Khái niệm
Táo bón là tình trạng phân lưu lại trong Đại trường quá lâu, trở nên khô cứng hoặc khó bài xuất. Người bệnh có thể đại tiện thưa, phải rặn nhiều, phân nhỏ cứng, cảm giác đại tiện không hết hoặc muốn đi nhưng không thể đi thuận lợi.
Không nên chỉ căn cứ vào số lần đại tiện để xác định táo bón. Có người không đi ngoài hằng ngày nhưng phân vẫn mềm, đại tiện dễ và không có cảm giác khó chịu. Ngược lại, có người vẫn đại tiện mỗi ngày nhưng phân khô, phải rặn nhiều hoặc luôn có cảm giác chưa đi hết, vẫn thuộc tình trạng táo bón.
Khi đánh giá táo bón, cần chú ý đồng thời:
Tần suất đại tiện.
Độ khô và hình dạng của phân.
Mức độ khó khăn khi bài xuất.
Có phải rặn nhiều hay không.
Cảm giác sau khi đại tiện.
Các triệu chứng kèm theo như đau bụng, trướng bụng, khát nước, mệt mỏi hoặc sợ lạnh.
Theo Trung y, đại tiện bình thường cần có đủ tân dịch để làm nhuận phân, đồng thời khí phải đầy đủ và vận hành thông suốt để đẩy phân đi xuống. Vì vậy, táo bón có thể phát sinh do phân quá khô, khí không vận hành, khí hư không đủ sức đẩy hoặc Hàn làm khí cơ bị ngăn trở.
Bệnh nguyên
Ăn uống thất thường
Ăn uống là một trong những nguyên nhân thường gặp nhất của táo bón.
Ăn nhiều thức ăn cay nóng, chiên nướng, rượu mạnh hoặc các thực phẩm có tính táo nhiệt có thể làm hao tổn tân dịch của Vị và Đại trường. Khi ruột mất sự nhu nhuận, phân trở nên khô cứng và khó di chuyển.
Ngược lại, ăn quá nhiều thức ăn sống lạnh, đồ uống lạnh hoặc những món khó tiêu có thể làm tổn thương Tỳ dương. Tỳ mất chức năng vận hóa, khí cơ không đủ sức đưa chất thải xuống dưới, cũng có thể sinh táo bón. Trong trường hợp này, phân không nhất thiết khô nhưng người bệnh vẫn đại tiện khó.
Chế độ ăn quá tinh, thiếu rau, trái cây và ngũ cốc nguyên hạt làm lượng chất xơ giảm, phân ít và chậm di chuyển. Đây là nguyên nhân thường gặp trong đời sống hiện đại.
Căng thẳng cảm xúc
Can chủ sơ tiết, có nhiệm vụ duy trì sự lưu thông điều đạt của khí trong toàn thân. Giận dữ, uất ức, thất vọng hoặc căng thẳng kéo dài có thể làm Can khí uất trệ.
Khi Can khí không thư đạt, khí ở Hạ tiêu và Đại trường cũng bị trở ngại. Phân không được đẩy xuống thuận lợi, gây táo bón kèm trướng bụng, đau tức hoặc thường xuyên muốn đi nhưng không đi được.
Tư lự, lo nghĩ và lao động trí óc quá mức lại làm tổn thương Tỳ. Tỳ khí suy, khả năng vận chuyển phân trong Đại trường giảm, gây táo bón thuộc Hư chứng. Loại này thường ít trướng đau, nhưng phải rặn nhiều và dễ mệt sau đại tiện.
Thiếu vận động
Vận động giúp khí huyết lưu thông và thúc đẩy nhu động ruột. Ngồi lâu, ít đi lại hoặc nằm nhiều làm Tỳ khí suy yếu và khí cơ trì trệ.
Táo bón do thiếu vận động thường gặp ở người làm việc văn phòng, người cao tuổi, người nằm lâu sau bệnh hoặc sau phẫu thuật.
Lao lực quá độ và sinh nở
Lao động thể lực quá mức làm tổn thương Tỳ khí và cơ nhục. Tỳ khí hư không đủ sức vận chuyển chất thải, dẫn đến đại tiện khó.
Phụ nữ sau sinh có thể bị táo bón do nhiều nguyên nhân:
Khí huyết hao tổn.
Tỳ khí vốn yếu.
