Suyễn 喘 là tình trạng hơi thở gấp gáp, thúc bách, khó điều hòa, nặng hơn có thể há miệng, nhấc vai, co kéo lồng ngực và không thể nằm yên. Suyễn có thể xuất hiện trong quá trình của nhiều bệnh cấp tính và mạn tính. Khi hơi thở gấp trở thành biểu hiện chính trong một giai đoạn của bệnh thì được gọi là chứng suyễn.
Theo Trung y, chứng suyễn chủ yếu liên quan đến Phế và Thận, đồng thời có quan hệ mật thiết với Tỳ, Can và Tâm. Thực suyễn phần nhiều do ngoại tà, đàm trọc, thủy ẩm, nhiệt tà, khí uất hoặc thực tích làm Phế khí mất tuyên giáng; hư suyễn phần nhiều do Phế khí suy, Thận không nạp khí hoặc Tỳ Phế cùng hư. Bệnh lâu ngày thường xuất hiện tình trạng hư thực lẫn lộn, trên thực dưới hư.
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NHẬN THỨC VỀ CHỨNG SUYỄN
Hoàng đế Nội kinh là tài liệu sớm nhất ghi chép về tên gọi, triệu chứng, nguyên nhân và bệnh cơ của chứng suyễn. Nội kinh đã mô tả những biểu hiện như thở dốc, cánh mũi phập phồng, nhấc vai để thở, đồng thời nhận thức được chứng suyễn chủ yếu liên quan đến Phế và Thận.
Phế chủ khí, coi việc hô hấp. Khi Phế khí bị bệnh, người bệnh có thể ho, khí nghịch, thở gấp, đau vai lưng và ra mồ hôi. Thận là gốc của khí, chủ nhiếp nạp. Khi Thận khí suy, người bệnh có thể thở gấp, phù chân, bụng trướng, ho và cơ thể nặng nề.
Trong Thương hàn luận, Trương Trọng Cảnh đã ghi lại nhiều phương pháp điều trị suyễn như dùng Ma hoàng thang trong phong hàn thúc Phế, Tiểu thanh long thang trong ngoại hàn nội ẩm, Quế chi gia Hậu phác Hạnh tử thang khi biểu chưa giải mà có suyễn, Ma hạnh thạch cam thang khi dư nhiệt ép Phế.
Kim quỹ yếu lược tiếp tục luận bàn chứng suyễn trong nhiều bệnh như Phế nuy, Phế ung, hư lao, hung tý, đàm ẩm, thủy khí và các bệnh phụ nữ. Những kinh nghiệm biện chứng, lập pháp và dùng phương của Trọng Cảnh trở thành nền tảng quan trọng cho việc điều trị chứng suyễn về sau.
Đến thời Tùy – Đường, các y gia đã phân biệt suyễn hư và suyễn thực. Suyễn thực do tà phạm Phế, Phế trướng, khí nghịch; suyễn hư do khí huyết hoặc âm dương suy tổn, Phế khí không đủ sức điều hòa hô hấp.
Thời Tống, việc phân loại chứng suyễn trở nên tương đối rõ, gồm Phế hư, Phế thực, Phế trướng, tà ở biểu, tà ở lý, thủy khí, hàn thấp, khí uất và Thận hư không nạp khí. Các y gia nhấn mạnh phải truy tìm căn nguyên, phân rõ hư thực, hàn nhiệt và điều trị bệnh gốc, không nên chỉ thấy suyễn mà chuyên dùng thuốc bình suyễn.
Đến thời Kim – Nguyên, các y gia tiếp tục phát triển học thuyết về hàn, nhiệt, đàm, hỏa và hư suyễn. Chu Đan Khê cho rằng thực suyễn liên quan đến đàm, hỏa và thủy khí, còn hư suyễn chủ yếu do Thận hư hoặc Phế hư. Thực suyễn nên tả Phế, hư suyễn nên bổ Thận.
Đến thời Minh, Trương Cảnh Nhạc đã khái quát chứng suyễn thành hai loại lớn:
Thực suyễn là có tà, tà khí thực, hơi thở dài và dư, ngực trướng, khí thô, tiếng lớn, thở ra mới thấy dễ chịu.
Hư suyễn là nguyên khí hư, hơi thở ngắn và không tiếp nối, khí yếu, tiếng nhỏ, vận động thì bệnh nặng, thở dài một hơi mới tạm thấy dễ chịu.
Đời Thanh, các y gia tiếp tục bổ sung rằng thực suyễn tuy chủ yếu trị Phế nhưng cần lưu ý Vị và đàm; hư suyễn tuy chủ yếu trị Thận nhưng cũng cần kiêm bổ Phế. Muốn giáng Phế khí thì không thể bỏ qua việc trị đàm.
