Bệnh Hen 哮病 là bệnh có đặc điểm phát tác đột ngột, thở gấp, khó thở, trong họng phát ra tiếng khò khè rõ rệt. Đàm trọc tiềm phục bên trong là căn nguyên cố hữu của bệnh; khi gặp ngoại tà, ăn uống không điều độ, tình chí kích động, lao lực hoặc khí hậu thay đổi, đàm ẩn bị dẫn động, đàm khí giao kết, làm bế tắc khí đạo, Phế mất tuyên phát và túc giáng, từ đó phát sinh cơn hen.
Theo quá trình phát triển của bệnh, hen thường thuộc bản hư tiêu thực. Trong thời kỳ phát tác, đàm trọc, hàn, nhiệt và khí nghịch là phần ngọn; trong thời kỳ thuyên giảm, Phế, Tỳ và Thận hư là phần gốc. Vì vậy, nguyên tắc điều trị căn bản là phát tác thì trị tiêu, bình thường thì trị bản.
I. SỰ HÌNH THÀNH NHẬN THỨC CỦA TRUNG Y VỀ BỆNH HEN
Trong Hoàng đế Nội kinh tuy chưa có tên gọi hen bệnh, nhưng đã ghi nhận những biểu hiện như thở gấp, nâng vai để thở và trong họng phát ra tiếng. Nội kinh đồng thời cho rằng chứng này chủ yếu liên quan đến Phế, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của các tạng phủ khác và của ngoại tà.
Đến thời Hán, Trương Trọng Cảnh trong Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược đã mô tả khá rõ các biểu hiện đặc trưng của bệnh: ho mà khí nghịch lên, trong họng phát ra tiếng như gà nước, thở gấp, mắt như muốn lồi, đàm đục, chỉ có thể ngồi mà không thể nằm. Những mô tả này cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa đàm ẩm, khí nghịch và cơn hen.
Các phương thang như Quế chi gia Hậu phác Hạnh tử thang, Việt tỳ gia Bán hạ thang, Tiểu thanh long thang, Xạ can Ma hoàng thang và Đình lịch Đại táo tả Phế thang được hình thành từ thời kỳ này và có ảnh hưởng lâu dài đến việc điều trị hen suyễn về sau.
Đến thời Tùy – Đường, các y gia tiếp tục làm rõ bệnh cơ: tà nhập Phế khiến Phế trướng, khí đạo bế tắc, khí nghịch mà suyễn; đàm trong ngực bị khí ho và hơi thở kích động, dồn lên họng, đàm khí va chạm với nhau nên phát ra tiếng.
Thời Tống, nhận thức về hen suyễn dần chuyển sang biện chứng luận trị. Các y gia cho rằng chứng suyễn không chỉ có một thể, mà có thể do biểu tà, lý thực, thủy khí, uất nhiệt hoặc đàm dãi gây nên, cần căn cứ nguyên nhân và bệnh cơ để điều trị.
Đến thời Kim – Nguyên, Chu Đan Khê lần đầu tiên lấy hen suyễn làm một bệnh danh độc lập và nêu nguyên tắc:
“Chưa phát thì lấy phù chính khí làm chủ, đã phát thì lấy công tà khí làm cấp.”
Quan điểm này trở thành nguyên tắc quan trọng trong điều trị hen bệnh về sau.
Đến thời Minh – Thanh, sự phân biệt giữa hen và suyễn ngày càng rõ ràng. Các y gia cho rằng suyễn là nói về khí tức, hen là nói về âm thanh; suyễn có thể không kèm hen, nhưng hen tất kèm suyễn. Đồng thời, bệnh cơ được khái quát thành ba điểm chính: bên trong có khí uất bế, bên ngoài cảm phải tà khí trái thời, hoành cách có đàm dính đặc ngăn trở.
II. PHÂN BIỆT HEN VÀ SUYỄN
Hen 哮 là tên gọi căn cứ vào tiếng phát ra trong họng. Khi hô hấp, người bệnh có tiếng khò khè hoặc tiếng đàm rít rõ, thường phát tác từng cơn và tái diễn nhiều lần.
Suyễn 喘 là tên gọi căn cứ vào trạng thái thở. Người bệnh thở gấp, hơi thở thúc bách, có thể há miệng, nâng vai, co kéo lồng ngực nhưng không nhất thiết có tiếng rít.
Hen tất kèm suyễn, nhưng suyễn chưa chắc đã có hen.
