Ho là một trong những triệu chứng thường gặp nhất ở trẻ em. Theo Trung y, ho thuộc chứng khái thấu 咳嗽, phát sinh khi Phế khí mất khả năng tuyên phát và túc giáng, khí nghịch lên trên.
Trẻ nhỏ có tạng phủ non yếu, Phế thường kiều nộn, Tỳ thường bất túc, vệ khí chưa vững nên dễ cảm thụ phong, hàn, nhiệt, thấp và táo. Khi ngoại tà xâm phạm, Phế khí bị bế tắc, tân dịch không được phân bố bình thường, dễ ngưng tụ thành đàm. Vì vậy, chứng ho ở trẻ thường biến đổi nhanh, dễ kèm đàm, tích trệ, sốt và thở khò khè.
Trong điều trị, không nên chỉ tìm cách cắt tiếng ho. Ho là phản ứng giúp đưa đàm và dị vật ra ngoài. Nếu trẻ có nhiều đàm mà dùng thuốc ức chế ho quá mạnh, đàm có thể lưu lại trong đường thở, làm bệnh nặng hơn. Điều quan trọng là xác định nguyên nhân, phân biệt hàn nhiệt, hư thực, tính chất đàm và tạng phủ liên quan.
I. KHÁI, THẤU VÀ KHÁI THẤU
Theo cách giải thích của y học cổ truyền:
Khái 咳 là có tiếng ho mà không có đàm, phần nhiều liên quan đến Phế khí bị tổn thương hoặc Phế táo.
Thấu 嗽 là có đàm mà tiếng ho không rõ, phần nhiều liên quan đến Tỳ hư sinh thấp, đàm trọc nghịch lên Phế.
Khái thấu 咳嗽 là vừa có tiếng ho vừa có đàm, biểu hiện Phế khí bị tổn thương đồng thời Tỳ thấp sinh đàm.
Trên lâm sàng, ba biểu hiện này thường đan xen nên được gọi chung là chứng ho.
II. VÌ SAO HO KHÔNG CHỈ LIÊN QUAN ĐẾN PHẾ?
Phế là tạng trực tiếp phát sinh tiếng ho, nhưng các tạng phủ khác cũng có thể ảnh hưởng đến Phế mà gây bệnh. Vì vậy có thể nói:
“Ho không chỉ ở Phế, nhưng không rời Phế.”
Phế chủ khí, coi việc hô hấp, khai khiếu ra mũi, ngoài hợp với da lông, chủ tuyên phát và túc giáng.
Ngoại tà từ miệng mũi hoặc bì mao xâm nhập trước tiên thường phạm Phế. Phế khí không tuyên thì nghẹt mũi, ho và đàm khó khạc; Phế khí không giáng thì khí nghịch, ho liên tục hoặc thở gấp.
Tỳ chủ vận hóa thức ăn và thủy thấp. Trẻ nhỏ Tỳ Vị còn yếu, nếu bú mớm không điều độ, ăn quá nhiều, ăn thức ăn lạnh sống hoặc béo ngọt, Tỳ mất kiện vận, thấp tụ thành đàm.
Đàm trọc dâng lên Phế, làm bế tắc khí đạo và phát sinh ho. Vì vậy có câu:
“Tỳ là nguồn sinh đàm, Phế là nơi chứa đàm.”
Phế chủ khí, Thận chủ nạp khí. Nếu Thận khí hư, khí không thể quy căn, trẻ có thể thở ngắn, vận động thì suyễn tăng và ho kéo dài.
Tuy nhiên, chứng ho do Thận hư ở trẻ nhỏ ít gặp hơn người lớn vì Thận khí của trẻ đang trong quá trình phát triển. Chứng này thường chỉ thấy ở trẻ bệnh lâu ngày, thể trạng rất yếu hoặc có bệnh mạn tính kéo dài.
Tâm hỏa hoặc Can hỏa quá vượng có thể nghịch lên làm tổn thương Phế, gây ho, mặt đỏ, miệng khát, dễ bứt rứt hoặc ho tăng khi xúc động.
III. Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUAN SÁT ĐÀM
Khi trẻ ho, cần hỏi rõ có đàm hay không, đàm nhiều hay ít, màu sắc, độ đặc loãng và mức độ dễ khạc. Đây là căn cứ quan trọng để nhận định bệnh cơ.
Đàm trắng có bọt: Phần nhiều thuộc phong hàn hoặc hàn ẩm.
Đàm trắng loãng, trong như nước bọt: Phần nhiều thuộc Phế hàn hoặc tạng khí hư hàn.
Đàm trắng đục, đặc và nhiều: Phần nhiều thuộc Tỳ thấp hoặc đàm thấp.
Đàm vàng đặc, dính khó khạc: Phần nhiều thuộc Phế nhiệt hoặc đàm nhiệt.
Đàm ít, keo dính, khó khạc: Phần nhiều thuộc Phế táo hoặc âm hư.
Đàm lẫn máu: Có thể do nhiệt làm tổn thương Phế lạc, táo nhiệt hoặc âm hư; cần được khám để loại trừ bệnh phổi nghiêm trọng.
Nói tóm lại, nhiệt nung tân dịch thành đàm thì đàm thường vàng đặc; thấp tích thành đàm thì đàm thường trắng đặc; thủy ẩm tràn lên thì đàm thường trắng loãng và lạnh.
IV. NGUYÊN NHÂN VÀ BỆNH CƠ
Trẻ mặc không đủ ấm, gặp gió lạnh, dầm mưa hoặc nằm nơi có gió lùa làm phong hàn xâm phạm Phế vệ. Phế khí bị bó buộc, không thể tuyên thông, gây ho, nghẹt mũi và đàm trắng loãng.
Trẻ vốn nội nhiệt tương đối thịnh, khi cảm ngoại tà dễ hóa nhiệt. Phong nhiệt phạm Phế làm Phế mất thanh túc, nhiệt nung đốt tân dịch thành đàm vàng hoặc đàm dính.
Trẻ ăn uống không điều độ, Tỳ mất kiện vận, thủy thấp đình tụ thành đàm. Nếu thấp kết hợp với nhiệt sẽ hình thành thấp nhiệt; nếu thiên về hàn thấp thì đàm trắng nhiều, bụng đầy và đại tiện lỏng.
Thời tiết hanh khô hoặc nhiệt tà làm hao tổn tân dịch của Phế. Phế mất tư nhuận, gây ho khan, ít đàm, mũi họng khô và môi lưỡi khô.
Trẻ ăn quá nhiều, ăn không đúng giờ, ăn nhiều thức ăn béo ngọt hoặc khó tiêu làm thức ăn đình lại ở trung tiêu. Tích trệ lâu ngày sinh thấp, hóa nhiệt và sinh đàm, đàm nhiệt dâng lên Phế gây ho.
Trẻ thể chất yếu, bệnh lâu ngày hoặc cảm mạo tái phát nhiều lần làm Phế khí hao tổn. Tỳ khí hư không thể sinh dưỡng Phế, đồng thời không vận hóa được thủy thấp, gây ho yếu, nhiều đàm loãng, ăn ít và đại tiện lỏng.
Ho kéo dài, sốt lâu hoặc dùng thuốc cay táo quá mức làm hao tổn Phế âm. Trẻ ho khan, ít đàm, họng khô, chiều tối ho tăng và lưỡi đỏ ít rêu.
V. PHÂN BIỆT HO DO NGOẠI CẢM VÀ NỘI THƯƠNG
Đặc điểm: Khởi phát tương đối đột ngột, bệnh trình ngắn, thường kèm sốt, sợ lạnh, nghẹt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi, đau đầu hoặc đau mình; phần nhiều thuộc biểu chứng và thực chứng.
Phép trị: Sơ tán ngoại tà, tuyên thông Phế khí.
Đặc điểm: Khởi phát từ từ, kéo dài hoặc tái diễn, thường kèm ăn kém, bụng đầy, đại tiện lỏng, mệt mỏi, hơi thở ngắn, họng khô hoặc các dấu hiệu tạng phủ hư tổn.