Mất máu làm Huyết hư.
Ít vận động.
Sợ đau nên không dám rặn.
Lao lực kéo dài trong nhiều năm, ngủ nghỉ không đầy đủ có thể làm suy yếu Thận. Thận âm hư làm tân dịch thiếu, phân khô. Thận dương hư làm khí hóa và sức đẩy ở Hạ tiêu suy giảm, phân tuy không khô nhưng rất khó bài xuất.
Bệnh có sốt
Trong các bệnh ngoại cảm có sốt, tà nhiệt có thể từ Biểu vào Lý, tiến đến Dương minh phủ hoặc Khí phận. Nhiệt mạnh làm hao tổn tân dịch của Phế, Vị và Đại trường, khiến phân nhanh chóng khô cứng.
Người bệnh thường có sốt cao, khát nhiều, ra mồ hôi, bụng đầy đau, lưỡi đỏ, rêu vàng khô và táo bón.
Đây là chứng cấp tính, thuộc phạm vi Lý thực nhiệt hoặc Dương minh phủ thực. Phép trị công hạ chỉ được sử dụng khi chứng trạng phù hợp và cần do người có chuyên môn quyết định.
Bệnh lý
Các tạng phủ liên quan mật thiết đến táo bón gồm Vị, Đại trường, Tỳ, Can, Thận và Phế.
Hai yếu tố căn bản bảo đảm đại tiện bình thường là:
Tân dịch đầy đủ để làm nhuận phân.
Khí đầy đủ và vận hành thông suốt để đưa phân xuống dưới.
Có thể dùng hình ảnh một con thuyền để minh họa:
Phân giống như con thuyền.
Tân dịch trong ruột giống như nước.
Khí giống như gió và buồm giúp thuyền di chuyển.
Thuyền không đi được khi thiếu nước, tương ứng với Huyết hư hoặc Âm hư.
Thuyền không đi được khi thiếu gió, tương ứng với khí trệ.
Thuyền không đi được khi không có sức đẩy, tương ứng với khí hư hoặc dương hư.
Vị
Vị là nguồn sinh tân dịch và có quan hệ mật thiết với Đại trường trong hệ Dương minh.
Khi Vị nhiệt hoặc Vị hỏa quá thịnh, tân dịch bị hao tổn, phân khô và cứng.
Khi Vị âm hư, tân dịch sinh ra không đủ, Đại trường mất sự nhu nhuận, gây táo bón mạn tính.
Đại trường
Đại trường có chức năng truyền đạo, tiếp nhận chất thải từ Tiểu trường, hấp thu lại một phần nước rồi bài xuất phân.
Vị nhiệt và Đại trường nhiệt làm phân khô.
Âm hư làm ruột thiếu nhuận.
Hàn làm khí cơ co rút và ngăn trở sự truyền tống.
Khí trệ làm phân không đi xuống.
Khí hư làm Đại trường thiếu sức đẩy.
Tỳ
Tỳ chủ vận hóa và là nguồn sinh khí huyết. Tuy Tỳ khí bình thường có xu hướng thăng, nhưng sự vận chuyển chất thải trong Đại trường vẫn cần sự hỗ trợ của Tỳ khí.
Khi Tỳ khí hư, người bệnh thường muốn đại tiện nhưng không đủ sức tống phân. Phân có thể không quá khô, nhưng đại tiện kéo dài, phải rặn nhiều và sau đó rất mệt.
Can
Can khí bảo đảm sự điều đạt của khí cơ. Khi Can khí uất trệ, khí ở Hạ tiêu không thông, Đại trường mất sự truyền tống thuận lợi.
Táo bón do Can khí uất thường có:
Phân thành viên nhỏ.
Phân không nhất thiết khô.
Bụng trướng.
Đau tức thay đổi vị trí.
Ợ hơi.
Dễ cáu hoặc tinh thần uất ức.
Thận
Thận chủ nhị tiện và có quan hệ với cả đại tiện lẫn tiểu tiện.
Thận âm hư làm tân dịch thiếu, phân khô, thường gặp ở người cao tuổi hoặc bệnh lâu ngày.
Thận dương hư làm khí hóa Hạ tiêu suy yếu, khí không đủ sức đẩy phân. Hàn sinh ra từ dương hư tiếp tục làm khí cơ bị ngăn trở. Trong trường hợp này, phân thường không khô nhưng đại tiện rất khó.
