Bệnh thận do đái tháo đường là một biến chứng mạn tính quan trọng của đái tháo đường, thường biểu hiện bằng albumin niệu hoặc protein niệu, tăng huyết áp, phù và suy giảm chức năng thận.
Theo Trung y, giai đoạn đầu và giữa của bệnh thường thuộc phạm vi Tiêu khát 消渴, đặc biệt liên quan đến Hạ tiêu và Thận tiêu. Khi bệnh tiến triển nặng, có thể xuất hiện các chứng Phù thũng, Hư lao, Quan cách và Niệu độc.
Bệnh thường phát triển trên nền Tiêu khát kéo dài, khiến khí âm hao tổn, Can Thận bất túc, Tỳ Thận suy yếu, lạc mạch ứ trở và thủy thấp đình tụ.
I. TẠNG PHỦ VÀ BỆNH CƠ CHỦ YẾU
Bệnh thận do đái tháo đường có liên quan mật thiết đến Can, Tỳ và Thận, đồng thời ảnh hưởng đến khí, huyết và thủy dịch.
Thận chủ thủy, tàng tinh và giữ chức năng khí hóa.
Tiêu khát lâu ngày làm Thận âm hao tổn. Thận khí suy thì tinh vi không được cố nhiếp, xuất hiện tiểu nhiều, nước tiểu đục và protein niệu.
Bệnh kéo dài, âm tổn ảnh hưởng đến dương, Thận dương suy yếu, khí hóa bất lợi, thủy dịch không được vận hành, từ đó sinh phù và tiểu ít.
Tỳ chủ vận hóa thủy cốc và thủy thấp.
Tỳ khí hư làm tinh vi không được chuyển hóa, thủy thấp tích lại, biểu hiện ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng, cơ thể nặng và phù.
Khi Tỳ Thận đều hư, thủy thấp càng khó hóa, bệnh dễ chuyển sang giai đoạn phù nặng và suy thận.
Can tàng huyết và chủ sơ tiết.
Can Thận đồng nguyên. Thận âm hư có thể làm Can âm cũng suy, xuất hiện chóng mặt, ù tai, mắt mờ và đau mỏi lưng gối.
Khí cơ không thông, huyết hành trì trệ, lâu ngày sinh huyết ứ và làm tổn thương lạc mạch của thận.
Khí hư không vận hành được huyết.
Huyết ứ làm mạch lạc bị trở.
Tỳ Thận suy làm thủy thấp không hóa.
Vì vậy, bệnh thận do đái tháo đường thường có ba mặt cùng tồn tại:
Khí âm hư.
Huyết ứ.
Thủy thấp.
II. QUÁ TRÌNH DIỄN BIẾN THEO TRUNG Y
Khí âm lưỡng hư, Can Thận bất túc.
Người bệnh có thể chỉ mệt, miệng khô, đau lưng, tiểu có bọt hoặc nước tiểu đục mà chưa phù rõ.
Khí âm suy sâu hơn, lạc mạch ứ trở.
Protein niệu tăng, huyết áp có thể cao, phù bắt đầu xuất hiện, kèm tê đau chân tay hoặc mắt mờ.
Âm tổn ảnh hưởng đến dương, Tỳ Thận đều hư.
Người bệnh sợ lạnh, tay chân lạnh, ăn kém, đại tiện lỏng, phù mặt và chân, tiểu ít hoặc tiểu đục.
Khí, huyết, âm, dương đều suy; đàm, thấp, ứ và trọc độc cùng kết.
Có thể xuất hiện phù toàn thân, tiểu ít, buồn nôn, nôn, ngứa, khó thở, thiếu máu, thần trí không tỉnh và các biểu hiện của suy thận nặng.
III. THỂ KHÍ ÂM LƯỠNG HƯ
Chủ chứng
Mệt mỏi.
Hơi thở ngắn.
Lười nói.
Khát không nhiều.
Ăn kém.
Gầy sút.
Đau mỏi lưng gối.
Tiểu nhiều hoặc tiểu có bọt.
Lưỡi nhạt tím, có thể có điểm ứ.
Rêu trắng mỏng.
Mạch tế nhược hoặc sáp.
Bệnh cơ
Tiêu khát kéo dài làm khí âm đều tổn thương. Thận mất cố nhiếp, tinh vi theo nước tiểu thoát ra. Khí hư không vận huyết nên dễ kiêm huyết ứ.
Phép trị
Ích khí dưỡng âm, bổ Thận, kiêm hoạt huyết hóa ứ.