II. NGUYÊN NHÂN VÀ BỆNH CƠ
Phong, hàn, thử, thấp, táo, nhiệt có thể từ da lông hoặc miệng mũi xâm nhập vào Phế. Phế bên ngoài hợp với bì mao, khai khiếu ra mũi. Khi ngoại tà làm bế tắc Phế vệ, Phế khí không thể tuyên phát ra ngoài và túc giáng xuống dưới, khí nghịch lên mà sinh suyễn.
Ngoại tà gây suyễn thường không ngoài hai phương diện chủ yếu là phong hàn và táo nhiệt.
Người thể chất dương hư, vệ biểu không vững dễ bị phong hàn xâm nhập. Nếu Tỳ vận hóa kém, bên trong lại có thủy ẩm hoặc hàn đàm, ngoại hàn và nội ẩm kết hợp sẽ làm suyễn phát tác.
Người vốn có đàm nhiệt, hoặc cảm phong nhiệt, táo nhiệt, hoặc phong hàn nhập lý hóa nhiệt, có thể làm Phế Vị hỏa vượng, tân dịch bị nung đốt thành đàm, khí đạo bế tắc và sinh suyễn.
Đàm và thủy ẩm đều là sản vật bệnh lý của sự vận hành thủy dịch thất thường. Đàm tương đối đặc, ẩm tương đối loãng, nhưng hai loại có thể chuyển hóa qua lại.
Thủy ẩm xung phạm Phế làm Phế khí nghịch lên. Thủy ẩm lưu lại lâu ngày, gặp dương khí nung nấu hoặc hư hỏa bốc lên có thể chuyển thành đàm nhiệt. Đàm nhiệt kết dính trong Phế, làm bế tắc Phế lạc, khiến công năng tuyên giáng mất điều hòa.
Lo nghĩ, buồn phiền, kinh sợ, giận dữ hoặc xúc động quá mức có thể làm tạng khí bất hòa, khí huyết mất điều độ, khí bị bức bách trong Phế mà không thể tuyên thông.
Bệnh do tình chí phần nhiều khởi từ Can. Can khí uất có thể khắc Tỳ, làm vận hóa suy giảm và sinh đàm; Can uất hóa hỏa có thể nung đốt tân dịch thành đàm, đồng thời phản khắc Phế kim, khiến khí nghịch và suyễn.
Khí trệ lâu ngày còn có thể làm huyết ứ, đàm và ứ cùng ngăn trở Phế khí, nhất là khi vận động thì thở suyễn tăng lên.
Ăn quá nhiều thức ăn béo ngọt, tinh chế, lạnh sống hoặc khó tiêu làm tổn thương Tỳ Vị. Thức ăn đình trệ không hóa vừa sinh đàm trọc, vừa có thể hóa nhiệt, làm ảnh hưởng đến sự thăng giáng của khí cơ và gây suyễn.
Lao lực kéo dài, ra nhiều mồ hôi, ho lâu không khỏi, đàm nhiệt lưu lại, thường xuyên cảm ngoại tà hoặc bệnh lâu ngày đều có thể làm Phế khí và Phế âm hao tổn.
Phế khí hư thì khí mất nơi chủ trì, hơi thở ngắn và suyễn gấp.
Thận chủ nạp khí, là gốc của khí. Thận hư thì khí không thể quy căn, người bệnh thở ra nhiều, hít vào ít, vận động thì suyễn tăng.
Thận dương hư còn khiến thủy dịch không được khí hóa, thủy ẩm dâng lên Phế và làm suyễn nặng thêm.
III. KHÁI QUÁT BỆNH CƠ
Thực suyễn thuộc tà khí thực, trọng điểm bệnh cơ là tà khí ứ ở Phế, làm Phế mất tuyên phát và túc giáng. Ngoại tà thường là phong hàn, phong nhiệt hoặc táo nhiệt; nội tà thường là đàm trọc, thủy ẩm, thực tích hoặc khí uất.
Hư suyễn thuộc chính khí hư, trọng điểm bệnh cơ là Phế khí suy và Thận không nạp khí. Bệnh lâu ngày còn có thể liên lụy đến Tỳ, Tâm và toàn thân khí huyết.
IV. CHẨN ĐOÁN VÀ PHÂN BIỆT
Chẩn đoán chứng suyễn chủ yếu căn cứ vào hơi thở gấp gáp và thúc bách.