Phế
Phế và Đại trường có quan hệ biểu lý. Phế khí túc giáng có thể hỗ trợ khí của Đại trường đi xuống.
Khi Phế khí hư, đặc biệt ở người cao tuổi hoặc sau bệnh lâu ngày, khí không giáng xuống Đại trường, sức rặn yếu và táo bón có thể xuất hiện.
Nói tóm lại, táo bón có thể quy về các cơ chế chính:
Nhiệt làm hao tân dịch.
Hàn làm khí cơ ngưng trệ.
Khí trệ làm Đại trường mất sự truyền tống.
Khí hư hoặc dương hư làm thiếu sức đẩy.
Huyết hư hoặc Âm hư làm ruột mất sự nhu nhuận.
Chẩn đoán theo Trung y
Khi biện chứng táo bón, cần quan sát hình dạng phân, độ khô, đau bụng, sức rặn, màu sắc và các triệu chứng toàn thân.
Hình dạng phân
Phân tròn, nhỏ như viên sỏi
Nếu phân rất khô, thường thuộc Nhiệt hoặc Âm hư.
Nếu phân không quá khô nhưng thành từng viên nhỏ, thường liên quan đến Can khí uất trệ.
Phân dài, nhỏ
Có thể gặp trong Tỳ khí hư, khi sức vận chuyển yếu.
Tuy nhiên, nếu phân liên tục nhỏ bất thường, thay đổi rõ so với trước hoặc kèm máu, sụt cân, đau bụng, cần khám y học hiện đại để loại trừ hẹp lòng ruột hoặc khối u.
Phân thành khuôn nhưng rất to và cứng
Thường do phân lưu lại lâu trong Đại trường, tân dịch bị hấp thu quá mức.
Phân mềm nhưng khó đi
Thường gặp trong khí hư, dương hư hoặc khí trệ.
Độ ẩm của phân
Phân rất khô
Có thể do Thực nhiệt hoặc Âm hư.
Trong Thực nhiệt, người bệnh thường khát nhiều, thích uống lạnh, mặt đỏ, miệng hôi, tiểu vàng và rêu lưỡi vàng khô.
Trong Âm hư, người bệnh thường khô miệng, muốn uống từng ngụm nhỏ, nóng về chiều, ra mồ hôi trộm, lưỡi ít rêu hoặc không rêu.
Phân không khô nhưng khó bài xuất
Thường do khí hư, dương hư hoặc khí trệ.
Phân lỏng nhưng khó đi hết
Có thể do Tỳ khí hư kết hợp khí trệ hoặc rối loạn phối hợp khi đại tiện.
Đau bụng
Táo bón kèm trướng đau
Thường liên quan đến Can khí uất trệ. Đau thường không quá dữ dội, vị trí không cố định và giảm sau khi trung tiện.
Táo bón kèm đau co thắt dữ dội
Có thể liên quan đến Hàn ngưng hoặc tắc nghẽn. Nếu đau dữ dội, bụng chướng, nôn hoặc không trung tiện được, cần đi khám khẩn cấp.
Đau quặn sau khi đại tiện
Có thể gặp trong Hàn hoặc khí trệ.
Sức rặn khi đại tiện
Phải rặn nhiều, sau đại tiện kiệt sức
Thường thuộc khí hư hoặc dương hư.
Muốn đại tiện nhưng không thể tống phân
Có thể do khí trệ, khí hư hoặc rối loạn cơ sàn chậu.
Đại tiện rất gấp nhưng phân khô cứng, bụng đầy đau
Thường liên quan đến Thực nhiệt kết ở Đại trường.
Màu sắc của phân
Màu phân không phải dấu hiệu đủ để xác định thể bệnh, nhưng có thể hỗ trợ biện chứng khi kết hợp với các triệu chứng khác.
Phân sẫm, khô, mùi nặng thường gặp trong Nhiệt.
Phân nhạt, mềm hoặc kèm thức ăn không tiêu thường liên quan đến Tỳ hư hoặc Hàn thấp.
Phân đen như hắc ín, phân có máu đỏ hoặc màu sắc thay đổi kéo dài cần được kiểm tra y học hiện đại.