Phương thang tham khảo
Ích khí Tiêu khát ẩm gia giảm.
Các vị thường dùng gồm Hoàng kỳ, Thái tử sâm, Sơn dược, Sơn thù nhục, Sinh địa, Câu kỷ tử, Kê huyết đằng, Bạch truật, Hoàng tinh và Hà thủ ô.
Gia giảm
Tê đau chi thể, huyết ứ rõ: thêm Đan sâm, Địa long.
Nhìn mờ: thêm Thạch hộc, Cúc hoa.
Khát nhiều: thêm Cát căn, Mạch môn.
IV. THỂ CAN THẬN BẤT TÚC
Chủ chứng
Mệt mỏi.
Miệng khô.
Đau mỏi lưng gối.
Chóng mặt.
Ù tai.
Mắt mờ.
Tiểu đục.
Lưỡi đỏ sẫm.
Mạch trầm huyền tế.
Bệnh cơ
Can Thận âm tinh không đủ, tinh huyết không nuôi dưỡng được mắt, tai và lưng gối; Thận mất cố nhiếp nên nước tiểu đục.
Phép trị
Tư bổ Can Thận, ích khí dưỡng âm.
Phương thang tham khảo
Kỷ cúc Địa hoàng thang gia vị.
Các vị thường dùng gồm Câu kỷ tử, Cúc hoa, Sinh địa, Sơn dược, Sơn thù nhục, Phục linh, Trạch tả, Đan bì, Thái tử sâm và Hoàng tinh.
Gia giảm
Nhức đầu, huyết áp cao: thêm Thiên ma, Câu đằng.
Phù nhẹ: thêm Xa tiền tử, Ích mẫu thảo.
Mắt mờ nhiều: thêm Thạch hộc, Nữ trinh tử.
V. THỂ TỲ THẬN LƯỠNG HƯ
Chủ chứng
Sợ lạnh.
Tay chân lạnh.
Mệt mỏi.
Ăn kém.
Đại tiện lỏng.
Sắc mặt vàng nhợt.
Đau lưng mỏi gối.
Tiểu nhiều, tiểu đục.
Phù mặt và chân.
Giảm chức năng sinh dục.
Lưỡi nhạt tím, có dấu răng.
Mạch trầm tế vô lực.
Bệnh cơ
Tỳ dương không vận hóa, Thận dương không khí hóa, thủy thấp đình tụ và tinh vi không được giữ.
Phép trị
Kiện Tỳ bổ Thận, ôn dương lợi thủy.
Phương thang tham khảo
Tế sinh Thận khí hoàn hợp Thực Tỳ ẩm gia giảm.
Các vị thường dùng gồm Sơn dược, Sơn thù nhục, Phục linh, Trạch tả, Đan bì, Can khương, Bạch truật, Mộc hương, Mộc qua, Đại phúc bì, Hoàng kỳ và Cam thảo.
Chú ý
Các phương cổ thường dùng Phụ tử trong thể này. Phụ tử có độc tính tim mạch, không được tự sử dụng. Nếu cần ôn dương, phải do thầy thuốc có chuyên môn quyết định và theo dõi.
Gia giảm
Protein niệu nhiều: có thể phối Khiếm thực, Kim anh tử khi phù hợp.
Phù rõ: phối Trư linh, Xa tiền tử hoặc Ích mẫu thảo.
Ăn kém, bụng đầy: thêm Trần bì, Sa nhân.
VI. THỂ THẬN HƯ HUYẾT Ứ
Chủ chứng
Sắc mặt sạm tối.
Vành tai khô.
Cơ thể gầy.
Mệt mỏi.
Miệng khô nhưng không muốn uống.
Đau lưng mỏi gối.
Tiểu ít và đục.
Tê đau chân tay.
Da khô ráp.
Phù toàn thân, nhất là chi dưới.
Lưỡi tím sẫm, có điểm hoặc ban ứ.
Mạch trầm sáp vô lực.
Bệnh cơ
Thận hư làm khí hóa suy, huyết ứ trở lạc, thủy thấp không vận hành.
Phép trị
Bổ Thận, ích khí, hoạt huyết hóa ứ, hành thủy.
Phương thang tham khảo
Sâm kỳ Địa hoàng thang hợp Bổ dương hoàn ngũ thang gia giảm.
Các vị thường dùng gồm Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Hoàng kỳ, Thục địa, Sơn dược, Sơn thù nhục, Phục linh, Trạch tả, Đào nhân, Hồng hoa, Đương quy, Xích thược, Xuyên khung, Ích mẫu thảo và Xa tiền tử.