Phép trị: Căn cứ nguyên nhân mà kiện Tỳ, hóa đàm, tiêu thực, thanh nhiệt, bổ Phế hoặc dưỡng âm.
Trên lâm sàng, trẻ ho do nội thương vẫn có thể cảm thêm ngoại tà, hình thành tình trạng bản hư tiêu thực. Khi đó cần vừa khu tà vừa bảo vệ chính khí.
VI. PHÂN BIỆT QUA TIẾNG HO
Ho khan, kích thích, không đàm: Thường gặp khi họng khô, viêm đường hô hấp trên, Phế táo hoặc giai đoạn đầu của viêm phế quản.
Ho ướt, trong họng có tiếng đàm: Thường gặp trong viêm phế quản, đàm thấp, đàm nhiệt hoặc viêm phổi.
Ho từng cơn dữ dội, mặt đỏ tím, có cảm giác nghẹt: Cần nghĩ đến ho gà, dị vật đường thở hoặc khí quản bị chèn ép.
Ho kiểu chó sủa, kèm khàn tiếng và khó hít vào: Có thể gặp trong viêm thanh quản cấp, cần theo dõi sát tình trạng đường thở.
Ho tiếng cao, vang và có lực: Thường thiên về thực chứng.
Ho tiếng nhỏ, yếu, hơi thở không tiếp nối: Thường thiên về Phế Tỳ khí hư.
Ho nhiều vào sáng sớm, đàm nhiều: Thường liên quan đến đàm thấp hoặc thực tích.
Ho nặng về đêm, ít đàm, họng khô: Thường liên quan đến âm hư hoặc Phế táo.
VII. BIỆN CHỨNG HO DO NGOẠI CẢM
Triệu chứng
Ho, đàm trắng loãng, hắt hơi, chảy nước mũi trong, nghẹt mũi, sợ lạnh, không ra mồ hôi, đau đầu, đau mỏi cơ thể, lưỡi rêu trắng mỏng, mạch phù khẩn.
Bệnh cơ
Phong hàn bó biểu, Phế khí không tuyên, tân dịch ngưng tụ thành đàm.
Phép trị
Tân ôn giải biểu, tuyên Phế tán hàn.
Phương thang
Hạnh tô tán gia giảm
Thành phần theo tài liệu: Tử tô diệp 8 g, Sinh khương 3 lát, Hạnh nhân 6 g, Tiền hồ 8 g, Cát cánh 8 g, Trần bì 8 g, Chỉ xác 6 g, Bán hạ 6 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Phong hàn nặng, ho kèm thở gấp có thể gia Ma hoàng; thức ăn tích trệ, bụng đầy gia Sơn tra, Thần khúc, Mạch nha.
Không tự dùng Ma hoàng cho trẻ có bệnh tim, tăng huyết áp, cường giáp hoặc đang kích thích, mất ngủ.
Kim phỉ thảo tán
Thành phần: Toàn phúc hoa 6–9 g, Tiền hồ 6–9 g, Kinh giới 6–9 g, Tế tân 3–5 g, Bán hạ chế 6–9 g, Xích thược 6–9 g, Cam thảo 3–4 g, Sinh khương 2–3 lát, Đại táo 3–4 quả.
Công dụng: Phát tán phong hàn, giáng khí hóa đàm, chỉ khái.
Chủ trị: Ngoại cảm phong hàn, ho nhiều đàm loãng, thở gấp và ngực đầy.
Toàn phúc hoa cần bọc khi sắc; Tế tân chỉ dùng với liều thích hợp và dưới hướng dẫn chuyên môn.
Triệu chứng
Ho, đàm đặc hoặc vàng, nước mũi đục, miệng khát, họng đau, đầu nặng, ra mồ hôi, có thể sốt và hơi sợ gió, lưỡi đỏ hoặc đầu lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng, mạch phù sác.
Bệnh cơ
Phong nhiệt phạm Phế, Phế mất thanh túc, nhiệt nung đốt tân dịch thành đàm.
Phép trị
Tân lương giải biểu, tuyên Phế thanh nhiệt, hóa đàm.