Biện chứng luận trị
Thể Vị và Đại trường thực nhiệt
Triệu chứng
Phân khô cứng, đại tiện thưa, miệng khô, khát, hơi thở hôi, mặt đỏ, tiểu ít và vàng, bụng đầy hoặc đau, cảm giác nóng; lưỡi đỏ, rêu vàng khô; mạch sác hoặc hoạt sác.
Chứng cơ
Nhiệt uất ở Vị và Đại trường, làm hao tổn tân dịch. Ruột mất sự nhu nhuận, phân trở nên khô và khó đi.
Phép trị
Thanh nhiệt, tả hỏa, nhuận tràng, thông tiện.
Phương thang
Ma tử nhân hoàn gia giảm.
Phương này vừa thanh nhiệt, hành khí, vừa nhuận tràng, thường thích hợp cho táo bón do trường vị táo nhiệt.
Nếu tân dịch hao tổn rõ, có thể phối hợp Sinh địa hoàng, Huyền sâm và Mạch môn đông.
Nếu nhiệt không mạnh nhưng phân khô kéo dài, cần giảm các vị công hạ và tăng thuốc dưỡng âm, nhuận táo.
Châm cứu
Đại trường-4 Hợp cốc: Thanh nhiệt, điều lý Đại trường.
Đại trường-11 Khúc trì: Thanh nhiệt.
Tam tiêu-6 Chi câu: Điều khí Tam tiêu, thông tiện.
Tỳ-15 Đại hoành: Điều lý Đại trường, thúc đẩy đại tiện.
Tỳ-14 Phúc kết: Điều khí vùng bụng, thông tiện.
Vị-25 Thiên khu: Điều hòa Đại trường.
Vị-44 Nội đình: Thanh Vị nhiệt.
Vị-28 Thủy đạo: Điều thủy, thông hạ tiêu.
Vị-29 Quy lai: Điều khí huyết Hạ tiêu.
Có thể sử dụng Ngoại thủy đạo và Ngoại quy lai là các kỳ huyệt nằm phía ngoài Vị-28 Thủy đạo và Vị-29 Quy lai để hỗ trợ thông tiện.
Thể Can hỏa phạm Trường Vị
Triệu chứng
Phân khô, đại tiện thưa; miệng đắng, khát, tiểu vàng; dễ cáu, đau đầu, mặt đỏ, mắt đỏ; lưỡi đỏ, hai bên lưỡi đỏ hơn, rêu vàng khô; mạch huyền sác.
Chứng cơ
Can hỏa uất thịnh, ảnh hưởng đến khí cơ của Đại trường, đồng thời thiêu đốt tân dịch, làm phân khô.
Phép trị
Thanh Can, tả hỏa, nhuận tràng.
Phương thang
Có thể căn cứ mức độ sử dụng Ma tử nhân hoàn gia Long đởm thảo hoặc Sơn chi tử.
Đương quy long hội hoàn có tác dụng tả Can hỏa mạnh, chỉ thích hợp với thực hỏa rõ và không nên dùng kéo dài.
Châm cứu
Can-2 Hành gian: Tả Can hỏa.
Can-3 Thái xung: Sơ Can, điều khí.
Đại trường-4 Hợp cốc và Đại trường-11 Khúc trì: Thanh nhiệt.
Tam tiêu-6 Chi câu: Thông điều khí cơ, hỗ trợ đại tiện.
Tỳ-6 Tam âm giao: Điều Can Tỳ Thận, dưỡng âm.
Tỳ-15 Đại hoành: Điều Đại trường.
Vị-44 Nội đình: Thanh Vị nhiệt.
Thể Dương minh phủ thực trong bệnh có sốt
Triệu chứng
Táo bón cấp tính, phân rất khô, bụng đầy cứng và đau, sốt cao, mặt đỏ, khát nhiều, ra mồ hôi, miệng khô; lưỡi đỏ, rêu vàng dày và khô; mạch trầm, thực, sác.
Chứng cơ
Tà nhiệt vào sâu Dương minh phủ, kết với phân trong Đại trường, tạo thành phủ thực. Nhiệt mạnh làm tân dịch nhanh chóng hao tổn.
Phép trị
Tả nhiệt, thông phủ, công hạ.
Phương thang
Căn cứ mức độ có thể sử dụng Đại thừa khí thang, Tiểu thừa khí thang hoặc Điều vị thừa khí thang.