Thực suyễn: Bệnh phát tương đối đột ngột, tiếng thở lớn, hơi thở thô, ngực đầy, có thể há miệng, nhấc vai, mạch có lực.
Hư suyễn: Bệnh thế từ từ hoặc kéo dài, hơi thở yếu và nông, thở ra nhiều hít vào ít, khí không tiếp nối, vận động thì nặng, sắc mặt trắng hoặc xám, mạch yếu.
Chứng suyễn cần phân biệt với hen và đoản khí.
Hen bệnh có tính phát tác tái diễn, trong họng có tiếng đàm rít rõ. Hen tất kèm suyễn nhưng suyễn chưa chắc có hen.
Đoản khí là hơi thở ngắn, cảm giác không tiếp nối, nhưng thường không có tiếng đàm, không há miệng nhấc vai và không biểu hiện thúc bách như suyễn. Tuy vậy, đoản khí có thể là dấu hiệu báo trước của hư suyễn.
V. BIỆN HƯ THỰC
Triệu chứng: Bệnh phát đột ngột, hơi thở dài và dư, ngực đầy tức, tiếng thở lớn, khí thô, thở ra mới thấy dễ chịu, lưỡi đỏ hoặc rêu dày, mạch phù đại, hoạt sác hoặc có lực.
Phép trị: Khu tà làm chính; tà ở biểu thì giải biểu, tà ở lý thì thanh lý; đàm hàn thì ôn hóa tuyên Phế, đàm nhiệt thì thanh hóa túc Phế, đàm thấp thì táo thấp lý khí.
Triệu chứng: Bệnh kéo dài, hơi thở ngắn, khí không tiếp nối, tiếng nhỏ, thở ra nhiều hít vào ít, vận động thì suyễn tăng, sắc mặt trắng hoặc xám, mồ hôi lạnh, cơ thể gầy hoặc phù, lưỡi nhạt hoặc đỏ ít rêu, mạch tế nhược hoặc phù đại vô căn.
Phép trị: Phù chính bồi bổ; tùy chứng mà bổ Phế, kiện Tỳ hoặc bổ Thận; dương hư thì ôn bổ, âm hư thì tư dưỡng.
Triệu chứng: Suyễn rất nặng, khí không nối tiếp, há miệng nhấc vai, không nằm được, tứ chi giá lạnh, sắc mặt trắng bóng hoặc tím tái, mồ hôi ra như châu hoặc như dầu, sáu mạch như có như không.
Đây là tình trạng nguy hiểm, cần cấp cứu ngay.
VI. BIỆN HÀN NHIỆT
Hàn suyễn: Đàm loãng như nước hoặc trắng có bọt, mặt xám xanh, không khát hoặc khát thích uống nóng, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch phù khẩn, huyền trì.
Nhiệt suyễn: Đàm vàng đặc dính hoặc đàm trắng nhưng dính khó khạc, mặt đỏ, miệng khát thích uống lạnh, lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn hoặc vàng khô, mạch hoạt sác.
VII. THỰC SUYỄN
Triệu chứng
Ho, suyễn, ngực tức, đàm trắng loãng, không khát; lúc mới phát thường kèm sợ lạnh, sốt, không ra mồ hôi, đau đầu, ngứa họng, ngứa mũi, lưỡi không đỏ, rêu trắng mỏng, mạch phù khẩn.
Bệnh cơ
Phong hàn phạm biểu, Phế khí bị bó buộc, tuyên phát và túc giáng không điều hòa. Tân dịch đình trệ thành đàm, vì vậy xuất hiện ho, suyễn và đàm trắng loãng.
Phép trị
Tân ôn giải biểu, tuyên Phế bình suyễn.
Phương thang
Ma hoàng thang
Thành phần: Ma hoàng, Quế chi, Hạnh nhân, Chích cam thảo.
Công dụng: Phát hãn giải biểu, tuyên Phế bình suyễn.
Gia giảm: Suyễn nặng gia Tô tử, Tiền hồ; đàm nhiều gia Bán hạ, Quất hồng, Chế Nam tinh hoặc Bạch giới tử; ngực đầy tức gia Chỉ xác, Cát cánh, Tô ngạnh.
Tam ảo thang
Thành phần: Ma hoàng, Hạnh nhân, Cam thảo.
Công dụng: Tuyên Phế tán hàn, bình suyễn, thích hợp khi biểu chứng không quá rõ.
Quế chi gia Hậu phác Hạnh tử thang
Thành phần: Quế chi, Bạch thược, Sinh khương, Đại táo, Chích cam thảo, Hậu phác, Hạnh nhân.
Công dụng: Điều hòa doanh vệ, giáng khí bình suyễn.