Hen bệnh là một bệnh tương đối độc lập, có tính phát tác và tái diễn. Chứng suyễn có thể xuất hiện trong nhiều bệnh cấp tính hoặc mạn tính khác nhau và không nhất thiết có tiền sử tái phát theo cơn.
III. BỆNH CƠ CỦA HEN BỆNH
Đàm là sản vật bệnh lý hình thành khi sự vận hành, phân bố và chuyển hóa tân dịch bị rối loạn. Trong bệnh hen, đàm vừa là căn nguyên tiềm phục, vừa là yếu tố trực tiếp làm bế tắc khí đạo.
Tỳ chủ vận hóa thủy cốc, vì vậy Tỳ thường được gọi là nguồn sinh đàm. Tuy nhiên, đàm không chỉ do Tỳ hư mà còn có thể hình thành do Phế mất tuyên giáng, Thận không khí hóa thủy dịch, tà nhiệt nung đốt tân dịch, hút thuốc lâu ngày, tình chí uất kết hoặc sau bệnh cơ thể suy yếu.
Đàm tích lâu ngày, keo kết trong hệ Phế, trở thành túc căn. Khi gặp yếu tố kích phát, đàm theo khí mà động, tụ lại ở khí đạo và phát thành hen.
Phế chủ khí, coi việc hô hấp, bên ngoài hợp với bì mao. Khi phong hàn, phong nhiệt hoặc các ngoại tà xâm nhập, Phế khí bị bó buộc, không thể tuyên phát ra ngoài và túc giáng xuống dưới.
Đàm khí giao kết, khí đạo bị bế tắc, hơi thở ra vào khó khăn, tạo thành thở gấp và tiếng rít trong họng.
Tỳ hư thì thủy thấp không được vận hóa, đàm mới sinh ra không dứt. Đàm trọc nghịch lên Phế, làm bệnh kéo dài và dễ tái phát.
Do đó, trong giai đoạn thuyên giảm, kiện Tỳ hóa đàm là một phương diện quan trọng của phép trị gốc.
Thận là gốc của khí, chủ nhiếp nạp. Hen kéo dài làm tổn thương Phế rồi ảnh hưởng đến Thận. Khi Thận khí suy, khí không thể quy căn, người bệnh thường thở ra nhiều, hít vào ít, vận động thì suyễn tăng, kèm đau lưng, mỏi gối và ù tai.
Can chủ sơ tiết. Tình chí uất kết hoặc tức giận có thể làm Can khí nghịch lên phạm Phế, khiến cơn hen phát tác hoặc tăng nặng.
Hen kéo dài, khí hư, đàm ẩm và thiếu dưỡng khí có thể ảnh hưởng đến Tâm, gây hồi hộp, môi tím, vã mồ hôi, phù hoặc thần sắc suy yếu.
IV. NGUYÊN NHÂN KÍCH PHÁT
Ngoại cảm phong hàn hoặc phong nhiệt.
Khí hậu thay đổi đột ngột, trời lạnh, ẩm hoặc giao mùa.
Ăn nhiều thức ăn béo ngọt, dầu mỡ, lạnh sống hoặc khó tiêu.
Dùng loại thức ăn từng gây dị ứng hoặc kích phát cơn hen.
Tình chí kích động, lo nghĩ, tức giận hoặc buồn phiền kéo dài.
Lao lực, thiếu ngủ hoặc cơ thể suy yếu sau bệnh.
Khói thuốc, bụi, phấn hoa, hóa chất và mùi kích thích.
V. CHẨN ĐOÁN HEN BỆNH
Hen bệnh thường có tiền sử phát tác nhiều lần, có thể bắt đầu từ thời thơ ấu và kéo dài nhiều năm. Cơn bệnh thường liên quan đến cảm mạo, khí hậu, lao lực, tình chí hoặc ăn uống.
Triệu chứng điển hình trong cơn phát: Thở gấp, thở ra kéo dài, trong họng có tiếng đàm rít, ngực đầy tức, ho, đàm nhiều hoặc dính khó khạc, không thể nằm ngửa; nếu khạc được đàm thì tiếng hen và khó thở tạm giảm.
Dấu hiệu báo trước có thể gồm: Hắt hơi, ngứa mũi, ngứa họng, ho, ngực tức, buồn nôn, bụng chướng hoặc bứt rứt.
Trường hợp nặng có thể thấy: Há miệng, nâng vai, tim đập nhanh, mồ hôi lạnh ở trán, môi tím, mắt lồi, bứt rứt, không thể nói liền câu.