Đây là các phương công hạ mạnh, chỉ dùng khi có đầy đủ dấu hiệu Dương minh phủ thực. Người cao tuổi, phụ nữ có thai, người suy nhược, mất nước hoặc đau bụng chưa rõ nguyên nhân không được tự sử dụng.
Châm cứu
Tam tiêu-6 Chi câu.
Tỳ-15 Đại hoành.
Đại trường-11 Khúc trì.
Đại trường-4 Hợp cốc.
Vị-44 Nội đình.
Vị-28 Thủy đạo.
Vị-29 Quy lai.
Trường hợp đau bụng dữ dội, nôn, bụng cứng hoặc không trung tiện được cần ưu tiên đánh giá cấp cứu, không chỉ điều trị bằng châm cứu.
Thể Can khí uất trệ
Triệu chứng
Muốn đại tiện nhưng khó đi; phân thành viên nhỏ, thường không quá khô; bụng trướng, đau tức, ợ hơi, trung tiện nhiều; triệu chứng tăng khi căng thẳng; dễ cáu hoặc tinh thần uất ức; lưỡi bình thường hoặc hai bên hơi đỏ; mạch huyền.
Chứng cơ
Can khí uất, khí cơ Hạ tiêu không thông, Đại trường mất sự truyền tống.
Phép trị
Sơ Can, lý khí, giáng nghịch, thông tiện.
Phương thang
Lục ma thang gia giảm.
Có thể phối hợp Ma tử nhân hoàn với Việt cúc hoàn khi vừa có khí trệ, phân khô, vừa có biểu hiện tinh thần uất ức.
Nếu khí uất hóa nhiệt, có thể gia Hoàng cầm, Sơn chi tử.
Châm cứu
Can-3 Thái xung: Sơ Can, hành khí.
Đởm-34 Dương lăng tuyền: Sơ tiết Can Đởm, điều khí.
Nhâm-6 Khí hải: Điều khí Hạ tiêu.
Nhâm-10 Hạ quản: Hòa Vị, giáng khí.
Tam tiêu-6 Chi câu: Điều khí Tam tiêu, thông tiện.
Tỳ-15 Đại hoành: Điều lý Đại trường.
Thể Tỳ khí hoặc Phế khí hư
Triệu chứng
Có cảm giác muốn đại tiện nhưng phải rặn nhiều; phân không quá khô, có thể dài và nhỏ; sau đại tiện mệt lả; sắc mặt nhợt, người mệt, ăn kém, tiếng nói nhỏ hoặc hơi thở ngắn; lưỡi nhạt; mạch hư.
Chứng cơ
Tỳ khí hư không vận chuyển được phân hoặc Phế khí hư không giáng xuống Đại trường, khiến ruột thiếu sức đẩy.
Phép trị
Bổ khí, kiện Tỳ, ích Phế, nhuận tràng.
Phương thang
Hoàng kỳ thang gia giảm.
Nếu khí hư rõ, có thể gia Đảng sâm, Bạch truật và Sơn dược.
Nếu kèm sa trực tràng, bụng dưới sa nặng, có thể dùng Bổ trung ích khí thang gia giảm.
Không nên dùng thuốc công hạ mạnh vì dễ làm khí càng hư.
Châm cứu
Vị-36 Túc tam lý: Kiện Tỳ, ích khí, điều hòa trường vị.
Tỳ-6 Tam âm giao: Kiện Tỳ, dưỡng huyết.
Nhâm-6 Khí hải: Bổ khí Hạ tiêu.
Bàng quang-20 Tỳ du: Kiện Tỳ.
Bàng quang-21 Vị du: Điều Vị khí.
Bàng quang-25 Đại trường du: Điều Đại trường.
Tỳ-15 Đại hoành: Thúc đẩy đại tiện.
Phế-7 Liệt khuyết và Bàng quang-13 Phế du: Dùng khi Phế khí hư rõ.
Thể Thận dương hư
Triệu chứng
Đại tiện khó, phải rặn nhiều; phân không khô; sau đại tiện mệt và có thể ra mồ hôi; sợ lạnh, chân tay lạnh, lưng gối mỏi, tiểu nhiều và trong; tinh thần suy giảm; lưỡi nhạt, ướt hoặc sưng; mạch trầm nhược.
Chứng cơ
Thận dương suy, khí hóa Hạ tiêu không đủ sức vận hành Đại trường. Nội Hàn làm khí cơ co rút và trì trệ.
