Cường giáp là tình trạng tuyến giáp hoạt động quá mức, làm cơ thể xuất hiện các biểu hiện chuyển hóa tăng như sợ nóng, ra nhiều mồ hôi, hồi hộp, tim đập nhanh, dễ cáu gắt, run tay, ăn nhiều nhưng gầy sút, mất ngủ, đại tiện nhiều lần, bướu giáp và lồi mắt.
Trong Trung y không có bệnh danh hoàn toàn tương ứng với “cường giáp”. Căn cứ biểu hiện vùng cổ sưng to, tình chí bất ổn, đàm khí kết tụ và các triệu chứng toàn thân, bệnh thường được xếp vào phạm vi Anh bệnh 瘿病, trong đó gần với cường giáp nhất là Khí anh 气瘿 và Ưu anh 忧瘿.
I. NGUYÊN NHÂN VÀ BỆNH CƠ
Uất ức, lo nghĩ hoặc giận dữ kéo dài làm Can mất sơ tiết, khí cơ uất trệ. Khí uất lâu ngày hóa hỏa, làm tổn thương âm dịch; Can khí hoành nghịch phạm Tỳ, khiến Tỳ mất vận hóa, thấp tụ thành đàm. Đàm, khí và hỏa kết lại ở vùng cổ tạo thành bướu giáp.
Thận là gốc tiên thiên, tàng tinh và làm căn bản của âm dương toàn thân. Thận âm không đủ thì Can dương mất chế ước, có thể sinh run tay, bứt rứt, chóng mặt và mất ngủ. Thận dương suy thì khí hóa thủy dịch không thuận, đàm ẩm dễ hình thành và kết lại ở cổ.
Ăn nhiều thức ăn béo, ngọt, cay nóng hoặc uống rượu thường xuyên làm tổn thương Tỳ Vị. Tỳ mất vận hóa, thấp đàm sinh ra; thấp đàm kết hợp khí trệ và hỏa nhiệt làm bệnh kéo dài.
Ngoại tà có thể là yếu tố khởi phát trên nền tạng phủ đã suy yếu. Tuy nhiên, cường giáp không nên được hiểu đơn giản là bệnh do nhiễm khuẩn.
Bản hư thường là khí âm lưỡng hư, Can Thận âm hư hoặc Tỳ khí suy yếu. Tiêu thực gồm khí uất, đàm kết, hỏa vượng và huyết ứ.
Nói tóm lại, bệnh thường do khí, đàm, hỏa và ứ kết hợp, lấy Can mất sơ tiết làm khâu quan trọng, lâu ngày làm tổn thương Tâm, Tỳ và Thận.
II. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
Điều trị cần căn cứ thể bệnh để vận dụng các phép sơ Can lý khí, thanh Can tả hỏa, kiện Tỳ hóa đàm, tư âm giáng hỏa, ích khí dưỡng âm, bình Can tiềm dương, ninh Tâm an thần, hoạt huyết thông lạc và nhuyễn kiên tán kết.
Trung y có thể hỗ trợ giảm hồi hộp, mất ngủ, mệt mỏi, khô miệng, bứt rứt và điều chỉnh thể trạng. Tuy nhiên, thuốc Trung y không thay thế thuốc kháng giáp, iốt phóng xạ hoặc phẫu thuật khi đã có chỉ định.
III. THỂ KHÍ UẤT ĐÀM KẾT
Chủ chứng: Vùng cổ sưng to lan tỏa, khối sưng mềm và tương đối nhẵn, cổ nghẹn, nuốt vướng, họng nhiều đàm, ngực tức, hay thở dài, đau tức mạn sườn, tâm trạng uất ức hoặc nóng nảy, sợ nóng, ra mồ hôi, lưỡi nhạt đỏ, rêu trắng dày nhờn, mạch huyền hoạt hoặc huyền sác.
Bệnh cơ: Can khí uất kết, Tỳ mất vận hóa, đàm khí giao kết ở vùng cổ.
Phép trị: Sơ Can lý khí, hóa đàm, nhuyễn kiên tán kết.
Phương thang: Tứ hải Thư uất hoàn gia giảm: Trần bì, Hương phụ, Chỉ xác, Uất kim, Côn bố, Hải tảo, Ô tặc cốt và các vị lý khí hóa đàm phù hợp.
Gia giảm: Ngực tức nghẹn rõ gia Hậu phác, Qua lâu nhân; đại tiện lỏng gia Sơn dược, Bạch truật, Phục linh; khàn tiếng hoặc họng khó chịu gia Cát cánh, Ngưu bàng tử, Xạ can.