Trong giai đoạn thuyên giảm, người bệnh có thể không có triệu chứng hoặc chỉ còn ho nhẹ, ít đàm và hơi khó thở. Người bệnh lâu năm có thể vẫn thở ngắn, tự ra mồ hôi, sợ gió, mệt mỏi, đau lưng và phù nhẹ.
VI. TIÊN LƯỢNG VÀ CHUYỂN BIẾN
Hàn hen kéo dài hoặc dùng thuốc ôn táo quá nhiều có thể làm đàm thấp hóa nhiệt, chuyển thành hàn nhiệt lẫn lộn hoặc biểu hàn lý nhiệt.
Nhiệt hen kéo dài hoặc dùng thuốc hàn lương, tả hạ quá mức có thể làm tổn thương Tỳ Dương, chuyển thành hàn hen.
Bệnh tái phát lâu ngày làm chính khí hao tổn, thực chứng dần chuyển thành hư chứng, hình thành chính hư tà luyến hoặc chính hư tà thực.
Nếu người bệnh được kiểm soát cơn phát, điều dưỡng chính khí và điều trị phù hợp trong thời kỳ thuyên giảm, bệnh có thể giảm tần suất và mức độ phát tác.
Nếu bệnh kéo dài không khỏi, xuất hiện phù toàn thân, ăn uống giảm, ngực gù, lưng cong, mồ hôi lạnh như dầu, sắc mặt trắng bệch hoặc tím tái, tứ chi lạnh, đại tiện ra thức ăn chưa tiêu, mạch vi nhược thì tiên lượng không tốt.
VII. NGUYÊN TẮC BIỆN CHỨNG LUẬN TRỊ
Trong thời kỳ phát tác, chủ yếu phân biệt hàn hen và nhiệt hen. Phép trị lấy tuyên Phế, hóa đàm và bình suyễn làm chính.
Trong thời kỳ thuyên giảm, chủ yếu phân biệt Phế hư, Tỳ hư và Thận hư. Phép trị lấy bổ Phế, kiện Tỳ và ích Thận làm chính.
Đại pháp điều trị:
Phát tác thì trị tiêu.
Bình thường thì trị bản.
Hàn hen thì tuyên Phế tán hàn, ôn hóa đàm ẩm.
Nhiệt hen thì tuyên Phế thanh nhiệt, tẩy đàm lợi khí.
Phế Tỳ khí hư thì kiện Tỳ ích khí, bổ thổ sinh kim.
Phế Thận lưỡng hư thì bổ Phế ích Thận, nạp khí bình suyễn.
VIII. THỜI KỲ PHÁT TÁC
Triệu chứng
Mới đầu sợ lạnh, sốt, đau đầu, không ra mồ hôi, ho, khó thở, ngứa họng, ngứa mũi hoặc ngứa mình, chảy nước mũi trong; sau đó suyễn tăng, trong họng có tiếng đàm như tiếng gà nước, ho khạc đàm trắng loãng, không thể nằm ngửa, ngực đầy như nghẹn, sắc mặt trắng bệch hoặc xám tối, lưng lạnh, không khát hoặc khát nhưng thích uống ấm, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch phù khẩn.
Bệnh cơ
Phong hàn phạm biểu hoặc hàn tà từ bên ngoài dẫn động đàm ẩn ở trong, làm đàm khí bế tắc khí đạo. Biểu lý đều hàn nên đàm trắng loãng, không khát, lưng lạnh và sắc mặt trắng xám.
Phép trị
Tuyên Phế tán hàn, hóa đàm bình suyễn.
Phương thang
Cửu bảo thang gia Bán hạ, Phục linh
Tài liệu chỉ nêu tên phương và hai vị gia thêm, không ghi đầy đủ thành phần Cửu bảo thang.
Xạ can Ma hoàng thang
Thành phần: Xạ can, Ma hoàng, Sinh khương, Tế tân, Tử uyển, Khoản đông hoa, Ngũ vị tử, Bán hạ, Đại táo.
Công dụng: Ôn Phế tán hàn, hóa đàm, bình suyễn.
Tiểu thanh long thang
Thành phần: Ma hoàng, Quế chi, Can khương, Tế tân, Bán hạ, Ngũ vị tử, Bạch thược, Chích cam thảo.
Công dụng: Giải biểu tán hàn, ôn Phế hóa ẩm.
Hậu phác Ma hoàng thang
Thành phần: Hậu phác, Ma hoàng, Thạch cao, Hạnh nhân, Bán hạ, Can khương, Tế tân, Ngũ vị tử, Tiểu mạch.
