Suyễn là tình trạng hơi thở gấp, khó thở, khí nghịch lên, có thể kèm tiếng rít, ho và đàm. Theo Trung y, suyễn liên quan chủ yếu đến Phế và Thận. Phế chủ khí, đảm nhiệm tuyên phát và túc giáng; Thận chủ nạp khí. Khi Phế khí không giáng hoặc Thận không nạp được khí, người bệnh có thể xuất hiện thở ngắn, suyễn gấp và vận động thì khó thở tăng.
Nguyên nhân gây suyễn rất đa dạng, có thể do phong hàn, phong nhiệt, đàm trọc, đàm nhiệt, Phế khí hư hoặc Phế Thận cùng hư. Vì vậy, dược liệu bình suyễn cũng được chia thành nhiều nhóm như tuyên Phế bình suyễn, ôn Phế tán hàn, thanh nhiệt bình suyễn, hóa đàm bình suyễn và bổ Thận nạp khí.
Các vị thuốc dưới đây không thể thay thế thuốc cắt cơn hen, thuốc giãn phế quản, thở oxy hoặc điều trị cấp cứu. Người đang khó thở, tím môi, đau ngực hoặc không thể nói thành câu cần được cấp cứu ngay.
I. MA HOÀNG 麻黃
Bộ phận dùng
Thân cành trên mặt đất đã phơi hoặc sấy khô của một số loài Ma hoàng.
Thành phần chính
Chứa các alkaloid như ephedrine, pseudoephedrine và những thành phần liên quan.
Tính vị – Quy kinh
Vị cay, hơi đắng, tính ấm. Quy kinh Phế và Bàng quang.
Công năng
Phát hãn giải biểu, tuyên Phế bình suyễn, lợi thủy tiêu thũng.
Chủ trị
Phong hàn bó Phế.
Ho suyễn, ngực tức.
Không ra mồ hôi, sợ lạnh, đau mình.
Phù do Phế khí không tuyên thông.
Phân tích
Ephedrine có thể làm giãn cơ trơn phế quản và giảm co thắt đường thở. Ma hoàng vì vậy là vị thuốc quan trọng trong nhiều phương tuyên Phế bình suyễn.
Tuy nhiên, Ma hoàng đồng thời kích thích hệ thần kinh và tim mạch, làm tăng nhịp tim, huyết áp và mức độ tỉnh táo. Không nên xem đây là vị thuốc chỉ có tác dụng làm giãn phế quản.
Chú ý
Dùng nhiều hoặc dùng vào buổi tối có thể gây mất ngủ, hồi hộp, bồn chồn, run tay và tim đập nhanh.
Thận trọng hoặc tránh dùng ở người tăng huyết áp, bệnh mạch vành, rối loạn nhịp tim, cường giáp, tăng nhãn áp, phì đại tuyến tiền liệt và mất ngủ.
Người đang dùng thuốc kích thích, thuốc chống sung huyết hoặc một số thuốc chống trầm cảm cần được kiểm tra tương tác.
Không tự dùng Ma hoàng cho trẻ em, phụ nữ mang thai hoặc người cao tuổi có bệnh tim.
II. CHƯƠNG DIỆP DU 樟葉油
Tên gọi
Dầu lá chương, còn gọi là Chương diệp du.
Nguồn gốc
Tinh dầu được chiết từ lá của cây thuộc chi Cinnamomum. Thành phần có thể thay đổi rõ tùy loài thực vật và quy trình chiết xuất.
Thành phần được tài liệu nêu
Cineole, linalool, camphor và một số thành phần tinh dầu khác.
Công năng được ghi nhận
Khu phong tán hàn, lý khí, hỗ trợ giảm ho, hóa đàm và bình suyễn.
Phân tích
Một số thành phần tinh dầu có thể ảnh hưởng đến cơ trơn đường thở và tạo cảm giác thông thoáng hô hấp. Tuy nhiên, tác dụng phụ thuộc vào thành phần hóa học cụ thể và nồng độ của từng sản phẩm.
Chú ý
Không uống tinh dầu nguyên chất.
Camphor có thể gây độc thần kinh, co giật và rối loạn hô hấp nếu sử dụng sai liều.