Chú ý: Côn bố và Hải tảo chứa lượng iốt không ổn định, không nên tự dùng khi đang điều trị cường giáp. Hoàng dược tử và Hồng nha đại kích có độc tính, không đưa vào phương dùng thông thường.
IV. THỂ CAN VỊ HỎA VƯỢNG
Chủ chứng: Cổ sưng mềm, mặt đỏ, mắt đỏ, tính khí nóng nảy, hồi hộp, mất ngủ, miệng đắng, họng khô, ăn nhiều mau đói, khát thích uống mát, sợ nóng, ra nhiều mồ hôi, run tay, người gầy nhanh, đại tiện có thể táo hoặc nhiều lần, lưỡi đỏ, rêu vàng khô, mạch huyền sác hữu lực.
Bệnh cơ: Can uất hóa hỏa, hỏa tà phạm Vị, Vị hỏa mạnh làm tiêu hao tân dịch và khí huyết.
Phép trị: Thanh Can tả Vị, dưỡng âm sinh tân, hóa đàm tán kết.
Phương thang: Long đởm Tả Can thang hợp Thanh Vị tán gia giảm: Long đởm thảo, Hoàng cầm, Chi tử, Sinh địa, Tri mẫu, Sinh thạch cao, Đan bì, Hoàng liên, Ngọc trúc, Liên kiều, Câu đằng và Bạch tật lê.
Gia giảm: Đại tiện táo gia Đại hoàng với liều thích hợp; hồi hộp, mất ngủ gia Toan táo nhân, Bá tử nhân; mắt đỏ căng gia Cúc hoa, Quyết minh tử.
Chú ý: Phương thanh nhiệt khổ hàn không thích hợp dùng kéo dài ở người ăn kém, tiêu chảy hoặc Tỳ Vị hư. Sinh thạch cao và Đại hoàng cần căn cứ thể trạng để sử dụng.
V. THỂ KHÍ ÂM LƯỠNG HƯ
Chủ chứng: Cổ sưng nhẹ hoặc không rõ, tinh thần mệt mỏi, hơi thở ngắn, ra nhiều mồ hôi, hồi hộp, mất ngủ, miệng họng khô, sắc mặt kém tươi, ăn kém, đại tiện lỏng, lưng gối mỏi, chân có thể phù, tay và lưỡi run, lưỡi đỏ ít rêu, mạch trầm tế sác nhưng vô lực.
Bệnh cơ: Uất hỏa kéo dài làm tổn thương khí và âm; khí hư không vận hóa, âm hư không nuôi dưỡng cân mạch và Tâm thần.
Phép trị: Ích khí dưỡng âm, sinh tân, ninh Tâm, hóa đàm tán kết.
Phương thang: Sinh mạch ẩm hợp Mẫu lệ tán gia giảm: Hoàng kỳ, Thái tử sâm, Bạch truật, Sinh địa, Bạch thược, Mạch môn, Ngũ vị tử, Bá tử nhân, Tang thầm, Huyền sâm, Hạ khô thảo, Qua lâu nhân và Sinh Mẫu lệ.
Gia giảm: Đại tiện lỏng, ăn kém gia Sơn dược, Bạch biển đậu, Sa nhân; ra nhiều mồ hôi gia Phù tiểu mạch, Ma hoàng căn; run rõ gia Câu đằng, Thạch quyết minh; mất ngủ gia Toan táo nhân, Dạ giao đằng.
Chú ý: Không dùng Nhân sâm hoặc Hoàng kỳ liều cao một cách máy móc khi người bệnh còn hỏa vượng, tim đập quá nhanh hoặc huyết áp chưa ổn định.
VI. THỂ DƯƠNG CANG PHONG ĐỘNG
Chủ chứng: Hồi hộp, phiền táo, nóng nảy, sợ nóng, ra nhiều mồ hôi, miệng khô, ăn nhiều mau đói, người gầy, đầu choáng, mắt hoa, run tay và lưỡi rõ, cổ sưng, mắt lồi, có thể đau đầu và huyết áp tăng, lưỡi đỏ ít rêu, mạch huyền tế sác hữu lực.
Bệnh cơ: Can Thận âm hư không chế được dương, Can dương thượng cang, nội phong phát động.
Phép trị: Tư âm tiềm dương, bình Can tức phong, ninh Tâm hóa đàm.
Phương thang: Trấn Can tức phong thang hoặc phương tư âm tiềm dương gia giảm: Thục địa, Bạch thược, Hoài ngưu tất, Thiên môn, Huyền sâm, Đan bì, Tri mẫu, Câu đằng, Quyết minh tử, Long cốt, Mẫu lệ, Phục linh và Toan táo nhân.