Công dụng: Tuyên Phế, hạ khí, hóa ẩm, bình suyễn.
Tô tử giáng khí thang
Thành phần: Tô tử, Bán hạ, Tiền hồ, Hậu phác, Quất hồng, Đương quy, Nhục quế, Chích cam thảo, Sinh khương, Đại táo.
Công dụng: Giáng khí hóa đàm, ôn Thận nạp khí.
Sâm tô ôn Phế thang
Thành phần: Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Bán hạ, Trần bì, Nhục quế, Tử tô, Ngũ vị tử, Mộc hương, Tang bạch bì, Sinh khương.
Công dụng: Ôn Phế điều khí, kiện Tỳ hóa đàm, dùng trong giai đoạn cơn đã giảm nhưng Phế Tỳ hư và đàm chưa hết.
Triệu chứng
Sốt, đau đầu, ra mồ hôi, thở gấp, ngực phồng, trong họng có tiếng hen như kéo cưa, há miệng nâng vai, không nằm được, đàm vàng đặc dính khó khạc, ngực tức, bứt rứt, mặt đỏ, khát thích uống lạnh, đại tiện táo, lưỡi đỏ, rêu vàng nhớt hoặc vàng trơn, mạch hoạt sác.
Bệnh cơ
Đàm nhiệt uất thịnh ở Phế, làm Phế mất thanh túc và giáng hạ. Đàm hỏa nung đốt tân dịch nên đàm vàng đặc, miệng khát, đại tiện táo và lưỡi đỏ rêu vàng.
Phép trị
Tuyên Phế thanh nhiệt, tẩy đàm lợi khí.
Phương thang
Việt tỳ gia Bán hạ thang
Thành phần: Ma hoàng, Thạch cao, Sinh khương, Bán hạ, Cam thảo, Đại táo.
Công dụng: Tuyên Phế thanh nhiệt, giáng nghịch hóa đàm.
Ngật canh thang gia vị
Tài liệu nêu dùng Ngật canh, Đông qua tử với lượng tương đối lớn, phối Trúc lịch, Xuyên bối mẫu, Toàn qua lâu, Ngư tinh thảo, Hải phù thạch và Tang bạch bì.
Công dụng: Thanh nhiệt hóa đàm, thông Phế, lợi khí.
Định suyễn thang
Thành phần: Ma hoàng, Bạch quả, Tang bạch bì, Hoàng cầm, Tô tử, Bán hạ, Hạnh nhân, Khoản đông hoa, Cam thảo.
Công dụng: Tuyên Phế thanh nhiệt, hóa đàm bình suyễn.
Bạch hổ thang
Thành phần: Thạch cao, Tri mẫu, Cam thảo, Canh mễ.
Công dụng: Thanh khí tả nhiệt, sinh tân chỉ khát.
Thường dùng khi nhiệt hen vào mùa nóng, sốt cao, mặt đỏ, ra nhiều mồ hôi, khát thích uống lạnh và mạch hồng đại. Có thể phối Hoàng cầm, Toàn qua lâu, Xuyên bối mẫu, Chỉ xác, Hoạt thạch, Tang bạch bì và Ngật canh theo chứng.
Tiểu hãm hung thang
Thành phần: Hoàng liên, Bán hạ, Qua lâu thực.
Công dụng: Thanh nhiệt hóa đàm, khai kết vùng ngực.
Tam hóa thang
Thành phần: Đại hoàng, Hậu phác, Chỉ thực, Khương hoạt.
Công dụng: Thông phủ tả nhiệt, hành khí hóa đàm.
Đại thừa khí thang
Thành phần: Đại hoàng, Mang tiêu, Hậu phác, Chỉ thực.
Công dụng: Tuấn hạ nhiệt kết, thông phủ, dùng khi nhiệt kết táo bón rõ. Phương này không được tự sử dụng.
Phí thị Nga lê thang
Thành phần theo tài liệu: Hạnh nhân 9 g, Tô tử 9 g, Qua lâu nhân 9 g, Bán hạ 9 g, Trần bì 4,5 g, Phục linh 9 g, nước lê tươi một chén, Chung nhũ thạch 12 g, Ma hoàng 6 g, Tang bạch bì 9 g, Đương quy 6 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Công dụng: Giáng khí hóa đàm, tuyên Phế bình suyễn, trong ôn có nhuận, trong công có bổ.