Chú ý
Người có bệnh thận nặng, tiểu máu, xuất huyết võng mạc hoặc đang dùng thuốc chống đông cần thận trọng với thuốc hoạt huyết.
VII. THỂ CAN THẬN KHÍ ÂM LƯỠNG HƯ
Chủ chứng
Mệt mỏi.
Ít nói.
Miệng họng khô.
Đại tiện khô.
Chóng mặt.
Ù tai.
Nhìn mờ.
Đau lưng mỏi gối.
Lưỡi tím.
Mạch huyền tế.
Phép trị
Tư bổ Can Thận, ích khí hoạt huyết.
Phương thang tham khảo
Sinh địa, Huyền sâm, Sơn thù nhục, Thái tử sâm, Cát căn, Mạch môn, Đan sâm, Thiên hoa phấn và Ngưu tất.
Thể này thường gặp ở giai đoạn còn bảo tồn tương đối chức năng thận nhưng đã có albumin niệu hoặc protein niệu.
VIII. THỂ TỲ THẬN KHÍ DƯƠNG LƯỠNG HƯ
Chủ chứng
Mệt mỏi.
Đau lưng mỏi gối.
Phù mặt và chân.
Sợ lạnh.
Ăn kém.
Đại tiện lỏng.
Lưỡi to, có dấu răng.
Mạch tế vô lực.
Phép trị
Bổ ích Tỳ Thận, ích khí hoạt huyết, lợi thủy.
Phương thang tham khảo
Hoàng kỳ, Đảng sâm, Trư linh, Phục linh, Đan sâm, Mộc qua, Sinh địa, Cát căn, Dâm dương hoắc, Trạch tả, Trạch lan, Mạch môn và Đương quy.
Không nên dùng các vị trợ dương mạnh khi chưa xác định rõ thể bệnh.
IX. THỂ TÂM THẬN KHÍ DƯƠNG LƯỠNG HƯ
Chủ chứng
Mệt mỏi.
Hồi hộp.
Thở ngắn.
Đau lưng mỏi gối.
Tiểu ít.
Phù.
Sợ lạnh.
Có thể khó thở, không nằm được.
Lưỡi to tím, có dấu răng.
Mạch trầm tế vô lực.
Bệnh cơ
Tâm dương suy không vận huyết, Thận dương suy không hóa thủy, thủy ẩm dâng lên phạm Tâm Phế.
Phép trị
Ích khí dưỡng Tâm, thông dương, hoạt huyết, lợi thủy.
Phương thang tham khảo
Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử, Trư linh, Phục linh, Đan sâm, Đình lịch tử, Quế chi, Trạch tả, Trạch lan, Tang bạch bì và Xa tiền tử.
Chú ý
Khó thở khi nằm, phù tăng nhanh, đau ngực hoặc tiểu ít rõ có thể là suy tim hoặc suy thận nặng. Không tự dùng thuốc lợi thủy mạnh; cần được khám khẩn cấp.
X. ĐIỀU TRỊ KIÊM CHỨNG
Biểu hiện: ngực sườn đầy, dễ cáu, tâm trạng uất ức.
Phép phối hợp: sơ Can lý khí.
Các vị thường dùng: Sài hồ, Chỉ xác, Bạch thược.
Biểu hiện: khát rõ, miệng họng khô, táo bón.
Phép phối hợp: thanh nhiệt sinh tân.
Các vị thường dùng: Thạch cao, Tri mẫu, Mạch môn, Thiên hoa phấn.
Biểu hiện: tiểu nhiều lần, tiểu gấp, tiểu buốt, nước tiểu vàng đục.
Phép phối hợp: thanh lợi thấp nhiệt.
Các vị thường dùng: Thổ phục linh, Thạch vi, Xa tiền tử.
Tiểu buốt kèm sốt, rét run hoặc đau hông lưng cần được khám để loại trừ nhiễm trùng đường tiết niệu và viêm bể thận.
Biểu hiện: sắc mặt nhợt, môi nhợt, chóng mặt và mệt mỏi.
Phép phối hợp: ích khí dưỡng huyết.
Các vị thường dùng: Hoàng kỳ, Đương quy, Câu kỷ tử và Thục địa.
XI. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ THEO GIAI ĐOẠN
Ích khí dưỡng âm, bổ Can Thận, hoạt huyết nhẹ.
Ích khí cố nhiếp, bổ Thận, hoạt huyết thông lạc.
Kiện Tỳ, ôn Thận, lợi thủy, đồng thời chú ý bảo vệ chính khí.
