜), Đan sâm (丹参).
Gia giảm
Ăn kém gia Sa nhân (砂仁), Kê nội kim (鸡内金), Sơn dược (山药); mất ngủ gia Bá tử nhân (柏子仁), Dạ giao đằng (夜交藤), Hợp hoan bì (合欢皮); ngực tức gia Uất kim (郁金), Xích thược (赤芍).
Ý nghĩa
Đảng sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật và Phục linh kiện Tỳ ích khí; Đương quy và Long nhãn nhục dưỡng huyết; Toan táo nhân và Viễn chí dưỡng Tâm; Mộc hương hành khí; Đan sâm thông Tâm mạch.
Châm cứu hỗ trợ
Giai đoạn cấp hoặc nghi nặng
Không châm cứu, bấm huyệt hoặc cứu ngải để trì hoãn khám bệnh khi người bệnh có đau ngực, khó thở, ngất, Tâm đập loạn, phù hoặc mệt lả.
Giai đoạn ổn định
Khi bệnh đã ổn định và được phép phục hồi, châm cứu có thể hỗ trợ hồi hộp, mất ngủ, mệt, đàm thấp và khí huyết vận hành bất lợi.
Các huyệt thường dùng gồm Tâm bào-6 Nội quan (内关), Nhâm-17 Chiên trung (膻中), Tâm-7 Thần môn (神门), Bàng quang-15 Tâm du (心俞), Bàng quang-14 Quyết âm du (厥阴俞), Bàng quang-17 Cách du (膈俞), Vị-36 Túc tam lý (足三里), Tỳ-6 Tam âm giao (三阴交), Nhâm-6 Khí hải (气海), Vị-40 Phong long (丰隆), Thận-3 Thái khê (太溪), Bàng quang-20 Tỳ du (脾俞), Tỳ-10 Huyết hải (血海), Nhâm-12 Trung quản (中脘) và An miên.
Hồi hộp, ngực tức phối Tâm bào-6 Nội quan, Nhâm-17 Chiên trung, Bàng quang-15 Tâm du và Tâm-7 Thần môn.
Khí hư phối Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-6 Khí hải, Bàng quang-20 Tỳ du và Tâm bào-6 Nội quan.
Khí âm hư phối Thận-3 Thái khê, Tỳ-6 Tam âm giao, Tâm bào-6 Nội quan và Vị-36 Túc tam lý.
Đàm nhiệt phối Vị-40 Phong long, Nhâm-12 Trung quản, Vị-36 Túc tam lý và Nhâm-17 Chiên trung.
Huyết ứ phối Bàng quang-17 Cách du, Tỳ-10 Huyết hải, Tâm bào-6 Nội quan và Tỳ-6 Tam âm giao.
Mất ngủ, lo sợ phối Tâm-7 Thần môn, An miên, Tâm bào-6 Nội quan và Tỳ-6 Tam âm giao.
Không châm cứu khi còn đau ngực cấp, khó thở, ngất, rối loạn nhịp nặng, suy tim mất bù, sốt cao hoặc huyết áp không ổn định.
Bấm huyệt
Trong giai đoạn ổn định, có thể day nhẹ Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Nhâm-17 Chiên trung, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao và Vị-40 Phong long.
Không ấn mạnh vùng trước Tâm. Khi đau ngực, khó thở, hồi hộp dữ dội hoặc choáng, không tiếp tục day bấm.
Cứu ngải
Chỉ cân nhắc khi bệnh đã ổn định và người bệnh thuộc dương hư, biểu hiện sợ lạnh, tay chân lạnh, mệt, lưỡi nhạt và mạch trầm tế.
Có thể cân nhắc Nhâm-6 Khí hải, Nhâm-4 Quan nguyên, Vị-36 Túc tam lý, Đốc-4 Mệnh môn và Bàng quang-23 Thận du.
Không cứu khi còn sốt, Tâm đập nhanh, đau ngực cấp, huyết áp chưa ổn định, miệng khô, lưỡi đỏ hoặc rêu vàng.