Phương thang
Tang cúc ẩm
Thành phần theo tài liệu: Tang diệp 10 g, Cúc hoa 10 g, Bạc hà 10 g, Liên kiều 10 g, Hạnh nhân 8 g, Cát cánh 10 g, Lô căn 12 g, Cam thảo 4 g.
Cách dùng: Sắc uống; Bạc hà cho vào sau.
Gia giảm: Ho nặng gia Qua lâu bì 12 g, Mạch môn 8 g; đàm nhiệt nghịch lên gia Tiền hồ 10 g, Hải phù thạch 10 g, Đình lịch tử 10 g; họng sưng đau, nuốt khó gia Mã bột 6 g, Sơn đậu căn 12 g.
Một phương khác trong tài liệu
Thành phần: Tang diệp 8 g, Cúc hoa 10 g, Cát cánh 10 g, Hạnh nhân 6 g, Liên kiều 15 g, Hoàng cầm 9 g, Tỳ bà diệp 10 g, Tiền hồ 6 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Tỳ bà diệp cần bỏ sạch lông trước khi sắc.
Triệu chứng
Ho, đàm đục, miệng khát nhưng uống ít, ngực tức, ăn kém, có thể ho khan nghẹn, tiểu vàng, môi lưỡi đỏ, rêu trắng dày hoặc vàng nhờn, mạch nhu sác.
Bệnh cơ
Thấp tà từ ngoài xâm nhập hoặc đàm thấp sinh bên trong, uất lại hóa nhiệt, cùng làm bế tắc Phế khí.
Phép trị
Khổ tân thông giáng, thanh nhiệt hóa thấp, nhẹ tuyên Phế khí.
Phương thang
Phương thanh nhiệt hóa thấp
Thành phần: Liên kiều 10 g, Hạnh nhân 8 g, Hoạt thạch 12 g, Ý dĩ nhân 12 g, Bán hạ 10 g, Chi tử 9 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Đàm đặc nhiều gia Đông qua nhân 8 g; thở gấp, đàm nghẽn, táo bón gia Đình lịch tử 9 g.
Hoạt thạch cần được bọc khi sắc. Phương này không thích hợp với trẻ Tỳ Vị hư hàn, đại tiện lỏng và không có dấu hiệu thấp nhiệt.
Triệu chứng
Ho khan không đàm hoặc ít đàm dính, ho không thông thoát, mũi họng khô, ho gây đau ngực, đại tiện khó, môi lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng hoặc trắng khô, mạch sác.
Bệnh cơ
Táo nhiệt thiêu đốt Phế âm, làm tân dịch hao tổn và Phế mất thanh nhuận.
Phép trị
Tân lương cam nhuận, dưỡng âm thanh Phế.
Phương thang
Tang hạnh thang gia giảm
Thành phần theo tài liệu: Tang diệp 8 g, Hạnh nhân 8 g, Chiết bối mẫu 10 g, Sa sâm 10 g, Chi tử 6 g, Đạm đậu xị 10 g, vỏ lê 1 quả.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Ho lâu không dứt gia Bách bộ 6 g, Địa cốt bì 6 g.
Phương thanh nhiệt bảo Phế, nhuận táo
Thành phần: Lá sen tươi 20 g, Kim ngân hoa tươi 20 g, vỏ dưa hấu 10 g, Xơ mướp 6 g, Tâm trúc tươi 10 g, Hoa biển đậu tươi 10 g, Cát cánh 6 g, Hạnh nhân 6 g, Mạch môn 8 g, Cam thảo 4 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Chủ trị: Ho khan kéo dài, khàn tiếng, Phế táo tương đối rõ.
Thanh táo cứu Phế thang
Thành phần: Tang diệp 6–9 g, Sinh thạch cao 12–18 g, Cam thảo 3–4 g, Hồ ma nhân 6–9 g, A giao 6–9 g, Mạch môn 6–9 g, Hạnh nhân 6–8 g, Tỳ bà diệp 9–12 g, Sa sâm 9–12 g.
Công dụng: Thanh táo nhuận Phế, ích khí dưỡng âm.