Phép trị
Ôn bổ Thận dương, nhuận tràng, thông tiện.
Phương thang
Tế xuyên tiễn gia giảm.
Phương thường gồm Đương quy, Nhục thung dung, Hoài ngưu tất, Trạch tả, Chỉ xác và Thăng ma.
Nhục thung dung ôn bổ Thận dương mà vẫn nhuận tràng.
Hoài ngưu tất dẫn thuốc đi xuống.
Chỉ xác hành khí.
Thăng ma nâng thanh dương; khi thanh dương thăng, trọc âm dễ giáng xuống.
Nếu phân khô hơn, có thể gia Hỏa ma nhân.
Nếu Thận dương hư rõ, có thể gia Hồ đào nhục hoặc các vị ôn bổ thích hợp.
Châm cứu
Bàng quang-23 Thận du.
Thận-3 Thái khê.
Thận-7 Phục lưu.
Nhâm-4 Quan nguyên.
Vị-36 Túc tam lý.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Bàng quang-25 Đại trường du.
Có thể phối hợp cứu khi có dương hư và Hàn rõ.
Thể Huyết hư
Triệu chứng
Phân khô, đại tiện khó; sắc mặt nhợt hoặc kém tươi; chóng mặt, nhìn mờ, tê bì chân tay; phụ nữ có thể kinh nguyệt ít; lưỡi nhạt hoặc bong rêu từng mảng; mạch tế hoặc sáp.
Chứng cơ
Huyết hư làm Đại trường mất sự nhu dưỡng, phân khô và khó đi.
Phép trị
Dưỡng huyết, nhuận táo, thông tiện.
Phương thang
Nhuận trường hoàn gia giảm.
Phương có thể dùng Đương quy, Thục địa hoàng, Hỏa ma nhân, Đào nhân, Chế thủ ô, Úc lý nhân và Chỉ xác.
Nếu Huyết hư rõ, có thể phối hợp ý của Tứ vật thang.
Nếu phân rất khô, có thể gia các loại nhân có dầu như Bá tử nhân, Tùng tử nhân hoặc Úc lý nhân.
Táo bón sau sinh thường liên quan đến Huyết hư, cần thiên về dưỡng huyết và nhuận táo, không nên công hạ mạnh.
Châm cứu
Vị-36 Túc tam lý.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Nhâm-4 Quan nguyên.
Bàng quang-17 Cách du.
Bàng quang-20 Tỳ du.
Bàng quang-23 Thận du.
Bàng quang-25 Đại trường du.
Tỳ-15 Đại hoành.
Dùng phép bổ, không nên tả mạnh.
Thể Âm hư
Triệu chứng
Phân khô, khó đi; miệng và họng khô, nhất là chiều tối; khát nhưng chỉ muốn uống từng ngụm nhỏ; lưng gối mỏi, chóng mặt, ù tai, nóng âm ỉ hoặc ra mồ hôi trộm; lưỡi ít rêu, không rêu hoặc có vết nứt; mạch tế sác hoặc phù hư.
Chứng cơ
Vị âm hoặc Thận âm bất túc, tân dịch không đủ làm nhuận Đại trường.
Phép trị
Dưỡng âm, sinh tân, bổ Thận, nhuận tràng.
Phương thang
Tăng dịch thang gia giảm.
Phương gồm Huyền sâm, Mạch môn đông và Sinh địa hoàng, có tác dụng tăng tân dịch, nhuận táo.
Để tăng tác dụng thông tiện, có thể gia Hỏa ma nhân, Úc lý nhân hoặc Bá tử nhân.
Nếu Huyết hư kèm theo, có thể phối hợp Đương quy và Thục địa hoàng.
Châm cứu
Vị-36 Túc tam lý.
Tỳ-6 Tam âm giao.
Nhâm-4 Quan nguyên.
Thận-3 Thái khê.
Thận-6 Chiếu hải.
Bàng quang-23 Thận du.
Bàng quang-25 Đại trường du.
Tỳ-15 Đại hoành.
Dùng phép bổ, không dùng cứu khi Âm hư hoặc Hư nhiệt rõ.