Không nhỏ tinh dầu trực tiếp vào mũi hoặc miệng trẻ nhỏ.
Khí dung tinh dầu có thể kích thích đường thở và làm cơn hen nặng hơn ở người nhạy cảm.
Có thể gây buồn nôn, chóng mặt, đau đầu hoặc kích ứng da và niêm mạc.
III. DẦU SƠN THƯƠNG TỬ 山蒼子油
Nguồn gốc
Tinh dầu từ quả hoặc bộ phận thích hợp của cây Sơn thương tử.
Thành phần cần xác định
Tài liệu nêu citronellal là thành phần chính. Tuy nhiên, thành phần tinh dầu Sơn thương tử có thể thay đổi theo loài và nguồn dược liệu; một số nguồn có thể chứa citral với tỷ lệ đáng kể.
Công năng được tài liệu ghi nhận
Ôn trung, kiện Vị, lý khí, hỗ trợ bình suyễn và chống dị ứng.
Phân tích
Tinh dầu được cho là có thể làm giảm co thắt cơ trơn khí quản trong một số thử nghiệm. Tuy nhiên, đây là chế phẩm tinh dầu, không nên đồng nhất hoàn toàn với công năng của một vị thuốc sắc truyền thống.
Chú ý
Có thể gây khô miệng, khô họng, chóng mặt, hắt hơi và kích ứng khi hít.
Không tự dùng dưới dạng khí dung cho người hen.
Không uống tinh dầu nguyên chất.
Cần thận trọng ở trẻ em, phụ nữ mang thai và người có bệnh gan.
IV. KHỔ CAM THẢO 苦甘草
Tên gọi cần xác định
Tên Khổ cam thảo trong tài liệu có thể chỉ một dược liệu chứa alkaloid nhóm quinolizidine, trong đó có sophoridine. Tuy nhiên, chỉ căn cứ tên tiếng Việt này chưa đủ để xác định chính xác loài thực vật.
Thành phần được tài liệu nêu
Nhiều alkaloid, trong đó có sophoridine.
Công năng được ghi nhận
Thanh nhiệt giải độc, nhuận Phế chỉ khái, bình suyễn.
Phân tích
Tài liệu cho rằng dược liệu có tác dụng bình suyễn và giảm ho nhẹ, nhưng tác dụng long đờm không rõ. Những nhận định này chủ yếu gắn với các alkaloid chiết xuất, không đồng nghĩa với việc toàn dược liệu có thể được dùng tùy ý.
Chú ý
Tên dược liệu cần được xác định bằng tên chữ Hán đầy đủ và tên khoa học trước khi sử dụng.
Một số alkaloid thuộc nhóm này có thể ảnh hưởng đến thần kinh, tim và gan.
Không dùng dược liệu hoặc chế phẩm chiết xuất không rõ nguồn gốc.
Người bệnh gan cần đặc biệt thận trọng.
V. KHỔ SÂM 苦參
Bộ phận dùng
Rễ đã phơi hoặc sấy khô của cây Khổ sâm.
Thành phần chính
Chứa matrine, oxymatrine, sophoridine, flavonoid và các hợp chất khác.
Tính vị – Quy kinh
Vị đắng, tính hàn. Quy kinh Tâm, Can, Vị, Đại tràng và Bàng quang theo các tài liệu khác nhau.
Công năng
Thanh nhiệt táo thấp, sát trùng, lợi niệu.
Công năng bình suyễn được ghi nhận chủ yếu trong một số nghiên cứu và chế phẩm chiết xuất.
Phân tích
Một số alkaloid của Khổ sâm được nghiên cứu về tác dụng điều hòa viêm và co thắt đường thở. Tuy nhiên, Khổ sâm trong Trung y thường được dùng nhiều hơn cho thấp nhiệt, ngứa và bệnh ngoài da, không phải vị bình suyễn thông thường trong mọi chứng hen.
Chú ý
Tính đắng hàn tương đối mạnh, không phù hợp với người Tỳ Vị hư hàn và tiêu chảy.
Khí dung có thể gây ngứa họng, ho và kích thích đường thở.
