Bệnh võng mạc do đái tháo đường là một biến chứng vi mạch thường gặp của đái tháo đường, hình thành khi đường huyết tăng kéo dài làm tổn thương các mao mạch nuôi dưỡng võng mạc.
Ở giai đoạn đầu, người bệnh có thể chưa nhận thấy thị lực thay đổi. Khi tổn thương tiến triển, có thể xuất hiện nhìn mờ, hình ảnh méo, ruồi bay trước mắt, giảm thị lực hoặc mất thị lực đột ngột.
Theo Trung y, bệnh thuộc phạm vi các chứng Thị chiêm hôn miểu, Vân vụ di tình, Bạo manh và Nội chướng, thường phát sinh trên nền Tiêu khát lâu ngày. Bệnh cơ chủ yếu liên quan đến Can, Thận, Tỳ, khí, huyết và lạc mạch vùng mắt.
I. NHẬN THỨC CHUNG THEO TRUNG Y
Mắt là khiếu của Can, đồng thời được tinh khí của ngũ tạng lục phủ đưa lên nuôi dưỡng.
Can tàng huyết, khai khiếu ra mắt.
Thận tàng tinh, tinh huyết cùng nguồn.
Tỳ vận hóa thủy cốc tinh vi, là nguồn sinh hóa khí huyết.
Tiêu khát kéo dài làm âm dịch hao tổn, khí âm đều hư, huyết hành không thông và lạc mạch vùng mắt bị tổn thương.
Bệnh thường có đặc điểm:
Bản hư là Can Thận âm hư, khí âm lưỡng hư hoặc Tỳ Thận suy yếu.
Tiêu thực là táo nhiệt, huyết ứ, đàm thấp và lạc mạch bị trở.
Xuất huyết võng mạc liên quan mật thiết đến nhiệt nhập huyết phận, khí không nhiếp huyết và huyết ứ trở lạc.
Phù hoàng điểm và xuất tiết thường liên quan đến Tỳ hư, thủy thấp không hóa và lạc mạch rò rỉ.
Tân mạch, xuất huyết dịch kính và tăng sinh xơ thường biểu hiện bệnh đã tiến triển sâu, không thể chỉ dựa vào thuốc Trung y.
II. DIỄN BIẾN BỆNH
Âm hư, táo nhiệt và lạc mạch bắt đầu bị tổn thương.
Đáy mắt có thể xuất hiện:
Vi phình mạch.
Xuất huyết chấm nhỏ.
Xuất tiết cứng.
Phù võng mạc nhẹ.
Người bệnh có thể chưa giảm thị lực rõ.
Khí âm suy tổn, huyết ứ rõ hơn, mao mạch bị tắc nghẽn và thiếu máu võng mạc tăng.
Có thể xuất hiện:
Nhiều điểm xuất huyết.
Đốm bông.
Tĩnh mạch võng mạc giãn, ngoằn ngoèo.
Phù hoàng điểm.
Thị lực giảm.
Thiếu máu võng mạc kích thích hình thành tân mạch.
Tân mạch rất dễ vỡ, gây xuất huyết trước võng mạc hoặc xuất huyết dịch kính. Mô xơ đi kèm co kéo có thể gây bong võng mạc.
Đây là giai đoạn nặng, cần được bác sĩ chuyên khoa mắt đánh giá để điều trị bằng laser, thuốc tiêm nội nhãn hoặc phẫu thuật khi có chỉ định.
III. THỂ ÂM HƯ TÁO NHIỆT
Chủ chứng
Khát nhiều.
Uống nhiều.
Ăn nhiều, mau đói.
Miệng họng khô.
Đại tiện táo.
Tiểu vàng.
Lưỡi đỏ, rêu vàng hoặc ít rêu.
Mạch sác.
Biểu hiện ở mắt
Đáy mắt có thể có xuất huyết chấm, phù võng mạc hoặc xuất tiết.
Bệnh cơ
Tiêu khát kéo dài làm âm dịch hao tổn, táo nhiệt nung đốt huyết lạc vùng mắt.
Phép trị
Tư âm thanh nhiệt, sinh tân, lương huyết.
Phương thang tham khảo
Ngọc nữ tiễn gia giảm.
Các vị thường dùng gồm Sinh địa, Tri mẫu, Mạch môn, Thạch cao và Ngưu tất.
Có thể tham khảo Tăng dịch Bạch hổ thang gia giảm khi khát nhiều, táo nhiệt và Vị nhiệt rõ.
Các vị thường dùng gồm Sinh địa, Huyền sâm, Mạch môn, Tri mẫu, Thạch cao, Cam thảo và gạo tẻ.
Chú ý
Các phương có nhiều vị hàn lương, không nên dùng kéo dài ở người Tỳ Vị hư, ăn kém, đầy bụng hoặc tiêu chảy.