A giao hòa vào nước thuốc sau khi sắc; Tỳ bà diệp cần bỏ lông.
Chỉ khái tán có tính ôn nhuận, tương đối hòa bình, có thể dùng làm chủ phương cho một số chứng ho ngoại cảm còn nhẹ rồi gia giảm theo hàn nhiệt và đàm.
Thành phần: Kinh giới 6–9 g, Cát cánh 6–9 g, Bách bộ 6–9 g, Tử uyển 6–9 g, Cam thảo 3–6 g, Bạch tiền 6–12 g, Trần bì 6–9 g.
Công dụng: Sơ phong giải biểu, tuyên Phế, hóa đàm chỉ khái.
Gia giảm theo chứng:
Ho phong hàn: Gia Tô diệp, Phòng phong.
Ho phong nhiệt: Giảm Tử uyển, Bách bộ; gia Tang diệp, Cúc hoa, Bạc hà, Qua lâu bì.
Ho thấp nhiệt: Bỏ Kinh giới; gia Tiền hồ, Bội lan, Thạch xương bồ, Hoạt thạch, Ý dĩ nhân.
Ho táo nhiệt: Giảm Kinh giới, Trần bì và Bạch tiền; gia Tang diệp, Sa sâm, Mạch môn, Tri mẫu, Huyền sâm, Lê bì, Xuyên bối mẫu.
Ho kéo dài, đàm trắng dính, ngứa họng: Gia Hạnh nhân, Bối mẫu.
VIII. BIỆN CHỨNG HO DO NỘI THƯƠNG
Triệu chứng
Ho, nôn sữa hoặc đàm dãi, ho nhiều vào gần sáng, ngực bụng đầy, biếng ăn, ợ chua, đại tiện hôi hoặc táo, lòng bàn tay chân nóng, ngủ không yên, lưỡi rêu trắng dày hoặc vàng, mạch trầm hoạt.
Bệnh cơ
Thức ăn đình tích ở trung tiêu, tích trệ sinh thấp và hóa nhiệt, đàm nhiệt dâng lên Phế.
Phép trị
Tiêu thực đạo trệ, hóa đàm chỉ khái.
Phương thang
Bảo hòa phương gia giảm
Thành phần theo tài liệu: Thần khúc 10 g, Mạch nha sao 10 g, Trần bì 8 g, Thanh Bán hạ 8 g, Phục linh 6 g, Cam thảo 3 g, Chỉ thực 6 g, Sơn tra 6 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Bụng trướng nhiều gia Bạch giới tử sao 6 g; đàm vàng đặc gia Tang bạch bì 8 g, Khoản đông hoa 6 g.
Triệu chứng
Ho nhiều, đàm trắng loãng hoặc trắng dính, ho là có đàm, khạc xong thì ho giảm, ngực tức, ăn kém, lưỡi rêu trắng dày hoặc nhờn, mạch nhu hoặc hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ hư mất vận hóa, thấp tụ thành đàm, đàm trọc dâng lên Phế làm khí đạo không thông.
Phép trị
Kiện Tỳ táo thấp, lý khí hóa đàm.
Phương thang
Nhị trần thang gia giảm
Thành phần theo tài liệu: Trần bì 10 g, Thanh Bán hạ 10 g, Phục linh 8 g, Cam thảo 4 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Đầy bụng, đại tiện lỏng gia Thương truật 10 g, Hậu phác 8 g; đàm dính khó khạc gia Qua lâu 10 g, Đởm nam tinh 6 g, Hoàng cầm 8 g.
Phương trị ho đàm thấp kéo dài
Thành phần: Chế Bán hạ, Trần bì, Phục linh, Cát cánh, Tử uyển, Bách bộ, Cam thảo, mỗi vị 10 g.
Cách dùng: Sắc uống, chia trong ngày.
Triệu chứng
Ho, thở gấp, đàm vàng đặc, mũi họng khô, miệng hôi, mặt môi đỏ, khát và bứt rứt, táo bón, lưỡi đỏ, rêu vàng dày, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Hỏa nhiệt nung Phế, luyện tân dịch thành đàm, làm bế tắc khí đạo và Phế mất tuyên giáng.