Thích hợp khi đã ra mồ hôi mà suyễn chưa yên, kèm sợ gió và mạch phù hoãn.
Sâm tô ẩm
Thành phần: Nhân sâm, Tử tô diệp, Cát căn, Tiền hồ, Bán hạ, Phục linh, Mộc hương, Chỉ xác, Cát cánh, Trần bì, Cam thảo, Sinh khương, Đại táo.
Công dụng: Ích khí giải biểu, lý khí hóa đàm.
Thích hợp hơn với người cao tuổi hoặc thể hư, không chịu được thuốc phát tán mạnh.
Triệu chứng
Suyễn, ho, đàm nhiều loãng như nước, sợ lạnh, sốt không mồ hôi, thân và tứ chi lạnh, lưng lạnh, sắc mặt xám tối, không khát hoặc khát nhưng không muốn uống, lưỡi rêu trắng trơn, mạch huyền khẩn.
Bệnh cơ
Bên trong có thủy ẩm do Tỳ Thận dương hư, bên ngoài lại cảm phong hàn. Ngoại hàn dẫn động nội ẩm, làm khí đạo bế tắc và Phế khí nghịch lên.
Phép trị
Ôn Phế tán hàn, giải biểu hóa ẩm.
Phương thang
Tiểu thanh long thang
Thành phần: Ma hoàng, Quế chi, Can khương, Tế tân, Bán hạ, Ngũ vị tử, Bạch thược, Chích cam thảo.
Công dụng: Giải biểu tán hàn, ôn Phế hóa ẩm.
Gia giảm: Ho suyễn nặng gia Hạnh nhân, Xạ can, Tiền hồ, Tử uyển; kèm phiền táo, mặt đỏ, ho sặc và nội nhiệt gia Sinh thạch cao, Lô căn.
Đình lịch Đại táo tả Phế thang
Thành phần: Đình lịch tử, Đại táo.
Công dụng: Tả Phế trục ẩm, bình suyễn.
Dùng khi đàm ẩm bế tắc, ho suyễn dữ dội, ngực đầy và không thể nằm.
Linh quế Truật cam thang
Thành phần: Phục linh, Quế chi, Bạch truật, Chích cam thảo.
Công dụng: Ôn dương hóa ẩm, kiện Tỳ lợi thủy.
Lục quân tử thang
Thành phần: Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo, Bán hạ, Trần bì.
Công dụng: Kiện Tỳ ích khí, táo thấp hóa đàm.
Kim Quỹ Thận Khí hoàn
Thành phần: Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược, Phục linh, Trạch tả, Đan bì, Quế chi, Phụ tử.
Công dụng: Ôn bổ Thận dương, trợ khí hóa, nạp khí.
Chân vũ thang
Thành phần: Phụ tử, Phục linh, Bạch truật, Bạch thược, Sinh khương.
Công dụng: Ôn dương lợi thủy.
Tứ nghịch thang
Thành phần: Phụ tử, Can khương, Chích cam thảo.
Khi dương hư thủy trào, có thể gia Nhân sâm, Nhục quế, Phục linh và Ma hoàng theo biện chứng.
Triệu chứng
Suyễn, ho, đàm nhiều dính nhớt, khó khạc, ngực đầy tức, buồn nôn, lưỡi rêu trắng nhờn, mạch hoạt.
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, thấp đàm sinh ra và ứ trệ ở Phế. Phế khí không tuyên giáng nên ho, suyễn, ngực tức và buồn nôn.
Phép trị
Khu đàm giáng nghịch, tuyên Phế bình suyễn.
Phương thang
Tam tử dưỡng thân thang
Thành phần: Tô tử, Bạch giới tử, Lai phục tử.
Công dụng: Giáng khí hóa đàm, tiêu thực bình suyễn.
Nhị trần thang
Thành phần: Bán hạ, Trần bì, Phục linh, Cam thảo; thường dùng thêm Sinh khương và Ô mai.
Công dụng: Táo thấp hóa đàm, lý khí hòa trung.
Bình vị tán
Thành phần: Thương truật, Hậu phác, Trần bì, Chích cam thảo, Sinh khương, Đại táo.
Công dụng: Táo thấp vận Tỳ, hành khí hòa Vị.
Tô tử giáng khí thang
Thành phần: Tô tử, Bán hạ, Tiền hồ, Hậu phác, Trần bì hoặc Quất hồng, Đương quy, Nhục quế, Chích cam thảo, Sinh khương, Đại táo.
Công dụng: Giáng khí hóa đàm, ôn Thận nạp khí.