IV. THỂ KHÍ ÂM LƯỠNG HƯ
Chủ chứng
Mệt mỏi.
Hơi thở ngắn.
Tự ra mồ hôi.
Miệng khô.
Khát không nhiều.
Hoa mắt.
Nhìn mờ.
Lưỡi đỏ nhạt hoặc to bệu, ít rêu.
Mạch tế nhược.
Biểu hiện ở mắt
Xuất huyết võng mạc kéo dài.
Phù võng mạc.
Xuất tiết.
Thị lực giảm chậm.
Bệnh cơ
Khí hư không nhiếp huyết, âm hư không nhu dưỡng lạc mạch, khiến mạch vùng mắt dễ rò rỉ và xuất huyết.
Phép trị
Ích khí dưỡng âm, sinh tân, nhiếp huyết, thông lạc.
Phương thang tham khảo
Dưỡng âm ích khí thang gia giảm.
Các vị thường dùng gồm Sinh địa, Huyền sâm, Mạch môn, Thiên môn, Ngọc trúc, Tri mẫu, Hoàng kỳ và Cam thảo.
Khi huyết ứ rõ có thể phối hợp nhẹ Đan sâm, Xích thược hoặc Kê huyết đằng dưới sự theo dõi chuyên môn.
V. THỂ HUYẾT Ứ TRỞ LẠC
Chủ chứng
Bệnh kéo dài.
Nhìn mờ.
Trước mắt có điểm đen hoặc ruồi bay.
Đau đầu hoặc đau cố định.
Da sạm.
Môi tím.
Lưỡi tím sẫm, có điểm hoặc ban ứ.
Mạch sáp.
Biểu hiện ở mắt
Xuất huyết võng mạc lâu không hấp thu.
Xuất huyết tái diễn.
Có thể có xuất huyết dịch kính.
Bệnh cơ
Táo nhiệt làm tổn thương huyết lạc, huyết ra ngoài mạch hoặc huyết ứ lưu lại, khiến lạc mạch vùng mắt mất thông.
Phép trị
Lương huyết, hoạt huyết, hóa ứ, thông lạc.
Phương thang tham khảo
Tê giác Địa hoàng thang gia giảm, hiện nay dùng Thủy ngưu giác thay Tê giác.
Các vị thường dùng gồm Thủy ngưu giác, Sinh địa, Bạch thược, Đan bì, Đan sâm, Mạch môn, Huyền sâm, Tam thất và Cỏ tranh.
Chú ý
Không tự dùng thuốc hoạt huyết hoặc Tam thất khi đang có xuất huyết mắt, đang dùng aspirin, clopidogrel, warfarin hoặc thuốc chống đông khác.
Xuất huyết võng mạc không có nghĩa là mọi thuốc hoạt huyết đều bị cấm, nhưng việc sử dụng phải căn cứ nguyên nhân, mức độ xuất huyết và thuốc người bệnh đang dùng.
VI. THỂ THẬN ÂM HƯ
Chủ chứng
Miệng khô.
Đau lưng mỏi gối.
Ù tai.
Chóng mặt.
Mệt mỏi.
Mắt khô hoặc nhìn mờ.
Lưỡi đỏ sẫm hoặc nhạt tối, ít rêu.
Mạch trầm tế.
Biểu hiện ở mắt
Xuất huyết.
Phù.
Xuất tiết.
Thay đổi thoái hóa hoặc xơ hóa võng mạc.
Bệnh cơ
Thận tinh không đủ, Can huyết thiếu nguồn, mắt không được tinh huyết nuôi dưỡng; âm hư lại sinh nội nhiệt, làm lạc mạch dễ tổn thương.
Phép trị
Tư âm bổ Thận, dưỡng Can minh mục.
Phương thang tham khảo
Tăng dịch thang hợp Lục vị Địa hoàng thang gia giảm.
Các vị thường dùng gồm Sinh địa, Huyền sâm, Mạch môn, Sơn dược, Trạch tả, Phục linh, Sơn thù nhục và Đan bì.
Có thể phối hợp Nữ trinh tử, Hạn liên thảo, Câu kỷ tử hoặc Cúc hoa khi Can Thận âm hư và mắt mờ rõ.
VII. THỂ CAN THẬN ÂM HƯ
Chủ chứng
Nhìn mờ.
Mắt khô.
Hoa mắt.
Ù tai.
Đau lưng mỏi gối.
Đầu choáng.
Miệng họng khô.
Lưỡi đỏ, ít rêu.
Mạch huyền tế.
Bệnh cơ
Can huyết và Thận tinh đều suy, tinh huyết không đưa lên nuôi mắt.
Phép trị
Bổ Can Thận, dưỡng huyết, minh mục.