Phối hợp Trung y với thuốc hiện đại
Người bệnh có thể đang sử dụng thuốc điều trị suy tim, rối loạn nhịp, thuốc lợi tiểu, thuốc chống đông hoặc thuốc điều trị bệnh nền.
Các vị Đan sâm (丹参), Tam thất (三七), Hồng hoa (红花), Đào nhân (桃仁), Xuyên khung (川芎), Uất kim (郁金), Nhũ hương (乳香), Một dược (没药) và Địa long (地龙) có thể ảnh hưởng đến huyết hành.
Không tự dùng nhiều vị hoạt huyết khi đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu.
Không tự dùng Phụ tử, Nhục quế, Tế tân hoặc thuốc ôn dương mạnh ở người có rối loạn nhịp.
Không tự dùng thuốc lợi thủy khi đang sử dụng thuốc lợi tiểu hiện đại.
Không tự ngừng thuốc hiện đại để chuyển sang dùng thuốc Trung y.
Không tự dùng Nhân sâm liều cao, thuốc bổ Tâm hoặc rượu thuốc vì có thể làm hồi hộp, huyết áp và nhịp Tâm thay đổi.
Ăn uống điều dưỡng
Giai đoạn cấp
Ăn uống nên thanh đạm, dễ tiêu và theo hướng dẫn của cơ sở điều trị.
Không uống rượu, bia, nước tăng lực hoặc dùng chất kích thích.
Không tự dùng rượu thuốc, thuốc bổ mạnh hoặc các vị hoạt huyết.
Nếu có suy tim, phù hoặc bệnh Thận, lượng muối và nước cần theo hướng dẫn riêng.
Giai đoạn hồi phục
Ăn đủ chất nhưng không quá no.
Nên dùng rau củ, ngũ cốc, các loại đậu, cá, đậu phụ và thịt nạc lượng vừa phải.
Hạn chế thức ăn chiên rán, thịt chế biến sẵn, mỡ động vật, nội tạng, bánh ngọt, nước ngọt và thức ăn quá mặn.
Thể khí âm hư
Cháo Mạch môn đông Bách hợp: Mạch môn đông (麦门冬), Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Thể khí hư
Cháo Hoài sơn Liên tử Đại táo: Hoài sơn (山药), Liên tử (莲子), Đại táo (大枣), gạo tẻ.
Thể đàm thấp
Cháo Ý dĩ nhân Phục linh: Ý dĩ nhân (薏苡仁), Phục linh (茯苓), gạo tẻ.
Tâm thần bất an
Cháo Bách hợp Liên tử: Bách hợp (百合), Liên tử (莲子), gạo tẻ.
Thể dương hư
Cháo Sinh khương Thông bạch: Sinh khương (生姜), Thông bạch (葱白), gạo tẻ.
Chỉ dùng lượng nhẹ khi đã hết sốt, không còn biểu hiện nhiệt và bệnh đã ổn định. Người Tâm đập nhanh, miệng khô, lưỡi đỏ hoặc huyết áp chưa ổn định không nên dùng nhiều.
Nghỉ ngơi và phục hồi
Nghỉ ngơi là trọng điểm
Người bệnh cần tránh lao động nặng, thức khuya và tập thể thao gắng sức trong thời gian cơ tim còn viêm.
Không trở lại vận động chỉ vì đã hết sốt hoặc hết đau ngực.
Đánh giá trước khi tập lại
Thời điểm trở lại vận động có thể căn cứ:
Triệu chứng đã hết hay chưa.
Điện tâm đồ.
Holter điện tâm đồ.
Troponin.
Siêu âm Tâm.
Cộng hưởng từ Tâm.
Chức năng thất.
Khả năng gắng sức.
Trở lại từng bước
Khi được cho phép, có thể bắt đầu bằng đi bộ chậm trong thời gian ngắn.
Tăng thời gian và cường độ từng bước, không trở lại ngay mức tập cũ.
Dấu hiệu phải dừng hoạt động
Đau hoặc tức ngực.
Khó thở.
Hồi hộp tăng rõ.
Chóng mặt.