Điều bổ Tỳ Thận, hóa thấp, tiết trọc, hoạt huyết, nhưng phải phối hợp chặt chẽ với điều trị chuyên khoa thận.
Bản hư gồm khí hư, âm hư và dương hư.
Tiêu thực gồm huyết ứ, thủy thấp, thấp nhiệt và trọc độc.
Điều trị cần căn cứ tình trạng cụ thể, không chỉ bổ Thận hoặc lợi thủy đơn thuần.
XII. NHỮNG ĐIỀU CẦN THẬN TRỌNG KHI DÙNG TRUNG DƯỢC
Bệnh thận làm khả năng đào thải thuốc suy giảm, do đó nguy cơ tích lũy và độc tính tăng lên.
Cần tránh:
Tự dùng Phụ tử hoặc thuốc ôn dương mạnh.
Dùng thuốc lợi tiểu Trung dược kéo dài mà không kiểm tra điện giải.
Dùng nhiều vị hoạt huyết khi có nguy cơ xuất huyết.
Dùng dược liệu không rõ nguồn gốc.
Dùng thuốc có kim loại nặng.
Dùng thuốc hoàn hoặc thuốc thành phẩm quảng cáo “hạ đường, bổ thận” nhưng không công bố đầy đủ thành phần.
Tự dùng liều cao Hoàng kỳ, Nhân sâm hoặc Cam thảo khi có tăng huyết áp, phù hoặc suy tim.
XIII. CHẾ ĐỘ ĂN THEO NHẬN THỨC TRUNG Y
Ăn uống cần phù hợp với chức năng thận và hướng dẫn dinh dưỡng chuyên môn.
Theo Trung y, nên tránh ăn quá nhiều:
Thức ăn béo ngọt.
Đồ chiên rán.
Rượu.
Thức ăn quá mặn.
Thực phẩm sống lạnh khi Tỳ dương hư.
Các loại canh thuốc hoặc nước sắc lợi tiểu dùng tùy tiện.
Không nên cho rằng ăn nhiều thịt để “bổ Thận”. Lượng protein cần căn cứ chức năng thận và chỉ định dinh dưỡng.
XIV. CHĂM SÓC VÀ PHÒNG NGỪA
Theo dõi đường huyết và HbA1c.
Đo huyết áp định kỳ.
Kiểm tra albumin niệu hoặc tỷ số albumin – creatinin niệu.
Kiểm tra creatinin và mức lọc cầu thận.
Điều trị sớm nhiễm trùng đường tiết niệu.
Không hút thuốc.
Hạn chế muối theo hướng dẫn.
Không tự dùng thuốc giảm đau hoặc thuốc có nguy cơ gây tổn thương thận.
Duy trì cân nặng và vận động phù hợp.
Khám mắt định kỳ vì bệnh võng mạc và bệnh thận thường cùng xuất hiện.
XV. DẤU HIỆU CẦN ĐI KHÁM SỚM
Nước tiểu có bọt kéo dài.
Phù mí mắt hoặc chân.
Huyết áp tăng.
Tiểu ít.
Tiểu máu.
Tiểu buốt.
Đau lưng kèm sốt.
Buồn nôn, ăn kém kéo dài.
Mệt tăng rõ.
Ngứa toàn thân.
Khó thở.
Đường huyết thường xuyên hạ dù không thay đổi thuốc.
XVI. DẤU HIỆU CẦN CẤP CỨU
Khó thở hoặc không thể nằm bằng.
Phù tăng nhanh.
Tiểu rất ít hoặc vô niệu.
Đau ngực.
Rối loạn ý thức.
Co giật.
Yếu liệt hoặc nói khó.
Nôn liên tục.
Hạ đường huyết nặng.
Tim đập bất thường kèm yếu cơ hoặc tê bì tăng nhanh.
Nói tóm lại, bệnh thận do đái tháo đường theo Trung y thường khởi đầu từ khí âm lưỡng hư và Can Thận bất túc, sau đó phát triển thành Tỳ Thận suy yếu, huyết ứ và thủy thấp đình tụ. Giai đoạn sớm lấy ích khí dưỡng âm, bổ Can Thận và hoạt huyết làm chủ; khi phù và suy thận tiến triển cần kiện Tỳ, bổ Thận, lợi thủy và hóa trọc. Tuy nhiên, Trung y chỉ có vai trò phối hợp. Việc kiểm soát đường huyết, huyết áp, protein niệu và chức năng thận vẫn là nền tảng để làm chậm tiến triển bệnh.
Trường Xuân biên soạn