Phương thang tham khảo
Kỷ cúc Địa hoàng hoàn gia giảm.
Các vị thường dùng gồm Thục địa, Sơn dược, Sơn thù nhục, Phục linh, Trạch tả, Đan bì, Câu kỷ tử và Cúc hoa.
Phương này thích hợp hơn khi không có táo nhiệt hoặc thấp nhiệt rõ.
VIII. THỂ TỲ HƯ THẤP TRỆ
Chủ chứng
Mắt mờ.
Đầu nặng.
Cơ thể nặng nề.
Ăn kém.
Bụng đầy.
Đại tiện lỏng.
Phù nhẹ.
Lưỡi to có dấu răng.
Rêu trắng nhờn.
Mạch nhu hoặc hoạt.
Biểu hiện ở mắt
Phù võng mạc.
Phù hoàng điểm.
Xuất tiết cứng.
Bệnh cơ
Tỳ mất vận hóa, thủy thấp đình lại, thanh dương không đưa lên mắt, thấp trọc làm lạc mạch rò rỉ.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hóa thấp, lợi thủy, thông lạc.
Phương thang tham khảo
Sâm linh Bạch truật tán hoặc Lục quân tử thang gia giảm.
Các vị thường dùng gồm Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Sơn dược, Ý dĩ nhân, Bạch biển đậu, Trần bì, Bán hạ và Cam thảo.
Phù hoàng điểm có thể gây mất thị lực trung tâm. Không nên chỉ dùng thuốc lợi thấp mà trì hoãn tiêm nội nhãn hoặc laser khi bác sĩ đã chỉ định.
IX. THỂ KHÍ HƯ KHÔNG NHIẾP HUYẾT
Chủ chứng
Mệt mỏi.
Sắc mặt nhợt.
Hơi thở ngắn.
Lười nói.
Tự ra mồ hôi.
Dễ bầm tím.
Lưỡi nhạt.
Mạch tế nhược.
Biểu hiện ở mắt
Xuất huyết võng mạc tái diễn nhưng không có biểu hiện thực nhiệt rõ.
Bệnh cơ
Khí hư không giữ được huyết trong mạch, khiến huyết thoát ra ngoài lạc mạch vùng mắt.
Phép trị
Ích khí nhiếp huyết, dưỡng âm, thông lạc nhẹ.
Phương thang tham khảo
Quy Tỳ thang hoặc Bổ trung ích khí thang gia giảm tùy biểu hiện.
Các vị thường dùng gồm Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Đương quy, Toan táo nhân và Cam thảo.
X. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
Tư âm thanh nhiệt, ích khí dưỡng âm, lương huyết thông lạc.
Phân biệt nhiệt nhập huyết phận, khí không nhiếp huyết và huyết ứ trở lạc.
Không được thấy xuất huyết là dùng thuốc cầm máu hoặc hoạt huyết giống nhau cho mọi trường hợp.
Kiện Tỳ, hóa thấp, lợi thủy, đồng thời dưỡng âm và thông lạc.
Tư bổ Can Thận, ích tinh dưỡng huyết, minh mục.
Trung y chỉ có vai trò hỗ trợ toàn thân và phục hồi. Không thay thế laser, tiêm nội nhãn hoặc phẫu thuật dịch kính.
XI. THUỐC THÀNH PHẨM TRUNG Y
Một số thuốc thành phẩm thường được tài liệu nhắc đến gồm:
Thạch hộc Dạ quang hoàn.
Minh mục Địa hoàng hoàn.
Kỷ cúc Địa hoàng hoàn.
Các thuốc này chủ yếu dùng cho thể Can Thận âm hư, mắt khô, nhìn mờ hoặc bệnh ở giai đoạn tương đối ổn định.
Không nên tự dùng khi:
Đang xuất huyết dịch kính.
Thị lực giảm đột ngột.
Có bong võng mạc.
Có phù hoàng điểm nặng.
Đang sử dụng nhiều thuốc điều trị khác.
Không dùng Vân Nam bạch dược để tự xử trí xuất huyết võng mạc.
Không truyền tĩnh mạch Đan sâm ngoài cơ sở y tế. Thuốc tiêm Trung dược có thể gây dị ứng nặng, tụt huyết áp và tương tác thuốc.
XII. CHÂM CỨU HỖ TRỢ
Châm cứu có thể hỗ trợ thư giãn, cải thiện thể trạng và một số triệu chứng đi kèm nhưng không làm mất tân mạch hay thay thế laser.
Các huyệt thường được cân nhắc gồm:
Bàng quang-18 Can du.
Bàng quang-23 Thận du.
Bàng quang-20 Tỳ du.
Vị-36 Túc tam lý.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Thận-3 Thái khê.
Can-3 Thái xung.
Đởm-20 Phong trì.