Nếu Phế âm đã tổn thương, ho suyễn còn nhưng miệng họng khô, đàm ít hoặc dính, có thể bỏ Ma hoàng, gia Sa sâm, Mạch môn, Ngọc trúc và Bách hợp để dưỡng âm nhuận Phế.
IX. THỜI KỲ THUYÊN GIẢM
Triệu chứng
Ho, thở ngắn, đàm trắng loãng, sắc mặt trắng sáng, tự ra mồ hôi, sợ gió, ăn ít, bụng chướng, đại tiện lỏng, đầu mặt hoặc tứ chi phù nhẹ, lưỡi nhạt có dấu răng, rêu trắng, mạch nhu nhược.
Bệnh cơ
Hen tái phát nhiều lần làm Phế khí hao tổn; Tỳ hư mất vận hóa, sinh đàm, ăn kém và đại tiện lỏng. Tỳ không sinh Phế, vệ khí không vững nên tự ra mồ hôi, sợ gió và dễ cảm ngoại tà.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, bổ thổ sinh kim.
Phương thang
Tứ quân tử thang
Thành phần: Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo.
Gia giảm: Gia Sơn dược, Ý dĩ nhân để kiện Tỳ; gia Ngũ vị tử để liễm Phế; biểu hư tự ra mồ hôi gia Chích Hoàng kỳ, Phù tiểu mạch, Đại táo; ăn ít, bụng chướng, đàm nhiều gia Bán hạ, Trần bì, Tiền hồ.
Bảo nguyên thang
Thành phần: Nhân sâm, Hoàng kỳ, Nhục quế, Chích cam thảo.
Công dụng: Ích khí ôn dương, dùng khi sắc mặt trắng, sợ lạnh, hồi hộp và khí hư rõ.
Hoàng kỳ kiến trung thang
Thành phần: Hoàng kỳ, Quế chi, Bạch thược, Sinh khương, Đại táo, Chích cam thảo, Di đường.
Công dụng: Ôn trung bổ hư, điều hòa doanh vệ.
Lục quân tử thang
Thành phần: Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo, Bán hạ, Trần bì.
Công dụng: Kiện Tỳ ích khí, táo thấp hóa đàm.
Triệu chứng
Ho, thở ngắn, tự ra mồ hôi, sợ gió, vận động thì suyễn phát, đau lưng mỏi gối, chóng mặt, ù tai, mồ hôi trộm, di tinh, lưỡi nhạt, mạch yếu.
Bệnh cơ
Phế chủ khí, Thận là gốc của khí. Bệnh lâu không khỏi làm Phế khí suy, Thận khí không nạp, vì vậy thở ngắn, vận động thì suyễn, đau lưng và ù tai.
Phép trị
Bổ Phế ích Thận, nạp khí bình suyễn.
Phương thang
Kim thủy lục quân tiễn
Thành phần: Thục địa, Đương quy, Trần bì, Bán hạ, Phục linh, Chích cam thảo.
Công dụng: Tư Thận, dưỡng huyết, hóa đàm, giáng khí.
Tứ quân tử thang phối Kim thủy lục quân tiễn
Thành phần: Nhân sâm hoặc Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Chích cam thảo, Thục địa, Đương quy, Trần bì, Bán hạ.
Gia giảm: Phế khí hư là chính gia Hoàng kỳ, Sơn dược; Thận hư là chính gia Đỗ trọng, Hoài ngưu tất, Thỏ ty tử, Dâm dương hoắc; ho suyễn gia Xuyên bối mẫu, Hạnh nhân, Xa tiền tử, Tiền hồ, Tô tử, Toàn phúc hoa.
Đại bổ nguyên tiễn
Thành phần: Nhân sâm, Thục địa, Sơn dược, Đỗ trọng, Đương quy, Sơn thù du, Kỷ tử, Chích cam thảo.
Công dụng: Bổ khí huyết, ích Can Thận, dùng khi nguyên khí hư suy rõ.
Kim Quỹ Thận Khí hoàn
Thành phần: Thục địa, Sơn thù du, Sơn dược, Trạch tả, Phục linh, Đan bì, Quế chi, Phụ tử.
Công dụng: Ôn bổ Thận dương, trợ khí hóa, nạp khí.
Phương có Phụ tử chỉ được sử dụng khi đã biện chứng rõ và có người chuyên môn theo dõi.