Thể Tỳ Thận dương hư kèm Hàn
Triệu chứng
Nhiều ngày không đại tiện; phân không khô nhưng rất khó đi; bụng đau co thắt, thích ấm và xoa bóp; mặt nhợt, chân tay lạnh, tiểu trong; lưỡi nhạt, ướt, rêu trắng dày ở gốc; mạch trầm trì. Nếu Hàn thực, mạch có thể trầm, thực, khẩn; nếu dương hư, mạch trầm trì nhược.
Chứng cơ
Tỳ Thận dương hư làm khí hóa suy yếu, nội Hàn sinh ra, ngăn trở sự vận hành của khí trong Đại trường.
Phép trị
Ôn dương, tán Hàn, hành khí, thông tiện.
Phương thang
Nếu thuộc Hàn thực, có thể căn cứ chứng trạng sử dụng Đại hoàng phụ tử thang.
Nếu Hàn kết trên nền Tỳ dương hư, có thể dùng Ôn tỳ thang.
Nếu Thận dương hư là chính, có thể dùng Tế xuyên tiễn gia Nhục quế.
Đại hoàng phụ tử thang và Ôn tỳ thang đều có tính công hạ, ôn tán tương đối mạnh, không được tự dùng khi chưa biện chứng rõ.
Châm cứu
Nhâm-6 Khí hải.
Nhâm-8 Thần khuyết: Chỉ dùng cứu gián tiếp, không châm.
Thận-18 Thạch quan.
Bàng quang-23 Thận du.
Bàng quang-25 Đại trường du.
Bàng quang-26 Quan nguyên du.
Nếu Hàn thực, có thể dùng phép tả kết hợp cứu.
Nếu dương hư, dùng phép bổ và cứu.
Điều dưỡng và phòng ngừa
Điều chỉnh chế độ ăn
Nên tăng rau, trái cây, các loại đậu và ngũ cốc nguyên hạt một cách từ từ. Chất xơ cần đi kèm với lượng nước thích hợp; nếu tăng chất xơ mà uống quá ít nước, táo bón có thể nặng hơn.
Một số thực phẩm có tác dụng nhuận tràng tương đối nhẹ gồm:
Vừng đen.
Hồ đào.
Mật ong.
Hỏa ma nhân dưới dạng thực phẩm hoặc phương thuốc thích hợp.
Khoai lang.
Yến mạch.
Mận khô.
Kiwi.
Không nên phụ thuộc vào một loại thức ăn hoặc uống quá nhiều dầu để thông tiện.
Uống đủ nước
Thiếu nước làm phân khô. Người khỏe mạnh nên uống nước đều trong ngày, nhưng lượng cụ thể cần căn cứ thời tiết, mức vận động và bệnh tim, thận nếu có.
Tập thói quen đại tiện
Nên đi đại tiện khi có nhu cầu, không nhịn kéo dài. Có thể tạo thói quen ngồi đại tiện vào một thời điểm tương đối cố định, thường sau bữa sáng.
Không nên ngồi trong nhà vệ sinh quá lâu hoặc dùng điện thoại trong lúc đại tiện.
Tăng vận động
Đi bộ, vận động bụng nhẹ và tập cơ sàn chậu giúp thúc đẩy nhu động ruột. Người cao tuổi hoặc người nằm lâu nên vận động trong khả năng cho phép.
Điều hòa tinh thần
Táo bón do Can khí uất thường liên quan chặt chẽ đến căng thẳng. Ngủ đủ, giảm lo nghĩ và duy trì sinh hoạt điều độ có thể hỗ trợ khí cơ lưu thông.
Thận trọng với thuốc nhuận tràng kích thích
Các thuốc có Phan tả diệp hoặc những chất kích thích nhu động mạnh có thể giúp đi ngoài nhanh, nhưng dùng lâu dễ gây lệ thuộc, đau quặn và rối loạn chức năng ruột.
Trong Trung y, các vị công hạ như Đại hoàng chỉ thích hợp với một số Thực chứng. Không nên dùng kéo dài cho táo bón do khí hư, dương hư, Huyết hư hoặc Âm hư.
Tiên lượng
Táo bón mới phát do chế độ ăn, ít vận động hoặc sinh hoạt thất thường thường có thể cải thiện nhanh khi điều chỉnh nguyên nhân.
Táo bón mạn tính kéo dài nhiều năm, đặc biệt ở người đã phụ thuộc thuốc nhuận tràng, thường cần thời gian dài hơn. Điều trị phải vừa điều chỉnh cơ chế bệnh, vừa phục hồi thói quen đại tiện và giảm dần thuốc kích thích dưới sự hướng dẫn phù hợp.