Phép trị
Thanh nhiệt tả Phế, chỉ khái hóa đàm.
Phương thang
Tả bạch tán gia vị
Thành phần theo tài liệu: Tang bạch bì 8 g, Địa cốt bì 8 g, Hoàng cầm 8 g, Chi tử 8 g, Canh mễ 6 g, Cam thảo 4 g, Bạch tiền 6 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Triệu chứng
Ho tiếng thô, đàm vàng dính, khó khạc, có thể sốt và đau ngực, lưỡi đỏ, rêu vàng khô hoặc vàng nhờn, mạch hoạt sác.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa đàm, chỉ khái.
Phương thang
Phương thanh nhiệt hóa đàm
Thành phần: Ma hoàng 6 g, Hạnh nhân 12 g, Hoàng cầm 12 g, Tang bạch bì 12 g, Khoản đông hoa 12 g, Chế Bán hạ 10 g, Qua lâu bì 10 g, Ngư tinh thảo 30 g, Đông qua nhân 30 g, Cam thảo 6 g.
Cách dùng: Sắc uống, chia hai đến ba lần trong ngày.
Phương có Ma hoàng, liều lượng cần được điều chỉnh theo tuổi, cân nặng và tình trạng của trẻ; không tự sử dụng.
Triệu chứng
Ho khan không đàm hoặc ít đàm, ho tăng về chiều tối, họng khô ngứa, mặt đỏ, lòng bàn tay chân nóng, môi khô, lưỡi đỏ ít rêu, thiếu tân dịch, mạch tế sác.
Bệnh cơ
Tân dịch hao tổn, Phế âm không đủ, Phế mất thanh nhuận và túc giáng.
Phép trị
Dưỡng âm thanh Phế, nhuận táo chỉ khái.
Phương thang
Sa sâm Mạch môn thang gia giảm
Thành phần theo tài liệu: Sa sâm 10 g, Mạch môn 10 g, Ngọc trúc 10 g, Thiên hoa phấn 10 g, Tang diệp 8 g, Bạch biển đậu 8 g, Cam thảo 8 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Đàm dính khó khạc gia Qua lâu sương 6 g; mũi khô đỏ gia Tang bạch bì 8 g; ho lâu làm tổn thương Phế khí gia Bách hợp 10 g, Bạch cập 8 g.
Triệu chứng
Ho yếu, đàm trắng loãng, ăn ít, đại tiện lỏng, hơi thở ngắn, lười nói, sắc mặt trắng nhợt, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch tế vô lực.
Bệnh cơ
Phế khí suy, Tỳ khí hư không thể vận hóa thủy thấp và sinh dưỡng Phế, đàm loãng ngăn trở khí đạo.
Phép trị
Bổ ích Phế Tỳ, ôn hóa đàm thấp.
Phương thang
Lục quân tử thang gia giảm
Thành phần theo tài liệu: Trần bì 10 g, Khương Bán hạ 10 g, Nhân sâm 3 g, Phục linh 8 g, Bạch truật 8 g, Cam thảo 6 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Đại tiện lỏng, phân có thức ăn chưa tiêu có thể gia Thảo quả theo biện chứng.
Nếu ho lâu, Phế hư ảnh hưởng đến Thận, hơi thở ngắn yếu có thể xem xét Bát tiên trường thọ hoàn.
Bát tiên trường thọ hoàn
Thành phần: Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược, Phục linh, Trạch tả, Đan bì, Mạch môn, Ngũ vị tử.
Công dụng: Tư bổ Phế Thận, liễm Phế chỉ khái.
Triệu chứng
Ho kéo dài, ban ngày nhẹ ban đêm nặng, hơi thở lạnh, đàm trắng loãng, sợ lạnh, lưng lạnh, tay chân không ấm, đại tiện lỏng, tiểu trong dài, môi lưỡi nhạt, lưỡi phù nhợt, rêu trắng nhuận, mạch trầm tế.
Bệnh cơ
Dương khí hư, Phế khí suy, hàn từ bên trong sinh ra, làm Phế mất tuyên giáng.