Choáng.
Vã mồ hôi lạnh.
Mệt bất thường.
Sắc mặt tái.
Ngất hoặc gần ngất.
Trở lại học tập và công việc
Người bệnh nên trở lại dần, giảm thời gian làm việc liên tục và tránh ca đêm trong giai đoạn đầu.
Công việc mang vác, làm việc ngoài trời nóng lạnh, leo trèo hoặc vận hành máy móc cần được đánh giá kỹ hơn.
Sinh hoạt điều dưỡng
Ngủ đủ
Thiếu ngủ làm hệ giao cảm hưng phấn, nhịp Tâm và hồi hộp tăng.
Tránh rượu và chất kích thích
Rượu, thuốc lá, nước tăng lực và ma túy có thể làm rối loạn nhịp và tăng gánh nặng cho Tâm.
Không làm việc quá sức
Cần nghỉ xen kẽ và tránh lao lực kéo dài.
Điều hòa tình chí
Lo âu sau viêm cơ tim là tình trạng thường gặp.
Người bệnh cần được giải thích rõ mức hoạt động an toàn và dấu hiệu cần tái khám. Không nên quy mọi hồi hộp cho lo âu, nhưng cũng không nên vì sợ hãi mà nằm bất động kéo dài khi đã được phép vận động.
Phòng nhiễm trùng
Giữ vệ sinh tay và thực phẩm, nghỉ ngơi khi sốt hoặc nhiễm trùng.
Không cố tập luyện khi đang cảm cúm, đau họng, ho hoặc tiêu chảy.
Theo dõi sau xuất viện
Cần theo dõi:
Điện tâm đồ.
Nhịp Tâm.
Huyết áp.
Chức năng thất.
Khả năng vận động.
Khó thở.
Phù.
Rối loạn nhịp.
Tác dụng không mong muốn của thuốc.
Người từng có suy tim, rối loạn nhịp nặng hoặc sẹo cơ tim cần được theo dõi lâu dài.
Dấu hiệu cần tái khám sớm
Đau ngực xuất hiện lại.
Khó thở tăng.
Khó thở khi nằm.
Phù chân.
Tăng cân nhanh.
Tiểu ít.
Hồi hộp kéo dài.
Nhịp Tâm quá nhanh, quá chậm hoặc loạn.
Choáng hoặc ngất.
Khả năng vận động giảm.
Mệt tăng rõ.
Sốt tái phát.
Dấu hiệu cần cấp cứu
Đau ngực dữ dội.
Khó thở nhiều.
Môi tím.
Vã mồ hôi lạnh.
Huyết áp tụt.
Tay chân lạnh.
Ngất.
Lơ mơ.
Tâm đập loạn kéo dài.
Không thể nằm xuống vì khó thở.
Ho hoặc khạc bọt hồng.
Nếu người bệnh bất tỉnh và không thở bình thường, cần gọi cấp cứu, bắt đầu hồi sinh tim phổi và sử dụng máy khử rung tự động nếu có.
Những điều nên làm
Đi khám sớm nếu sau nhiễm virus xuất hiện đau ngực, khó thở, hồi hộp hoặc mệt bất thường.
Thực hiện điện tâm đồ, troponin, siêu âm và những kiểm tra khác theo chỉ định.
Nghỉ ngơi đầy đủ.
Tránh vận động gắng sức cho đến khi được phép.
Dùng thuốc đúng chỉ định.
Tái khám đúng hẹn.
Theo dõi hồi hộp, khó thở, phù và khả năng vận động.
Ăn uống thanh đạm, đủ chất.
Ngủ đủ.
Tránh rượu, thuốc lá và chất kích thích.
Những điều không nên làm
Không xem đau ngực hoặc hồi hộp sau cảm cúm là chuyện nhẹ.
Không tập thể thao mạnh khi chưa hồi phục.
Không tự dùng thuốc kháng sinh khi chưa có chỉ định.
Không tự dùng thuốc Trung y mạnh, thuốc bổ hoặc rượu thuốc.
