Ho là triệu chứng thường gặp trong nhiều bệnh của hệ hô hấp. Theo Trung y, ho chủ yếu liên quan đến việc Phế mất chức năng tuyên phát và túc giáng, khiến Phế khí nghịch lên. Ngoại tà phạm Phế, đàm thấp, đàm nhiệt, Phế táo, Phế âm hư hoặc Phế khí hư đều có thể gây ho.
Vì nguyên nhân và bệnh cơ khác nhau, các vị thuốc chỉ khái không thể sử dụng giống nhau cho mọi trường hợp. Khi lựa chọn dược liệu cần căn cứ ho thuộc hàn hay nhiệt, có đàm hay không, đàm đặc hay loãng, bệnh mới phát hay đã kéo dài.
I. HẠNH NHÂN 杏仁
Tên dược liệu
Khổ hạnh nhân 苦杏仁, thường gọi tắt là Hạnh nhân.
Bộ phận dùng
Hạt chín đã được chế biến của cây mơ thuộc họ Hoa hồng.
Thành phần chính
Hạnh nhân chứa dầu béo, amygdalin, prunasin và các enzym liên quan đến quá trình phân giải glycosid cyanogenic.
Tính vị – Quy kinh
Vị đắng, tính hơi ấm, có độc nhẹ. Quy kinh Phế và Đại tràng.
Công năng
Giáng Phế khí, chỉ khái bình suyễn, nhuận trường thông tiện.
Chủ trị
Ho do Phế khí nghịch.
Suyễn, tức ngực.
Ho do phong hàn hoặc phong nhiệt khi được phối hợp đúng phương.
Đại tiện táo do trường táo.
Phân tích
Hạnh nhân có tính giáng, có thể làm Phế khí đang nghịch đi xuống, vì vậy thường được dùng trong các chứng ho và suyễn. Vị thuốc vừa có thể phối hợp với thuốc tân ôn để trị phong hàn, vừa có thể phối hợp với thuốc tân lương, thanh nhiệt để trị phong nhiệt hoặc Phế nhiệt.
Một phần amygdalin có thể bị phân giải tạo thành acid hydrocyanic. Ở lượng rất nhỏ, thành phần này có thể góp phần làm giảm phản xạ ho; nhưng nếu sử dụng quá liều sẽ gây ngộ độc.
Chú ý
Không dùng Hạnh nhân sống hoặc Khổ hạnh nhân không rõ nguồn gốc.
Không tự ý tăng liều với mục đích làm giảm ho nhanh.
Ngộ độc có thể biểu hiện bằng đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, nôn, khó thở, co giật, rối loạn ý thức và hôn mê.
Trẻ em, phụ nữ mang thai và người suy gan thận chỉ nên dùng khi có chỉ định chuyên môn.
II. TỲ BÀ DIỆP 枇杷葉
Tên Việt
Lá nhót tây, thường gọi theo Hán Việt là Tỳ bà diệp.
Bộ phận dùng
Lá đã được làm sạch lông và phơi hoặc sấy khô.
Thành phần chính
Chứa acid ursolic, acid oleanolic, các hợp chất triterpen, flavonoid, tanin và một lượng glycosid cyanogenic.
Tính vị – Quy kinh
Vị đắng, tính hơi hàn. Quy kinh Phế và Vị.
Công năng
Thanh Phế chỉ khái, giáng nghịch chỉ ẩu.
Chủ trị
Ho do Phế nhiệt.
Đàm vàng, miệng khát.
Ho suyễn do Phế khí nghịch.
Buồn nôn, nôn do Vị nhiệt nghịch lên.
Phân tích
Tỳ bà diệp vừa thanh Phế nhiệt vừa giáng Phế khí, thích hợp hơn với ho thiên về nhiệt. Khi dùng trị ho thường phải làm sạch hoàn toàn lớp lông ở mặt dưới lá, vì lông có thể kích thích họng và niêm mạc tiêu hóa.
Chú ý
Không dùng lá chưa được làm sạch lông.
Người ho do hàn, đàm trắng loãng, sợ lạnh và không khát cần thận trọng.
Không nên giải thích tác dụng của Tỳ bà diệp chỉ dựa vào sự tạo thành acid hydrocyanic; công năng của vị thuốc là kết quả tổng hợp của nhiều thành phần.
III. BÁCH BỘ 百部
Bộ phận dùng
Rễ củ của một số loài thuộc chi Stemona.
Thành phần chính
Chứa nhiều alkaloid đặc trưng của Bách bộ, như stemonin và các alkaloid có cấu trúc liên quan.
Tính vị – Quy kinh
Vị ngọt, đắng, tính hơi ấm. Quy kinh Phế.
Công năng
Nhuận Phế chỉ khái, sát trùng diệt chấy rận.
Chủ trị
Ho mới mắc hoặc ho lâu ngày.
Ho khan, ho từng cơn.
Ho gà.
Ho do lao phổi hoặc viêm phế quản trong trường hợp phù hợp.
Dùng ngoài đối với chấy, rận và một số ký sinh trùng ngoài da.