Nếu kiêm nhiệt có thể gia Hoàng cầm, Qua lâu nhân, Đởm nam tinh, Hải cáp xác và Tang bạch bì.
Triệu chứng
Sốt, sợ gió, ra mồ hôi, khát nước, ho suyễn, hơi thở thô, đàm vàng đặc, đầu lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng hoặc trắng mỏng mà khô, mạch phù sác.
Bệnh cơ
Phong nhiệt phạm Phế vệ, làm Phế khí bế tắc. Nhiệt nung đốt tân dịch thành đàm, vì vậy đàm vàng đặc, miệng khát và lưỡi đỏ.
Phép trị
Khu phong thanh nhiệt, tuyên Phế bình suyễn.
Phương thang
Tang cúc ẩm gia vị
Thành phần cơ bản: Tang diệp, Cúc hoa, Hạnh nhân, Liên kiều, Bạc hà, Khổ cát cánh, Sinh cam thảo, Vi căn.
Gia thêm theo tài liệu: Kim ngân hoa, Liên kiều, Bản lam căn, Tang bạch bì, Hoàng cầm, Ngư tinh thảo, Xạ can, Qua lâu.
Công dụng: Sơ phong thanh nhiệt, tuyên Phế chỉ khái, bình suyễn.
Nếu Phế nhiệt nặng gia Sinh thạch cao, Tri mẫu; suyễn gấp chuyển dùng Ma hạnh thạch cam thang gia vị.
Triệu chứng
Sốt, sợ gió, ho suyễn thở gấp, đàm ít khó khạc, ngực đau, đàm lẫn máu, miệng khô, mũi khô, đại tiện táo, đầu lưỡi đỏ, rêu mỏng vàng khô, mạch phù sác.
Bệnh cơ
Táo nhiệt thương Phế, làm Phế mất thanh túc và tân dịch hao tổn. Đàm ít khó khạc, lạc mạch bị tổn thương nên đàm có máu.
Phép trị
Thanh kim nhuận táo, tuyên Phế bình suyễn.
Phương thang
Tang hạnh thang
Thành phần: Tang diệp, Hạnh nhân, Sa sâm, Chiết bối mẫu, Đạm đậu xị, Chi tử, Lê bì.
Công dụng: Thanh tuyên ôn táo, nhuận Phế chỉ khái.
Thanh táo cứu Phế thang
Thành phần: Tang diệp, Thạch cao, Nhân sâm, Cam thảo, Hồ ma nhân, A giao, Mạch môn, Hạnh nhân, Tỳ bà diệp.
Công dụng: Thanh táo nhuận Phế, ích khí dưỡng âm.
Tả bạch tán
Thành phần: Tang bạch bì, Địa cốt bì, Chích cam thảo, Canh mễ.
Công dụng: Thanh tả Phế nhiệt, chỉ khái bình suyễn.
Nếu táo nhiệt hóa hỏa có thể phối Trúc lịch, Bối mẫu, Mã đậu linh, Hạnh nhân, Thạch cao, Hàn thủy thạch; táo bón và đàm nhiệt nặng có thể gia Lai phục tử, Đình lịch tử hoặc Đại hoàng theo chỉ định chuyên môn.
Triệu chứng
Suyễn gấp, mặt đỏ, ngực đầy nóng bức, miệng khô, đàm vàng đặc hoặc trắng dính khó khạc, lưỡi đỏ, rêu dày nhờn và khô, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Ngoại tà hóa nhiệt, Phế Vị uất nhiệt, ăn uống béo ngọt sinh nhiệt hoặc thấp đàm hóa nhiệt, làm đàm nhiệt kết dính ở Phế và bế tắc khí đạo.
Phép trị
Thanh nhiệt hóa đàm, tuyên Phế bình suyễn.
Phương thang
Ma hạnh thạch cam thang
Thành phần: Ma hoàng, Hạnh nhân, Thạch cao, Chích cam thảo.
Công dụng: Tuyên Phế thanh nhiệt, bình suyễn.
Gia giảm: Lý nhiệt nặng gia Hoàng cầm, Đại thanh diệp, Bản lam căn, Thất diệp nhất chi hoa; suyễn nặng, đàm nhiều gia Xạ can, Tang bạch bì, Đình lịch tử; táo bón, bụng trướng gia Thảo quyết minh, Qua lâu nhân, Đại hoàng.
Triệu chứng
Sợ lạnh, sốt, không ra mồ hôi hoặc ít mồ hôi, suyễn gấp, bứt rứt, đàm vàng đặc khó khạc, khát nước, đầu lưỡi đỏ, rêu trắng mỏng hơi vàng, mạch phù sác.