Thái dương.
Tuyệt đối không châm trực tiếp vào nhãn cầu.
Không châm sâu quanh hốc mắt ở người đang dùng thuốc chống đông, có tân mạch hoặc xuất huyết chưa ổn định.
XIII. BẢO VỆ MẮT
Duy trì đường huyết ổn định giúp làm chậm sự xuất hiện và tiến triển của tổn thương võng mạc.
Không tự giảm thuốc khi dùng thêm Trung dược.
Tăng huyết áp làm tổn thương mao mạch võng mạc tiến triển nhanh hơn và tăng nguy cơ xuất huyết.
Rối loạn lipid máu có thể liên quan đến xuất tiết cứng và tổn thương mạch máu.
Người mắc đái tháo đường cần được khám mắt theo lịch của bác sĩ chuyên khoa.
Việc khám có thể bao gồm:
Đo thị lực.
Đo nhãn áp.
Soi đáy mắt sau giãn đồng tử.
Chụp ảnh võng mạc.
Chụp cắt lớp võng mạc.
Chụp mạch huỳnh quang khi cần.
Phụ nữ đã mắc đái tháo đường trước khi mang thai cần khám mắt trước khi mang thai hoặc ngay khi biết có thai, sau đó tái khám theo chỉ định.
Không dụi mắt mạnh.
Không tự nhỏ thuốc có corticoid.
Không tự dùng thuốc cầm máu hoặc hoạt huyết.
Ngừng hút thuốc.
Duy trì vận động phù hợp.
XIV. DẤU HIỆU CẦN KHÁM MẮT SỚM
Nhìn mờ tăng dần.
Nhìn hình méo.
Khó đọc chữ.
Màu sắc nhạt đi.
Ruồi bay tăng.
Có điểm đen che trước mắt.
Khó nhìn ban đêm.
Thị lực hai mắt không đều.
XV. DẤU HIỆU CẦN KHÁM KHẨN CẤP
Mất thị lực đột ngột.
Đột nhiên xuất hiện nhiều ruồi bay.
Thấy chớp sáng.
Có màn đen hoặc bóng che một phần thị trường.
Đau mắt kèm đỏ mắt và buồn nôn.
Xuất hiện vệt máu hoặc màn sương đỏ trước mắt.
Những biểu hiện này có thể liên quan đến xuất huyết dịch kính, bong võng mạc, tắc mạch võng mạc hoặc tăng nhãn áp cấp.
XVI. NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN ÁP DỤNG
Không tự dùng aspirin, heparin hoặc thuốc chống đông để chữa bệnh võng mạc.
Không dùng thuốc tiêu sợi huyết để điều trị xuất huyết võng mạc.
Không tự dùng thuốc cầm máu khi chưa xác định nguyên nhân.
Không truyền dịch chiết Đan sâm để thay thế điều trị mắt.
Không trì hoãn laser vì muốn dùng thuốc Trung y trước.
Không cho rằng thị lực còn tốt nghĩa là võng mạc chưa tổn thương.
Không chỉ kiểm tra mắt khi đã nhìn mờ.
Không tự dùng thuốc nhỏ mắt có corticoid.
XVII. VAI TRÒ CỦA TRUNG Y
Trung y có thể phối hợp nhằm:
Cải thiện khô miệng, mệt mỏi và mất ngủ.
Điều chỉnh thể trạng khí âm lưỡng hư.
Hỗ trợ điều trị Can Thận âm hư.
Hỗ trợ tuần hoàn và phục hồi sau khi xuất huyết đã ổn định.
Điều chỉnh Tỳ hư, thấp trệ trong một số trường hợp phù và xuất tiết.
Tuy nhiên, Trung y không thể thay thế:
Laser quang đông võng mạc.
Thuốc tiêm nội nhãn.
Phẫu thuật cắt dịch kính.
Điều trị bong võng mạc.
Kiểm soát đường huyết, huyết áp và lipid máu.
Nói tóm lại, bệnh võng mạc do đái tháo đường theo Trung y thường hình thành trên nền âm hư, khí âm lưỡng hư, Can Thận suy tổn, huyết ứ và lạc mạch vùng mắt bị tổn thương. Giai đoạn đầu có thể lấy tư âm, thanh nhiệt, ích khí và thông lạc làm chủ; khi xuất huyết cần phân biệt nhiệt nhập huyết phận, khí không nhiếp huyết và huyết ứ; khi phù và xuất tiết rõ cần kiện Tỳ hóa thấp; khi Can Thận suy cần bổ Can Thận và dưỡng tinh huyết. Tuy nhiên, việc khám đáy mắt định kỳ và điều trị chuyên khoa đúng thời điểm vẫn là yếu tố quyết định để bảo vệ thị lực.
Trường Xuân biên soạn