Liều cao hoặc chế phẩm đậm đặc có thể gây buồn nôn, chóng mặt, rối loạn thần kinh hoặc tim mạch.
Không tự dùng alkaloid Khổ sâm dạng tiêm.
VI. TIÊU MỤC 椒目
Bộ phận dùng
Hạt của cây Hoa tiêu hoặc một số loài cùng chi, cần xác định đúng nguồn dược liệu.
Thành phần được tài liệu nêu
Tinh dầu và một số hợp chất thơm dễ bay hơi.
Tính vị – Quy kinh
Vị đắng, cay, tính hàn hoặc hơi hàn theo một số tài liệu. Quy kinh Phế và Bàng quang.
Công năng
Lợi thủy tiêu thũng, hóa đàm bình suyễn.
Chủ trị
Đàm ẩm.
Suyễn do thủy khí nghịch lên.
Phù, tiểu tiện bất lợi trong trường hợp phù hợp.
Phân tích
Tiêu mục thiên về hành thủy và giáng khí. Vị thuốc phù hợp hơn khi suyễn có liên quan đến thủy ẩm và đàm ẩm, không phải mọi thể suyễn đều sử dụng được.
Chú ý
Có thể gây buồn nôn, chóng mặt và kích thích tiêu hóa.
Không dùng khi cơ thể mất nước, âm hư hoặc không có biểu hiện thủy ẩm.
Tên thực vật và phương pháp bào chế phải được xác định rõ.
VII. HỒ ĐỒI TỬ 胡頹子
Tên Việt
Hồ đồi tử; thường dùng quả hoặc lá tùy bài thuốc, cần ghi rõ bộ phận sử dụng.
Thành phần được tài liệu nêu
Alkaloid, flavonoid, coumarin và các hợp chất khác.
Công năng
Chỉ khái bình suyễn, thu liễm trong một số cách dùng cổ truyền.
Phân tích
Tài liệu cho rằng phần flavonoid có tác dụng giảm co thắt đường thở và từng được nghiên cứu trong viêm phế quản mạn hoặc hen.
Tuy nhiên, tác dụng của chất chiết xuất không thể được dùng để suy ra liều sử dụng an toàn của quả, lá hoặc toàn cây.
Chú ý
Không tự áp dụng phương pháp tiêm huyệt.
Tiêm huyệt có thể gây dị ứng, rét run, nhiễm trùng, tổn thương thần kinh và phản ứng toàn thân.
Chỉ nên dùng dược liệu khi xác định đúng bộ phận, cách chế biến và liều lượng.
VIII. THẤT DIỆP LIÊN 七葉蓮
Tên gọi cần xác định
Thất diệp liên là tên có thể được dùng cho một số loài thực vật khác nhau. Cần có tên khoa học và bộ phận dùng để tránh nhầm lẫn.
Thành phần được tài liệu nêu
Cành non có tinh dầu dễ bay hơi.
Công năng truyền thống thường được ghi nhận
Thư cân hoạt lạc, tiêu thũng, chỉ thống.
Tác dụng bình suyễn trong tài liệu
Tài liệu cho rằng một số chế phẩm có thể giảm co thắt phế quản do histamine và acetylcholine.
Chú ý
Đây không phải là vị bình suyễn thông dụng trong các phương cổ điển.
Không tự tiêm bắp hoặc sử dụng dịch chiết.
Tiêm có thể gây đau, dị ứng, nhiễm trùng và những phản ứng khó dự đoán.
Không dùng khi chưa xác định chính xác loài cây và chế phẩm.
IX. THIẾU NIÊN HỒNG 少年紅
Tên gọi chưa đủ rõ
Tên Thiếu niên hồng trong tài liệu chưa kèm tên khoa học, bộ phận dùng hoặc nguồn thực vật, vì vậy không thể xác định chắc chắn dược liệu.
Thành phần được nêu
Saponin triterpen, trong đó có saponin II.
Công năng được tài liệu ghi nhận
Bình suyễn chỉ khái, hoạt huyết chỉ thống.