Phân tích
Bách bộ có đặc điểm chỉ khái tương đối rộng, có thể dùng cho cả ho mới và ho lâu, ho hàn và ho nhiệt khi được phối hợp phù hợp. Vị thuốc có tác dụng làm giảm phản xạ ho, nhưng không nên vì vậy mà dùng để ức chế ho trong trường hợp đàm đặc đang bít tắc đường thở.
Chú ý
Dùng quá liều có thể gây buồn nôn, nôn, chóng mặt và khó chịu vùng thượng vị.
Người Tỳ Vị hư yếu, dễ tiêu chảy cần dùng thận trọng.
Các kết quả kháng khuẩn hoặc kháng virus trong phòng thí nghiệm không đồng nghĩa với khả năng thay thế thuốc điều trị nhiễm trùng trên lâm sàng.
IV. BÁN HẠ 半夏
Tên dược liệu
Chế Bán hạ, Khương Bán hạ hoặc Pháp Bán hạ tùy phương pháp bào chế.
Bộ phận dùng
Thân rễ đã được chế biến đúng quy cách.
Thành phần chính
Chứa phytosterol, acid amin, polysaccharid, alkaloid và nhiều hợp chất có tính kích thích trong dược liệu sống.
Tính vị – Quy kinh
Vị cay, tính ấm, có độc. Quy kinh Tỳ, Vị và Phế.
Công năng
Táo thấp hóa đàm, giáng nghịch chỉ ẩu, tiêu bĩ tán kết.
Chủ trị
Ho nhiều đàm trắng.
Đàm thấp, ngực đầy.
Buồn nôn, nôn.
Vùng thượng vị bĩ mãn.
Phân tích
Bán hạ thích hợp với đàm thấp và hàn đàm, biểu hiện bằng đàm trắng, nhiều, dễ khạc hoặc kèm buồn nôn, ngực đầy và rêu lưỡi trắng nhờn.
Vị thuốc vừa hóa đàm vừa giáng nghịch nên thường được dùng trong các phương như Nhị trần thang, Ôn đởm thang và Tiểu hãm hung thang.
Chú ý
Bán hạ sống có độc và gây kích thích mạnh niêm mạc miệng, họng, thực quản và dạ dày.
Chỉ được dùng Bán hạ đã chế biến đúng quy cách.
Không dùng cho ho khan do âm hư, Phế táo, đàm ít và họng khô nếu không có phối ngũ thích hợp.
Phụ nữ mang thai và trẻ em cần đặc biệt thận trọng.
V. ĐẢM TRẤP 膽汁
Khái niệm
Đảm trấp là dịch mật động vật, từng được sử dụng trong một số chế phẩm Trung dược truyền thống.
Thành phần chính
Chủ yếu gồm acid mật, muối mật, sắc tố mật, cholesterol và các thành phần khác.
Tính vị – Quy kinh
Vị đắng, tính hàn. Theo cách quy nạp truyền thống, có tác dụng thanh nhiệt và hóa đàm.
Công năng
Thanh nhiệt, hóa đàm, giải độc trong một số cách dùng cổ truyền.
Phân tích
Một số chế phẩm từ mật động vật từng được dùng cho ho do đàm nhiệt. Tuy nhiên, hiệu quả và độ an toàn phụ thuộc rất lớn vào loài động vật, quy trình chế biến, độ tinh khiết và liều lượng.
Chú ý
Không tự sử dụng mật động vật tươi hoặc sản phẩm không rõ nguồn gốc.
Có nguy cơ nhiễm vi sinh vật, tạp chất, dư lượng thuốc thú y và gây phản ứng tiêu hóa.
Một số chế phẩm có thể gây khô miệng, buồn nôn, đau bụng hoặc đại tiện lỏng.
Trong biên soạn phổ biến, không nên xem Đảm trấp là dược liệu trị ho thông thường.
VI. CHIẾT BỐI MẪU 浙貝母
Tên gọi
Chiết bối mẫu, không viết là Triết bối mẫu.
Bộ phận dùng
Thân hành của cây Chiết bối mẫu.
Thành phần chính
Chứa peimine, peiminine và nhiều alkaloid steroid khác.
Tính vị – Quy kinh
Vị đắng, tính hàn. Quy kinh Phế và Tâm.
Công năng
Thanh nhiệt hóa đàm, chỉ khái, giải độc tán kết.
Chủ trị
Ho do phong nhiệt.
Đàm nhiệt, đàm vàng đặc.
Viêm họng, sưng đau họng.
Đàm hỏa kết tụ thành hạch hoặc khối kết trong trường hợp thích hợp.
Phân tích
Chiết bối mẫu thiên về thanh nhiệt, hóa đàm và tán kết. Vị thuốc thường dùng khi bệnh mới phát hoặc đàm nhiệt tương đối rõ, biểu hiện bằng ho, đàm vàng, họng đỏ, ngực tức và rêu lưỡi vàng.