Gia giảm: Âm hư rõ gia Mạch môn, A giao; mất ngủ, phiền táo gia Bá tử nhân, Dạ giao đằng; run nhiều gia Thiên ma, Câu đằng.
Chú ý: Không sử dụng Toàn yết, Ngô công hoặc dược liệu có độc để tự chữa run. Mắt lồi kèm đau mắt, đỏ mắt, giảm thị lực hoặc không nhắm kín mắt cần được khám chuyên khoa mắt sớm.
VII. THỂ ÂM HƯ HỎA VƯỢNG
Chủ chứng: Cổ sưng to nhỏ không đều, hình thể gầy, mắt khô hoặc lồi, mặt nóng bừng, họng khô, ăn nhiều mau đói, phiền táo, dễ cáu, hồi hộp, ra mồ hôi, chóng mặt, mất ngủ, tay run, lưng gối mỏi, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Bệnh cơ: Hỏa uất kéo dài làm tổn thương âm, âm hư không chế được hỏa, hư hỏa bốc lên.
Phép trị: Tư âm giáng hỏa, dưỡng Tâm, hóa đàm tán kết.
Phương thang: Tri bá Địa hoàng hoàn gia giảm: Tri mẫu, Hoàng bá, Sinh địa, Sơn dược, Sơn thù nhục, Phục linh, Đan bì, Hạn liên thảo, Huyền sâm, Bối mẫu và Mẫu lệ.
Gia giảm: Tâm hỏa vượng gia Hoàng liên; khí đoản, mệt mỏi gia Thái tử sâm, Hoàng kỳ; hư nhiệt rõ gia Địa cốt bì, Thanh hao; đại tiện lỏng gia Ý dĩ nhân, Bạch truật.
Chú ý: Người Tỳ hư, ăn kém và đại tiện lỏng cần giảm các vị đắng lạnh, nê trệ. Không tự dùng Hoàng dược tử.
VIII. THỂ CAN UẤT TỲ HƯ
Chủ chứng: Tính tình dễ cáu, hay thở dài, ngực và mạn sườn đầy tức, bụng trướng, ăn kém, đại tiện lỏng hoặc nát, buồn nôn, mệt mỏi, cổ sưng thay đổi theo tâm trạng, hồi hộp, ra mồ hôi, rêu lưỡi trắng hoặc trắng nhờn, mạch huyền hoạt.
Bệnh cơ: Can khí uất trệ, hoành nghịch phạm Tỳ, làm Tỳ mất kiện vận, đàm thấp sinh ra.
Phép trị: Sơ Can giải uất, kiện Tỳ hòa Vị, hóa đàm.
Phương thang: Sài hồ Sơ Can tán hợp Lục quân tử thang gia giảm: Sài hồ, Hương phụ, Bạch thược, Xuyên khung, Uất kim, Trần bì, Bán hạ, Chỉ xác, Bạch truật, Đảng sâm, Hậu phác, Sơn dược và Mạch nha sao.
Gia giảm: Can uất hóa hỏa gia Chi tử, Hoàng cầm; khí trệ huyết ứ gia Đan sâm, Xích thược, Nga truật; Tỳ hư rõ gia Hoàng kỳ, Bạch biển đậu, Ý dĩ nhân, Hoắc hương.
Chú ý: Không nên dùng quá nhiều thuốc thanh hỏa khi biểu hiện Tỳ hư, ăn kém và tiêu chảy là chính.
IX. THỂ ĐÀM KẾT HUYẾT Ứ
Chủ chứng: Bệnh kéo dài, bướu giáp lâu không tiêu, sờ cứng hoặc có nhân, nuốt vướng, cổ nghẹn, ngực tức, họng có đàm, lồi mắt, phiền táo, ăn kém, phân nát, lưỡi tím tối hoặc có điểm ứ, rêu trắng dày nhờn, mạch huyền sáp.
Bệnh cơ: Khí trệ sinh đàm, đàm kết lâu ngày làm huyết hành không thông, đàm và huyết ứ kết lại ở vùng cổ.
Phép trị: Lý khí hóa đàm, hoạt huyết, nhuyễn kiên tiêu anh.
Phương thang: Hải tảo Ngọc hồ thang gia giảm: Trần bì, Thanh bì, Bán hạ, Bối mẫu, Liên kiều, Nga truật, Đan sâm, Xích thược, Mẫu lệ và các vị hóa đàm tán kết phù hợp.
Gia giảm: Mệt mỏi, sắc mặt kém tươi gia Hoàng kỳ, Đảng sâm, Đương quy; ngực tức rõ gia Uất kim, Chỉ xác, Qua lâu nhân; nhân giáp cứng gia Sơn từ cô và Đan sâm sau khi đã được kiểm tra chuyên khoa.