Phân tích
Tài liệu cho rằng hoạt chất có tác dụng bình suyễn trong nghiên cứu thực nghiệm. Tuy nhiên, so sánh hiệu lực với aminophylline không đủ để khẳng định dược liệu an toàn hoặc hiệu quả hơn trong điều trị hen trên người.
Chú ý
Có thể gây chóng mặt, khô miệng và buồn nôn.
Không sử dụng khi chưa xác định được danh tính dược liệu và dạng chế phẩm.
Không dùng thay thế thuốc kiểm soát hoặc thuốc cắt cơn hen.
X. NGẢI DIỆP DU 艾葉油
Tên gọi
Dầu Ngải diệp.
Nguồn gốc
Tinh dầu được chiết từ lá Ngải cứu.
Thành phần chính
Có thể chứa cineole, borneol, terpinen-4-ol, thujone và nhiều thành phần dễ bay hơi khác; tỷ lệ thay đổi theo giống cây và phương pháp chiết xuất.
Công năng của Ngải diệp theo Trung y
Ôn kinh chỉ huyết, tán hàn chỉ thống, điều kinh và an thai trong một số trường hợp.
Tác dụng hô hấp được tài liệu nêu
Hỗ trợ giảm ho, hóa đàm và giảm co thắt phế quản.
Phân tích
Một số thành phần tinh dầu có thể ảnh hưởng đến cơ trơn và thần kinh trung ương. Tuy nhiên, tinh dầu Ngải diệp có thể chứa chất gây độc nếu dùng liều cao.
Chú ý
Không uống tinh dầu nguyên chất.
Có thể gây khô miệng, buồn nôn, chóng mặt, đau đầu hoặc kích thích ho sặc.
Khí dung tinh dầu có thể làm co thắt phế quản ở người hen nhạy cảm.
Một số thành phần như thujone có nguy cơ gây độc thần kinh và co giật khi dùng quá mức.
Không dùng cho trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai nếu chưa có hướng dẫn chuyên môn.
XI. VÂN HƯƠNG THẢO 芸香草
Tên gọi cần xác định
Vân hương thảo trong tài liệu được mô tả là cây có tinh dầu giàu piperitone. Cần kèm tên khoa học để xác định đúng loài.
Thành phần được tài liệu nêu
Tinh dầu khoảng 1%, trong đó piperitone chiếm tỷ lệ tương đối cao.
Công năng được ghi nhận
Bình suyễn, giảm ho, khu phong lợi thấp, giảm đau.
Phân tích
Tinh dầu được cho là có khả năng làm giãn cơ trơn phế quản và giảm co thắt do histamine trong nghiên cứu thực nghiệm.
Chú ý
Tinh dầu dễ gây buồn nôn, nôn, đau đầu và chóng mặt.
Không uống tinh dầu nguyên chất.
Không dùng dạng khí dung khi chưa có chế phẩm chuẩn hóa.
Các công năng như cầm máu, thông kinh và bình suyễn cần được phân biệt theo dạng thuốc và liều dùng, không nên gộp chung thành hướng dẫn tự sử dụng.
XII. ĐỊA LONG 地龍
Tên dược liệu
Địa long, tức giun đất đã được xử lý và chế biến theo tiêu chuẩn dược liệu.
Thành phần chính
Chứa protein, acid amin, acid béo, cholesterol, choline, các enzym và nhiều hợp chất khác.
Tính vị – Quy kinh
Vị mặn, tính hàn. Quy kinh Can, Tỳ, Bàng quang và Phế theo từng hệ thống tài liệu.
Công năng
Thanh nhiệt tức phong, thông kinh hoạt lạc, bình suyễn, lợi niệu.
Chủ trị
Sốt cao co giật.
Phong nhiệt gây co cứng.
Kinh lạc bế tắc, liệt hoặc đau.
Phế nhiệt suyễn khái.
Tiểu tiện bất lợi.
Phân tích
Địa long được dùng trong một số chứng suyễn thiên về nhiệt, đặc biệt khi đường thở co thắt và Phế khí không thông. Một số chất chiết xuất được nghiên cứu về tác dụng làm giãn cơ trơn phế quản.
Tuy nhiên, thành phần và tác dụng của toàn dược liệu rất phức tạp, không nên quy tác dụng bình suyễn chỉ cho một chất như natri succinate.