Không tự dùng Phụ tử, Tam thất, Đan sâm hoặc Nhân sâm liều cao.
Không châm cứu, bấm huyệt hoặc cạo gió để thay thế cấp cứu.
Không tự ngừng thuốc Tâm mạch.
Không thức khuya và làm việc quá sức.
Không trì hoãn cấp cứu khi khó thở nặng, ngất, Tâm đập loạn hoặc phù tăng nhanh.
Chú ý
Viêm cơ tim do virus có thể nhẹ nhưng cũng có thể tiến triển nhanh, gây suy tim, rối loạn nhịp, sốc tim hoặc ngừng tuần hoàn.
Nếu sau cảm cúm, sốt, viêm họng, ho, tiêu chảy hoặc một đợt nhiễm virus mà xuất hiện đau ngực, khó thở, hồi hộp, Tâm đập nhanh bất thường, choáng, ngất, phù chân hoặc khó thở khi nằm, cần được khám Tâm mạch sớm.
Không dùng thuốc thang, châm cứu, bấm huyệt, cạo gió, dầu xoa hoặc rượu thuốc để trì hoãn việc đánh giá.
Kết luận
Viêm cơ tim do virus là tình trạng virus hoặc phản ứng miễn dịch sau nhiễm virus làm cơ tim bị viêm và tổn thương.
Bệnh có thể xuất hiện sau cảm cúm, sốt, đau họng, ho, tiêu chảy hoặc những nhiễm virus khác. Triệu chứng Tâm mạch có thể xuất hiện đồng thời hoặc sau đó vài ngày đến vài tuần.
Biểu hiện thường gặp gồm đau ngực, khó thở, hồi hộp, Tâm đập nhanh hoặc không đều, mệt bất thường, phù và giảm khả năng vận động. Ở trẻ nhỏ, bệnh có thể biểu hiện bằng bú kém, thở nhanh, nôn, lừ đừ hoặc da tái.
Viêm cơ tim do virus có thể hồi phục hoàn toàn, nhưng cũng có thể gây suy tim, bệnh cơ tim giãn, huyết khối, rối loạn nhịp nguy hiểm, sốc tim và đột tử.
Chẩn đoán cần phối hợp bệnh sử, điện tâm đồ, troponin, xét nghiệm viêm, siêu âm Tâm, cộng hưởng từ và những kiểm tra chuyên sâu khi cần. Không nên tự chẩn đoán bệnh chỉ dựa vào hồi hộp sau cảm cúm.
Trong Trung y, bệnh thuộc phạm vi Ôn độc phạm Tâm, Nhiệt độc nhập Tâm, Tâm quý, Chinh xung, Hung tý, Tâm thống và Hư lao.
Giai đoạn đầu thường thiên về ôn độc, nhiệt độc và đàm nhiệt; giai đoạn hồi phục thường thiên về khí âm lưỡng hư, Tâm khí hư, Tâm Tỳ lưỡng hư và huyết ứ; trường hợp nặng có thể thuộc Tâm dương hư và thủy khí lăng Tâm.
Ôn độc phạm Tâm thì thanh nhiệt giải độc; nhiệt độc thương âm thì dưỡng âm thanh nhiệt; khí âm lưỡng hư thì ích khí dưỡng âm; Tâm khí hư thì ích khí dưỡng Tâm; đàm nhiệt thì thanh nhiệt hóa đàm; huyết ứ thì thông mạch nhưng phải thận trọng; Tâm dương hư thì ôn dương lợi thủy nhưng phải phối hợp với điều trị suy tim hiện đại.
Trung y chỉ có vai trò hỗ trợ sau khi người bệnh đã được đánh giá đầy đủ và tình trạng đã ổn định.
Nói tóm lại, điều quan trọng trong viêm cơ tim do virus là nhận biết những bất thường xuất hiện sau nhiễm virus, nghỉ ngơi đúng mức, không vận động gắng sức khi cơ tim chưa hồi phục và xử trí kịp thời khi có đau ngực, khó thở, rối loạn nhịp hoặc ngất.
Trường Xuân Đường biên soạn và tổng hợp