Không nên đánh giá hiệu quả chỉ dựa vào việc có đại tiện ngay sau một liều thuốc. Mục tiêu lâu dài là:
Phân mềm nhưng thành khuôn.
Đại tiện tương đối đều.
Không phải rặn quá nhiều.
Không đau bụng hoặc lệ thuộc thuốc xổ.
Cảm giác đại tiện hết.
Phân biệt theo y học hiện đại
Táo bón có thể liên quan đến:
Chế độ ăn thiếu chất xơ.
Uống không đủ nước.
Ít vận động.
Thuốc giảm đau opioid.
Thuốc kháng cholinergic.
Thuốc sắt.
Một số thuốc chống trầm cảm.
Suy giáp.
Đái tháo đường.
Tăng calci máu.
Bệnh Parkinson.
Tổn thương tủy sống.
Rối loạn cơ sàn chậu.
Sa trực tràng hoặc sa tầng sinh môn.
Hẹp đại trực tràng.
Ung thư đại trực tràng.
Táo bón do rối loạn tống xuất
Một số người có phân không quá khô nhưng phải rặn nhiều, đại tiện kéo dài, dùng tay hỗ trợ hoặc luôn cảm thấy chưa hết. Tình trạng này có thể liên quan đến rối loạn phối hợp cơ sàn chậu.
Các trường hợp này không nhất thiết đáp ứng tốt với thuốc nhuận tràng. Người bệnh có thể cần đánh giá chức năng hậu môn – trực tràng và tập phản hồi sinh học.
Ứ phân
Ở người cao tuổi, người nằm lâu hoặc người mắc bệnh thần kinh, phân có thể đóng thành khối lớn trong trực tràng. Phân lỏng từ phía trên chảy quanh khối phân, gây rỉ phân và dễ bị nhầm với tiêu chảy.
Tình trạng này cần được đánh giá và xử lý đúng, không nên tự dùng thuốc cầm tiêu chảy.
Tắc ruột
Tắc ruột là tình trạng thức ăn, dịch và hơi không thể đi qua ruột bình thường.
Nguyên nhân có thể gồm:
Dính ruột.
Thoát vị nghẹt.
Xoắn ruột.
Lồng ruột.
Khối u.
Liệt ruột.
Tắc ruột thường có đau bụng, chướng bụng, nôn, bí trung tiện và bí đại tiện. Đây là tình trạng cần cấp cứu, không được tự uống thuốc nhuận tràng hoặc dùng phương công hạ.
Dấu hiệu cần đi khám
Táo bón mới xuất hiện và kéo dài.
Thay đổi thói quen đại tiện rõ rệt so với trước.
Phân có máu hoặc phân đen.
Sụt cân không rõ nguyên nhân.
Thiếu máu.
Đau bụng kéo dài hoặc đau tăng dần.
Bụng chướng, nôn, không trung tiện được.
Phân liên tục nhỏ bất thường.
Táo bón xen kẽ tiêu chảy.
Sốt hoặc suy nhược rõ.
Người trên 50 tuổi mới xuất hiện táo bón.
Có tiền sử gia đình ung thư đại trực tràng.
Nói tóm lại
Theo Trung y, táo bón không chỉ do phân khô. Bệnh có thể phát sinh vì Nhiệt làm hao tân dịch, Hàn ngăn trở khí cơ, Can khí uất làm Đại trường mất truyền tống, khí hư hoặc dương hư làm thiếu sức đẩy, Huyết hư hoặc Âm hư làm ruột mất sự nhu dưỡng.
Biện chứng cần căn cứ vào hình dạng và độ khô của phân, sức rặn, đau bụng, khát nước, cảm giác nóng lạnh, lưỡi, mạch và thể trạng toàn thân. Chỉ khi xác định đúng cơ chế mới có thể lựa chọn phép thanh nhiệt, hành khí, bổ khí, ôn dương, dưỡng huyết hoặc dưỡng âm phù hợp.
Điều trị lâu dài cần phối hợp phương dược, châm cứu, chế độ ăn, vận động và thói quen đại tiện. Các phương công hạ mạnh chỉ thích hợp với một số Thực chứng và không nên tự dùng cho táo bón mạn tính.
Trường Xuân biên soạn