So với Xuyên bối mẫu, Chiết bối mẫu có tính đắng và thanh tiết mạnh hơn, thích hợp hơn với thực nhiệt và đàm nhiệt.
Chú ý
Không phù hợp với ho do hàn đàm, đàm trắng loãng và Tỳ Vị hư hàn.
Không phối hợp tùy tiện với Ô đầu hoặc Phụ tử theo nguyên tắc tương phản truyền thống.
VII. XUYÊN BỐI MẪU 川貝母
Bộ phận dùng
Thân hành của một số loài Bối mẫu sinh trưởng tại vùng cao.
Thành phần chính
Chứa peimine, peiminine, fritimine và các alkaloid steroid khác; thành phần có thể khác nhau tùy loài dược liệu.
Tính vị – Quy kinh
Vị đắng, ngọt, tính hơi hàn. Quy kinh Phế và Tâm.
Công năng
Thanh nhiệt nhuận Phế, hóa đàm chỉ khái, tán kết tiêu ung.
Chủ trị
Ho khan.
Ho ít đàm nhưng đàm dính khó khạc.
Ho lâu ngày do Phế âm hư hoặc Phế táo.
Ho kèm họng khô, miệng khô.
Phân tích
Xuyên bối mẫu vừa thanh nhiệt vừa nhuận Phế, thích hợp với ho kéo dài, Phế táo, Phế âm bị tổn thương, đàm ít và dính.
So với Chiết bối mẫu:
Xuyên bối mẫu thiên về nhuận Phế, chỉ khái, thích hợp với hư chứng hoặc ho mạn tính.
Chiết bối mẫu thiên về thanh nhiệt, tán kết, thích hợp với thực chứng và đàm nhiệt rõ.
Không nên nói Xuyên bối mẫu “bổ Vị sinh dịch”. Công năng chính của vị thuốc là thanh nhiệt nhuận Phế, hóa đàm chỉ khái và tán kết.
Chú ý
Không thích hợp với ho do hàn đàm, đàm trắng loãng, sợ lạnh, bụng lạnh hoặc đại tiện lỏng.
Không thấy ho là dùng Xuyên bối mẫu; cần xác định ho thuộc táo nhiệt hay hư nhiệt.
Dược liệu có giá trị cao và dễ bị nhầm lẫn, cần chọn nguồn đáng tin cậy.
VIII. PHÂN BIỆT PHẠM VI SỬ DỤNG
Hạnh nhân
Thiên về giáng Phế khí, bình suyễn; có thể dùng trong nhiều thể ho khi được phối hợp đúng.
Tỳ bà diệp
Thiên về thanh Phế và giáng nghịch; phù hợp hơn với Phế nhiệt.
Bách bộ
Thiên về chỉ khái, thường dùng cho ho lâu ngày hoặc ho từng cơn.
Bán hạ
Thiên về táo thấp hóa đàm; phù hợp với đàm trắng, nhiều và Tỳ thấp.
Chiết bối mẫu
Thiên về thanh nhiệt hóa đàm, tán kết; phù hợp với đàm nhiệt và thực chứng.
Xuyên bối mẫu
Thiên về nhuận Phế hóa đàm; phù hợp với ho khan, đàm ít dính và Phế âm hư.
Đảm trấp
Không phải lựa chọn thông thường; chỉ xem xét trong chế phẩm được sản xuất hợp pháp, có nguồn gốc rõ và được người có chuyên môn hướng dẫn.
IX. NGUYÊN TẮC SỬ DỤNG AN TOÀN
Không tự phối hợp nhiều vị chỉ khái vì có thể làm giảm phản xạ ho quá mức trong khi đàm còn tích lại.
Không dùng thuốc ôn hóa hàn đàm cho ho do Phế nhiệt.
Không dùng thuốc thanh nhiệt, tính hàn kéo dài cho người Tỳ Vị hư hàn.
Không tự sử dụng Hạnh nhân đắng sống, Bán hạ sống hoặc mật động vật.
Không áp dụng liều của người lớn cho trẻ em.
Ho kèm khó thở, tím môi, đau ngực, sốt cao, đàm mủ hôi hoặc đàm lẫn máu cần được khám y tế.
Ho kéo dài không rõ nguyên nhân phải xác định bệnh nền trước khi tiếp tục dùng thuốc chỉ khái.
Nói tóm lại, các dược liệu Trung y có tác dụng chỉ khái không hoàn toàn giống nhau. Hạnh nhân chủ về giáng khí bình suyễn; Tỳ bà diệp thanh Phế giáng nghịch; Bách bộ chỉ khái; Bán hạ táo thấp hóa đàm; Chiết bối mẫu thanh nhiệt tán kết; Xuyên bối mẫu nhuận Phế hóa đàm. Việc sử dụng phải căn cứ tính chất của ho, đặc điểm đàm, tình trạng hàn nhiệt và thể chất người bệnh. Chỉ khi biện chứng đúng, phối ngũ hợp lý và dùng đúng liều, dược liệu mới phát huy tác dụng mà hạn chế được nguy cơ không mong muốn.
Trường Xuân biên soạn