Phép trị
Ôn Phế tán hàn, kiện Tỳ hóa đàm.
Phương thang
Ôn Phế kiện Tỳ thang
Thành phần: Can khương 3 g, Trần bì 6 g, Thanh Bán hạ 6 g, Đảng sâm 8 g, Phục linh 8 g, Chích cam thảo 6 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Trẻ thuộc thể dương thường dễ hóa nhiệt, vì vậy Can khương và các thuốc cay nóng chỉ dùng khi có biểu hiện hư hàn rõ ràng.
IX. VÌ SAO TRỊ HO Ở TRẺ CẦN CHÚ TRỌNG TỲ?
Phế mất tuyên giáng khiến thủy dịch đình lại thành đàm. Nếu Tỳ vận hóa mạnh, thủy thấp được chuyển vận, nguồn sinh đàm giảm, Phế khí cũng dễ thông hơn.
Trẻ ăn uống không điều độ, thực tích hoặc Tỳ hư thấp thịnh đều có thể sinh đàm. Chỉ tuyên Phế mà không điều chỉnh Tỳ thì đàm vẫn tiếp tục sinh ra, bệnh dễ tái phát.
Khí huyết của cơ thể được sinh hóa từ Tỳ Vị. Muốn bổ Phế khí cần kiện Tỳ để nguồn sinh hóa đầy đủ. Đây là ý nghĩa của phép bổ thổ sinh kim.
X. ĂN UỐNG KHI TRẺ HO
Trẻ đang ho nên ăn thức ăn thanh đạm, mềm và dễ tiêu. Không ép trẻ ăn quá nhiều trong một lần.
Hạn chế món chiên rán, béo ngọt, nhiều dầu mỡ vì dễ sinh thấp và tăng đàm.
Hạn chế thức ăn lạnh sống, nước đá và kem, nhất là khi trẻ ho đàm trắng loãng, sợ lạnh hoặc đại tiện lỏng.
Trẻ ho phong nhiệt, đàm vàng và họng đỏ nên hạn chế thức ăn cay nóng, nướng và quá nhiều đồ ngọt.
Không kiêng khem quá mức làm trẻ thiếu dinh dưỡng.
Một số món ăn hỗ trợ chỉ phù hợp với từng thể bệnh, không thể dùng chung cho mọi trường hợp.
Thành phần: Ngọc trúc 15 g, loại tươi dùng lượng gấp đôi; gạo tẻ 50 g.
Cách làm: Ngọc trúc sắc lấy nước, bỏ bã, dùng nước thuốc nấu cháo. Dùng ấm.
Phù hợp hơn với ho khan, họng khô thuộc Phế âm bất túc.
Thành phần: Hoàng tinh 15 g, loại tươi dùng lượng gấp đôi; gạo tẻ 50 g, đường phèn lượng vừa phải.
Cách làm: Hoàng tinh thái nhỏ, nấu cùng gạo đến nhừ, thêm ít đường phèn.
Phù hợp với trẻ thể trạng yếu, ho kéo dài; không thích hợp khi đàm thấp nhiều và bụng đầy.
Thành phần: Bách hợp 10 g, loại tươi dùng lượng gấp đôi; lê 1 quả, đường trắng 15 g.
Cách làm: Lê thái miếng, trộn cùng Bách hợp và ít đường, hấp chín.
Phù hợp với ho khan, ít đàm, Phế táo; không thích hợp với ho đàm trắng loãng, sợ lạnh và tiêu chảy.
Thành phần: Sinh khương 6 g, hồng khô 1 quả.
Cách làm: Gừng thái nhỏ, kẹp vào quả hồng rồi nướng chín.
Phù hợp hơn với ho thiên hàn; không dùng khi trẻ đàm vàng, họng đỏ, khát nước hoặc táo bón.
Thành phần: Nhân hạt thông 20 g, gạo nếp 50 g, mật ong lượng vừa phải.
Cách làm: Hạt thông giã nhỏ, nấu với gạo thành cháo, thêm ít mật ong khi cháo còn ấm.