Bệnh cơ
Phong hàn ở biểu chưa giải, bên trong đã hóa nhiệt hoặc cơ thể vốn có lý nhiệt lại cảm phong hàn. Biểu bị hàn thúc, lý có nhiệt uất, Phế khí vừa không tuyên phát vừa không túc giáng.
Phép trị
Giải biểu thanh lý, hóa đàm bình suyễn.
Phương thang
Định suyễn thang
Thành phần: Ma hoàng, Bạch quả, Tang bạch bì, Hoàng cầm, Tô tử, Bán hạ, Hạnh nhân, Khoản đông hoa, Cam thảo.
Công dụng: Tuyên Phế thanh nhiệt, hóa đàm bình suyễn.
Đại thanh long thang
Thành phần: Ma hoàng, Quế chi, Hạnh nhân, Thạch cao, Sinh khương, Đại táo, Chích cam thảo.
Công dụng: Phát hãn giải biểu, thanh nhiệt trừ phiền.
Việt tỳ gia Bán hạ thang
Thành phần: Ma hoàng, Thạch cao, Sinh khương, Đại táo, Cam thảo, Bán hạ.
Công dụng: Tuyên Phế thanh nhiệt, giáng nghịch hóa đàm.
Triệu chứng
Suyễn kèm bụng đầy, ợ chua, buồn nôn, thức ăn đình trệ, đại tiện không thông hoặc phân có mùi hôi, rêu lưỡi dày nhờn.
Phép trị
Tiêu thực đạo trệ, hòa giáng Phế Vị, hóa đàm bình suyễn.
Phương thang
Bảo hòa hoàn
Thành phần: Sơn tra, Thần khúc, Lai phục tử, Bán hạ, Trần bì, Phục linh, Liên kiều.
Công dụng: Tiêu thực hòa Vị, hóa đàm.
Đại thừa khí thang
Thành phần: Đại hoàng, Mang tiêu, Hậu phác, Chỉ thực.
Công dụng: Công hạ nhiệt kết, thông phủ.
Chỉ dùng khi đại tiện bế, bụng đầy đau, cự án và thực nhiệt rõ.
Cát căn Cầm liên thang
Thành phần: Cát căn, Hoàng cầm, Hoàng liên, Chích cam thảo.
Có thể gia Tang bạch bì, Qua lâu, Hạnh nhân khi suyễn kèm tiêu chảy, hậu môn nóng rát và lý nhiệt.
Triệu chứng
Suyễn tăng khi lo nghĩ hoặc tức giận, ngực sườn đầy tức, hay thở dài, tinh thần uất ức, có thể kèm đàm và mất ngủ, mạch huyền.
Phép trị
Sơ Can lý khí, hóa đàm bình suyễn.
Phương thang
Tiêu dao tán gia giảm
Thành phần cơ bản: Sài hồ, Đương quy, Bạch thược, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Bạc hà, Sinh khương.
Theo tài liệu có thể bỏ Bạch truật, gia Uất kim, Hương phụ, Xuyên khung, Chi tử, Đan bì.
Tứ ma ẩm
Thành phần thường dùng: Nhân sâm, Ô dược, Trầm hương, Binh lang.
Công dụng: Hành khí giáng nghịch, khoan trung.
VIII. HƯ SUYỄN
Triệu chứng
Suyễn gấp, thở ngắn, mệt mỏi, ho đàm loãng, tự ra mồ hôi, sợ gió, sắc mặt trắng nhợt; có thể kèm mặt đỏ, miệng khô, họng không trơn, mồ hôi trộm, lưỡi đỏ ít rêu nếu Phế âm hư; nếu Tỳ hư thì ăn ít, bụng đầy sau ăn, đại tiện lỏng hoặc vừa ăn xong đã đi, cơ thể gầy, đàm nhiều; mạch tế nhược hoặc tế sác.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, bổ thổ sinh kim; nếu âm hư thì kiêm dưỡng âm.
Phương thang
Bổ trung ích khí thang
Thành phần: Hoàng kỳ, Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Bạch truật, Chích cam thảo, Đương quy, Trần bì, Thăng ma, Sài hồ.
Công dụng: Bổ trung ích khí, thăng dương.
Sinh mạch tán
Thành phần: Nhân sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử.
Công dụng: Ích khí sinh tân, liễm Phế.
Nếu đàm loãng, người lạnh, không khát, có thể bỏ Mạch môn và gia Can khương.
Bách hợp cố kim thang
Thành phần: Sinh địa, Thục địa, Mạch môn, Bách hợp, Đương quy, Bạch thược, Bối mẫu, Sinh cam thảo, Huyền sâm, Cát cánh.