Chú ý
Không tự tiêm chế phẩm Địa long.
Chế phẩm tiêm có thể gây mề đay, dị ứng nặng hoặc sốc phản vệ.
Người huyết áp thấp, bệnh tim nặng, rối loạn đông máu và phụ nữ mang thai cần thận trọng.
Dược liệu phải được chế biến hợp vệ sinh và kiểm soát vi sinh vật.
XIII. PHÂN LOẠI THEO CÔNG NĂNG
Ma hoàng.
Thích hợp khi ngoại tà làm Phế khí bế tắc, đặc biệt phong hàn bó biểu.
Dầu Ngải diệp.
Chương diệp du.
Dầu Sơn thương tử.
Nhóm này chủ yếu là tinh dầu hoặc chế phẩm chiết xuất, không dùng như thuốc sắc thông thường và không tự khí dung.
Khổ sâm.
Khổ cam thảo khi xác định đúng dược liệu.
Địa long.
Phù hợp hơn khi có biểu hiện nhiệt, nhưng phải biện chứng rõ và chú ý độc tính.
Tiêu mục.
Địa long trong một số trường hợp.
Nhóm này thích hợp khi suyễn đi kèm đàm ẩm hoặc thủy khí, không phù hợp với suyễn do âm hư.
Hồ đồi tử.
Thất diệp liên.
Thiếu niên hồng.
Vân hương thảo.
Khổ cam thảo.
Các tên này cần bổ sung tên khoa học, bộ phận dùng và dạng chế phẩm trước khi đưa vào hướng dẫn sử dụng.
XIV. NHỮNG ĐIỂM CẦN THẬN TRỌNG
Không dùng dược liệu bình suyễn thay cho thuốc cắt cơn hen.
Không tự dùng Ma hoàng khi có tăng huyết áp, bệnh tim hoặc cường giáp.
Không uống hoặc khí dung tinh dầu nguyên chất.
Không tự dùng chế phẩm tiêm, tiêm bắp hoặc tiêm huyệt từ dược liệu.
Không dùng cây Đỗ quyên, Ngải cứu hoặc các cây có tinh dầu để xông trực tiếp cho người đang lên cơn hen.
Không sử dụng dược liệu chưa xác định được tên khoa học.
Không dựa vào kết quả thí nghiệm trên động vật để tự thay đổi thuốc điều trị hen.
Người bệnh hen cần tiếp tục dùng thuốc kiểm soát theo đơn ngay cả khi triệu chứng tạm ổn.
XV. DẤU HIỆU CẦN CẤP CỨU
Khó thở tăng nhanh.
Không thể nói thành câu.
Co kéo lồng ngực hoặc cánh mũi phập phồng.
Môi, lưỡi hoặc đầu ngón tay tím.
Thuốc cắt cơn không còn hiệu quả như thường lệ.
Lơ mơ, buồn ngủ bất thường hoặc kích động.
Đau ngực, ngất hoặc tim đập rất nhanh.
Thở yếu dần hoặc tiếng khò khè đột ngột giảm trong khi người bệnh vẫn khó thở.
Nói tóm lại, các dược liệu có tác dụng bình suyễn thuộc nhiều nhóm khác nhau. Ma hoàng thiên về tuyên Phế và giãn đường thở; Địa long thiên về thanh nhiệt, thông lạc và bình suyễn; Tiêu mục thiên về hành thủy, hóa đàm; Khổ sâm và một số alkaloid thực vật được nghiên cứu theo hướng thanh nhiệt, chống viêm và giảm co thắt. Các loại tinh dầu như Chương diệp du, Sơn thương tử du và Ngải diệp du có thể ảnh hưởng đến cơ trơn phế quản nhưng cũng dễ kích thích đường thở và gây độc khi sử dụng sai. Một số tên như Thiếu niên hồng, Thất diệp liên, Khổ cam thảo và Vân hương thảo chưa đủ dữ liệu để xác định chính xác, vì vậy không nên đưa vào sử dụng khi chưa làm rõ nguồn dược liệu và dạng chế phẩm.
Trường Xuân biên soạn