Không dùng mật ong cho trẻ dưới 12 tháng tuổi.
XI. CHĂM SÓC TRẺ HO
Giữ phòng ấm vừa phải, thông thoáng và có độ ẩm thích hợp; không để gió lạnh thổi trực tiếp vào trẻ.
Không hút thuốc hoặc đốt các chất tạo khói trong phòng trẻ.
Cho trẻ uống nước ấm từng ít một. Không ép uống nhiều trong một lần vì dễ gây nôn.
Trẻ nhiều đàm nên thay đổi tư thế thường xuyên, nằm nghiêng và vỗ lưng nhẹ từ dưới lên trên để hỗ trợ đàm di chuyển.
Giữ vệ sinh mũi miệng, làm sạch dịch mũi để trẻ dễ thở.
Không tự dùng thuốc giảm ho mạnh, thuốc an thần, codein, morphin hoặc chế phẩm có vỏ thuốc phiện.
Không tự dùng thuốc kháng sinh chỉ vì trẻ ho hoặc có đàm. Việc dùng thuốc cần căn cứ chẩn đoán và hướng dẫn của bác sĩ.
Không tự đắp thuốc chứa Cam toại, Chu sa, Khinh phấn, vỏ thuốc phiện hoặc dược liệu không rõ độ an toàn lên rốn hay da trẻ.
XII. DỊ VẬT ĐƯỜNG THỞ
Nếu trẻ đột ngột ho sặc sau khi đang ăn, ngậm đồ vật, khóc hoặc cười, kèm khó thở, tím tái hoặc không phát được tiếng, cần nghĩ đến dị vật đường thở.
Không móc họng mù quáng vì có thể đẩy dị vật vào sâu hơn.
Cần thực hiện sơ cứu hóc dị vật phù hợp với tuổi và gọi cấp cứu ngay nếu trẻ không thở được, tím tái hoặc mất ý thức.
Trẻ vẫn còn ho và thở được cần được đưa đến cơ sở y tế để kiểm tra, vì dị vật có thể vẫn còn trong khí quản hoặc phế quản.
XIII. DẤU HIỆU CẦN ĐƯA TRẺ ĐI KHÁM
Ho kèm sốt cao hoặc sốt kéo dài.
Thở nhanh, khó thở, co kéo lồng ngực hoặc cánh mũi phập phồng.
Môi tím, đầu ngón tay tím hoặc trẻ lơ mơ.
Ho kiểu chó sủa kèm thở rít khi hít vào.
Ho từng cơn dữ dội, mặt tím, nôn nhiều hoặc nghi ngờ ho gà.
Ho đột ngột sau khi ăn hoặc chơi đồ vật nhỏ.
Ho ra máu hoặc đàm lẫn máu tái diễn.
Ho kéo dài trên hai đến ba tuần, gầy sút hoặc ra mồ hôi trộm.
Trẻ bỏ bú, không uống được nước, tiểu ít hoặc ngủ li bì.
Ho và thở khò khè tái phát nhiều lần, nhất là trẻ có tiền sử chàm hoặc dị ứng.
Nói tóm lại, chứng ho ở trẻ em tuy phát sinh trực tiếp tại Phế nhưng có quan hệ mật thiết với Tỳ và đàm. Trẻ dễ cảm ngoại tà, dễ sinh nhiệt, dễ kèm đàm và thực tích. Khi biện chứng cần phân biệt bệnh mới hay lâu ngày, hàn hay nhiệt, có đàm hay không, đàm vàng hay trắng, tiếng ho mạnh hay yếu, đồng thời quan sát lưỡi, rêu lưỡi và toàn trạng. Ho do ngoại cảm lấy tuyên Phế khu tà làm chính; ho do nội thương cần kiện Tỳ hóa đàm, tiêu thực, thanh nhiệt, bổ Phế hoặc dưỡng âm tùy chứng. Điều trị đúng căn nguyên và chăm sóc thích hợp sẽ giúp Phế khí tuyên giáng điều hòa trở lại, đồng thời hạn chế bệnh kéo dài và tái phát.
Trường Xuân biên soạn