Công dụng: Tư dưỡng Phế Thận, nhuận táo hóa đàm.
Lục quân tử thang
Thành phần: Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo, Bán hạ, Trần bì.
Nếu thấp đàm nội tụ có thể gia Can khương, Tế tân, Ngũ vị tử.
Đương quy bổ huyết thang
Thành phần: Hoàng kỳ, Đương quy.
Công dụng: Bổ khí sinh huyết.
Quy Tỳ thang
Thành phần: Nhân sâm, Hoàng kỳ, Bạch truật, Phục thần, Long nhãn nhục, Toan táo nhân, Đương quy, Viễn chí, Mộc hương, Chích cam thảo, Sinh khương, Đại táo.
Công dụng: Ích khí bổ huyết, kiện Tỳ dưỡng Tâm.
Thập toàn đại bổ thang
Thành phần: Nhân sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo, Thục địa, Đương quy, Bạch thược, Xuyên khung, Hoàng kỳ, Nhục quế.
Công dụng: Ôn bổ khí huyết.
Độc sâm thang
Thành phần: Nhân sâm.
Dùng trong khí hư rất nặng, suyễn muốn tuyệt, nhưng phải được xử trí cấp cứu và theo dõi chuyên môn.
Triệu chứng
Suyễn lâu ngày, thở ra nhiều hít vào ít, vận động nhẹ thì suyễn tăng, hơi thở không liên tục, thần mệt, ra mồ hôi, tay chân lạnh, đau lưng, tiểu đêm nhiều, mặt phù, chân sưng, đàm trắng loãng, lưỡi nhạt, mạch trầm tế vô lực hoặc huyền đại mà hư.
Bệnh cơ
Thận dương suy, không thể nạp khí và khí hóa thủy dịch. Khí không quy căn nên suyễn; thủy không hóa nên đàm loãng và phù.
Phép trị
Ôn Thận nạp khí.
Phương thang
Kim Quỹ Thận Khí hoàn
Thành phần: Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược, Phục linh, Trạch tả, Đan bì, Quế chi, Phụ tử.
Sâm phụ thang
Thành phần: Nhân sâm, Phụ tử.
Có thể phối Long cốt, Mẫu lệ, Quế tâm, Cáp giới, Tử thạch anh, Ngũ vị tử, Mạch môn khi có dấu hiệu dương khí sắp thoát.
Chân vũ thang
Thành phần: Phụ tử, Phục linh, Bạch truật, Bạch thược, Sinh khương.
Linh quế Truật cam thang
Thành phần: Phục linh, Quế chi, Bạch truật, Chích cam thảo.
Nếu trên thực dưới hư, đàm nhiều, có thể gia Tô tử, Tiền hồ, Hải cáp xác, Hạnh nhân, Trần bì, Xa tiền tử.
Các phương có Phụ tử phải được thầy thuốc trực tiếp theo dõi.
Triệu chứng
Suyễn gấp, hơi thở ngắn, ù tai, đau lưng, vận động thì suyễn tăng, miệng khô, bứt rứt, lòng bàn tay chân nóng, mặt đỏ, chiều tối nóng bừng, mồ hôi trộm, nước tiểu vàng, lưỡi đỏ, mạch tế sác.
Bệnh cơ
Thận âm không đầy đủ, tinh khí không thể sinh hóa, khí không quy nguyên. Âm hư hỏa vượng làm miệng khô, đạo hãn và mặt đỏ.
Phép trị
Tư âm điền tinh, nạp khí bình suyễn.
Phương thang
Thất vị Đô khí hoàn
Thành phần: Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược, Phục linh, Trạch tả, Đan bì, Ngũ vị tử.
Công dụng: Tư Thận nạp khí.
Hà xa đại tạo hoàn
Thành phần thường dùng: Tử hà xa, Thục địa, Quy bản, Đỗ trọng, Thiên môn đông, Mạch môn, Hoàng bá, Ngưu tất.
Công dụng: Bổ tinh huyết, tư Phế Thận.
Nhân sâm Hồ đào thang
Thành phần: Nhân sâm, Hồ đào nhục, Sinh khương.
Công dụng: Bổ Phế ích Thận, nạp khí.
Sâm cáp tán
Thành phần chủ yếu: Nhân sâm, Cáp giới.
Công dụng: Bổ Phế Thận, nạp khí định suyễn.
Tả quy hoàn
Thành phần: Thục địa, Sơn dược, Kỷ tử, Sơn thù du, Xuyên ngưu tất, Thỏ ty tử, Lộc giác giao, Quy bản giao.