X. NGUY CHỨNG DƯƠNG KHÍ BẠO THOÁT
Triệu chứng
Trong khi hen phát tác đột ngột xuất hiện nôn, tiêu chảy, cơ thịt run giật, thần sắc suy yếu, mặt tím tái, mồ hôi ra như dầu, tứ chi lạnh buốt, lưỡi xanh tối, rêu trắng trơn, mạch vi sắp tuyệt.
Bệnh cơ
Hen tái phát lâu ngày làm chính khí suy kiệt; hoặc hàn tà quá thịnh, hoặc dùng phép tả hạ quá mức làm chân dương tổn thương, dẫn đến dương khí không giữ được bên trong và bạo thoát ra ngoài.
Phép trị
Hồi dương cứu nghịch, ích khí cố thoát.
Phương thang
Tứ nghịch thang gia Nhân sâm
Thành phần: Phụ tử, Can khương, Chích cam thảo, Nhân sâm.
Công dụng: Hồi dương cứu nghịch, ích khí cố thoát.
Đào thị hồi dương cấp cứu thang
Thành phần theo tài liệu: Nhân sâm, Phụ tử, Nhục quế, Can khương, Chích cam thảo, Mạch môn, Ngũ vị tử, Xạ hương.
Công dụng: Hồi dương, ích khí, sinh mạch, cố thoát, khai khiếu.
Đây là tình trạng cấp cứu nguy hiểm, không được chờ thuốc sắc hoặc tự điều trị tại nhà.
XI. ĐIỀU DƯỠNG VÀ PHÒNG NGỪA
Giữ ấm cơ thể, đặc biệt là vùng cổ, ngực và lưng; tránh mưa lạnh và gió lùa.
Hạn chế tiếp xúc với khói thuốc, bụi, phấn hoa, lông động vật, hóa chất và mùi kích thích.
Điều trị thích hợp các bệnh viêm mũi, viêm họng và dị ứng kèm theo.
Ăn uống thanh đạm, vừa đủ, hạn chế món béo ngọt, dầu mỡ, lạnh sống và khó tiêu.
Không sử dụng loại thức ăn từng gây phát cơn, nhưng cũng không nên kiêng khem quá mức làm cơ thể suy yếu.
Sinh hoạt điều độ, tránh lao lực, thức khuya và xúc động mạnh.
Khi bệnh ổn định có thể tập vận động và luyện thở nhẹ nhàng theo thể lực.
Giai đoạn chưa phát cơn cần căn cứ thể trạng mà bổ Phế, kiện Tỳ hoặc ích Thận; không nên tự uống thuốc bổ khi đang đàm nhiều, ngực tức và khó thở.
XII. NHỮNG ĐIỂM CẦN THẬN TRỌNG
Hen phế quản có thể trở nặng nhanh chóng. Điều trị Trung y không thay thế thuốc hít cắt cơn và phương án kiểm soát hen đã được bác sĩ chỉ định.
Không tự ngừng thuốc hít khi triệu chứng tạm giảm.
Không tự sử dụng Ma hoàng, Phụ tử, Tế tân, Xạ hương, Tạo giác, Cam toại, Nguyên hoa, Tín thạch hoặc các dược liệu có độc tính và tác dụng mạnh.
Các phương kinh nghiệm chứa tín thạch, asen hoặc thuốc công trục mạnh trong tài liệu cổ không thích hợp đưa vào hướng dẫn tự sử dụng.
Cần cấp cứu ngay khi khó thở tăng nhanh, không nói được thành câu, môi tím, co kéo lồng ngực mạnh, phải ngồi cúi người mới thở được, thuốc hít cắt cơn không hiệu quả, thần trí lơ mơ, đau ngực hoặc tiếng khò khè giảm đột ngột nhưng khó thở nặng hơn.
Nói tóm lại, nhận thức của Trung y về hen bệnh được hình thành và hoàn thiện qua nhiều thời kỳ. Bệnh lấy đàm ẩn làm căn nguyên, Phế mất tuyên giáng làm biểu hiện trực tiếp, Tỳ hư sinh đàm và Thận hư không nạp khí là cơ sở khiến bệnh kéo dài. Trong thời kỳ phát tác cần phân biệt hàn và nhiệt để tuyên Phế, hóa đàm, bình suyễn; trong thời kỳ thuyên giảm cần căn cứ Phế, Tỳ và Thận hư để phù chính cố bản. Chỉ khi nắm rõ tiêu bản, hư thực và hàn nhiệt, đồng thời phối hợp điều dưỡng lâu dài, mới có thể giảm mức độ và tần suất tái phát.
Trường Xuân biên soạn