Chú ý: Không dùng Xuyên sơn giáp, Thổ miết trùng hoặc Hoàng dược tử. Nhân tuyến giáp cứng, phát triển nhanh, khàn tiếng, nuốt khó hoặc nổi hạch cổ cần được siêu âm và đánh giá để loại trừ ung thư.
X. THỂ TÂM CAN ÂM HƯ
Chủ chứng: Cổ trước sưng nhẹ hoặc vừa, khối sưng mềm, hồi hộp, ra mồ hôi, tâm phiền, mất ngủ, nhiều mộng, run tay, mắt khô, hoa mắt, mệt mỏi, người gầy, lưỡi đỏ ít rêu, thân lưỡi run, mạch huyền tế sác.
Bệnh cơ: Đàm khí uất kết hóa hỏa, hỏa làm tổn thương Tâm âm và Can huyết, cân mạch cùng Tâm thần mất nuôi dưỡng.
Phép trị: Tư dưỡng Tâm Can, nhu Can, an thần, sinh tân.
Phương thang: Thiên vương Bổ tâm đan hợp Nhất quán tiễn gia giảm: Thái tử sâm, Huyền sâm, Sinh địa, Mạch môn, Thiên môn, Đương quy, Bạch thược, Bá tử nhân, Ngũ vị tử, Phục linh, Câu kỷ tử, Xuyên luyện tử, Câu đằng và Toan táo nhân.
Gia giảm: Đại tiện lỏng gia Sơn dược, Bạch truật, Ý dĩ nhân; lưng gối mỏi gia Tang ký sinh, Thỏ ty tử, Ngưu tất; khí huyết hư rõ gia Hoàng kỳ, A giao.
Chú ý: Không dùng Thần sa hoặc Chu sa vì chứa thủy ngân, có thể gây độc thần kinh và tổn thương thận.
XI. THUỐC TRUNG Y CHỨA IỐT
Hải tảo, Côn bố, Hải đới và một số dược liệu biển chứa iốt với hàm lượng thay đổi. Iốt có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổng hợp và giải phóng hormon tuyến giáp. Dùng không đúng thời điểm hoặc kéo dài có thể làm kết quả điều trị mất ổn định, thậm chí làm bệnh nặng hơn ở một số trường hợp.
Chú ý: Không tự dùng thuốc chứa iốt để làm tiêu bướu giáp; không căn cứ đơn thuần vào rêu lưỡi hoặc bướu cổ để quyết định dùng; cần thông báo cho bác sĩ nội tiết về mọi dược liệu và thực phẩm bổ sung đang sử dụng; người chuẩn bị điều trị iốt phóng xạ phải tuân thủ hướng dẫn về chế độ iốt của cơ sở điều trị.
XII. HOÀNG DƯỢC TỬ
Hoàng dược tử có tác dụng tiêu anh, tán kết trong một số tài liệu cũ nhưng là vị có độc, có thể gây tổn thương gan và thận.
Dấu hiệu cảnh báo gồm chán ăn, buồn nôn, nôn, sợ thức ăn có dầu mỡ, mệt tăng, đau vùng gan, vàng da, nước tiểu sẫm hoặc xét nghiệm chức năng gan bất thường.
Chú ý: Không nên tự sử dụng Hoàng dược tử, kể cả với liều thấp. Người có bệnh gan, bệnh thận hoặc đang dùng thuốc kháng giáp càng không nên dùng vì thuốc kháng giáp cũng có thể gây tổn thương gan.
XIII. CHÂM CỨU HỖ TRỢ
Châm cứu có thể hỗ trợ giảm hồi hộp, mất ngủ, căng thẳng, ra nhiều mồ hôi và một số triệu chứng cơ năng. Không nên khẳng định châm cứu có thể thay thế thuốc kháng giáp hoặc tự làm hormon tuyến giáp trở lại bình thường.
Huyệt thường dùng: Đại trường-4 Hợp cốc, Vị-36 Túc tam lý, Nhâm-22 Thiên đột, Tiểu trường-17 Thiên dung, Tâm bào-5 Gian sử, Tỳ-6 Tam âm giao, Tâm bào-6 Nội quan, Tâm-7 Thần môn, Can-3 Thái xung, Đởm-20 Phong trì, Thận-7 Phục lưu.
Lồi mắt có thể phối hợp: Bàng quang-2 Toản trúc, Vị-2 Tứ bạch, Đởm-20 Phong trì.