Công dụng: Tư âm bổ Thận, điền tinh ích tủy.
Hữu quy hoàn
Thành phần: Thục địa, Sơn dược, Sơn thù du, Kỷ tử, Đỗ trọng, Thỏ ty tử, Lộc giác giao, Đương quy, Phụ tử, Nhục quế.
Công dụng: Ôn bổ Thận dương, điền tinh bổ huyết.
IX. TIÊN LƯỢNG VÀ CHUYỂN BIẾN
Chứng suyễn mới phát phần nhiều thuộc thực, bệnh vị chủ yếu ở Phế. Nếu điều trị kịp thời, khu tà đúng phép, tà khí được giải thì suyễn dễ yên, tiên lượng tương đối tốt.
Nếu tà khí lưu lại lâu, ho suyễn kéo dài sẽ làm tổn thương Phế khí, ảnh hưởng Tỳ vận hóa và Thận nạp khí, bệnh từ thực chuyển sang hư, việc điều trị trở nên khó khăn hơn.
Hàn tà lưu lại trong Phế, tân dịch ngưng tụ thành đàm, sau này khi gặp phong hàn hoặc phong nhiệt, tà cũ và tà mới giao tranh, đàm khí xung kích, có thể từ suyễn phát triển thành hen suyễn và tái diễn nhiều năm.
Thực suyễn tuy biểu hiện nặng như không nằm được, mũi phập phồng, há miệng nhấc vai và bứt rứt, nhưng nếu chính khí chưa suy thì thường còn có thể điều trị.
Hư suyễn thường khó hồi phục nhanh. Nếu đột ngột xuất hiện thở gấp, khí không liên tục, phiền táo, mồ hôi như châu hoặc như dầu, tay chân lạnh, tiêu chảy, mạch phù đại vô căn thì thuộc dấu hiệu âm dương sắp ly tuyệt, tiên lượng rất xấu.
X. CHĂM SÓC VÀ PHÒNG NGỪA
Tránh để cơ thể nhiễm lạnh, đặc biệt là vùng cổ, ngực, lưng và bàn chân.
Hạn chế tiếp xúc với khói thuốc, bụi, hóa chất, mùi kích thích và các yếu tố gây dị ứng.
Ăn uống thanh đạm, vừa đủ; hạn chế thức ăn béo ngọt, nhiều dầu mỡ, lạnh sống và khó tiêu.
Người đàm hàn cần tránh thức ăn quá lạnh; người đàm nhiệt cần hạn chế rượu và thức ăn cay nóng.
Sinh hoạt điều độ, tránh lao lực, thức khuya và xúc động mạnh.
Khi bệnh ổn định có thể vận động nhẹ nhàng và luyện thở tùy theo thể lực.
Không tự ngừng thuốc hít hoặc thuốc điều trị hô hấp đã được bác sĩ chỉ định.
Không tự sử dụng Ma hoàng, Phụ tử, Tế tân, Đại hoàng, Mang tiêu, Khiên ngưu tử hoặc các phương công hạ, ôn dương mạnh.
XI. DẤU HIỆU CẦN CẤP CỨU
Khó thở tăng nhanh, không thể nói thành câu.
Môi hoặc đầu ngón tay tím tái.
Co kéo lồng ngực mạnh, phải ngồi cúi người mới thở được.
Tinh thần lơ mơ, bứt rứt bất thường hoặc kiệt sức.
Đau ngực, hồi hộp dữ dội.
Mồ hôi lạnh như dầu, tay chân lạnh.
Mạch rất yếu, huyết áp giảm.
Thuốc hít cắt cơn không còn hiệu quả.
Trong những trường hợp này phải gọi cấp cứu ngay, không chờ thuốc sắc hoặc tự điều trị tại nhà.
Nói tóm lại, chứng suyễn theo Trung y có hư thực, hàn nhiệt và nhiều nguyên nhân khác nhau. Thực suyễn chủ yếu do ngoại tà, đàm trọc, thủy ẩm, thực tích hoặc khí uất làm Phế mất tuyên giáng; hư suyễn chủ yếu do Phế khí suy và Thận không nạp khí. Khi điều trị phải truy tìm căn nguyên, phân biệt hư thực, hàn nhiệt, tiêu bản và tạng phủ liên quan. Không nên chỉ thấy suyễn mà chuyên dùng thuốc bình suyễn, mà cần điều trị đồng thời bệnh gốc, đàm ẩm và tình trạng suy hư của Phế, Tỳ, Thận.
Trường Xuân biên soạn