Chú ý: Không châm sâu trực tiếp vào tuyến giáp hoặc vùng có nhiều mạch máu; không tự châm huyệt ở cổ; không châm quanh mắt khi chưa có chuyên môn; các huyệt “Khí anh” và giáp tích cổ phải do người được đào tạo thực hiện.
XIV. KHÍ CÔNG VÀ DƯỠNG SINH
Có thể áp dụng các bài tập nhẹ như Bát đoạn cẩm, Thái cực quyền, đi bộ chậm, thở bụng và thư giãn toàn thân. Mục đích là ổn định tinh thần, hỗ trợ giấc ngủ và duy trì sức cơ.
Nguyên tắc: Tập ở nơi thoáng mát, thời gian ngắn rồi tăng dần; tránh nhịn thở, gắng sức hoặc đứng lâu; dừng tập khi hồi hộp tăng, chóng mặt, đau ngực, khó thở hoặc yếu chân.
Chú ý: Không sử dụng các phương pháp “phát ngoại khí”, “dẫn khí vào tuyến giáp” hoặc vận khí của người khác như một biện pháp điều trị. Không có cơ sở để cho rằng các thao tác này có thể điều chỉnh hormon tuyến giáp.
XV. CẠO GIÓ
Không nên cạo mạnh vùng cổ, vùng tuyến giáp hoặc tạo các điểm xuất huyết trên da. Người cường giáp có thể đang dùng thuốc làm giảm bạch cầu hoặc có rối loạn đông máu, khiến da dễ tổn thương và nhiễm trùng.
Nếu chỉ cạo nhẹ để thư giãn vùng lưng và vai thì phải tránh vùng da viêm, bầm tím, xuất huyết, người đang sốt cao hoặc có bệnh tim mạch chưa ổn định.
XVI. PHỐI HỢP ĐÔNG – TÂY Y
Thuốc kháng giáp phải dùng đúng liều và đủ thời gian theo bác sĩ. Không tự giảm hoặc ngừng thuốc khi triệu chứng đã bớt vì hormon tuyến giáp có thể vẫn còn cao.
Khi dùng Trung dược cần thông báo đầy đủ cho bác sĩ về thành phần, đặc biệt là thuốc có iốt, Hoàng dược tử, Đan sâm, Cam thảo và các thuốc thành phẩm không rõ thành phần.
Cần theo dõi định kỳ TSH, FT4, FT3, công thức máu và chức năng gan theo chỉ định.
Không áp dụng lại các phác đồ Thiamazole liều cố định trong tài liệu cũ. Liều thuốc hiện nay phải do bác sĩ điều chỉnh căn cứ mức hormon, tuổi, bệnh tim và phản ứng bất lợi.
XVII. CƯỜNG GIÁP SAU PHẪU THUẬT KÈM CO GIẬT HẠ CANXI
Tê quanh miệng, tê đầu ngón tay, co quắp bàn tay, chuột rút hoặc co giật sau phẫu thuật tuyến giáp có thể do hạ canxi máu và tổn thương tuyến cận giáp.
Đây là tình trạng cần xét nghiệm canxi và điều trị y khoa ngay. Trung dược bổ Can Thận hoặc tức phong không thể thay thế bổ sung canxi và vitamin D.
Chú ý: Không dùng Ngô công, Toàn yết hoặc các thuốc chống co giật Trung y để trì hoãn cấp cứu. Co thắt thanh quản, khó thở, co giật toàn thân hoặc rối loạn ý thức phải gọi cấp cứu.
XVIII. DẤU HIỆU TÁC DỤNG PHỤ CỦA THUỐC KHÁNG GIÁP
Sốt, đau họng, loét miệng hoặc nhiễm trùng bất thường có thể liên quan đến giảm bạch cầu hạt. Người bệnh cần ngừng dùng liều kế tiếp và liên hệ cơ sở điều trị để xét nghiệm công thức máu theo hướng dẫn khẩn cấp.
Vàng da, nước tiểu sẫm, ngứa toàn thân, đau hạ sườn phải, chán ăn hoặc buồn nôn kéo dài có thể liên quan đến tổn thương gan.
Phát ban, đau khớp hoặc sưng phù cũng cần được báo cho bác sĩ.
XIX. DẤU HIỆU CẦN CẤP CỨU
Sốt cao, tim đập rất nhanh, kích động hoặc mê sảng, nôn và tiêu chảy nhiều, khó thở, suy tim, ngất, đau ngực, yếu liệt, mất ý thức hoặc co giật.
Các biểu hiện này có thể gặp trong cơn bão giáp hoặc biến chứng tim mạch nghiêm trọng. Không tự dùng thuốc sắc, châm cứu hoặc cạo gió tại nhà.
XX. NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN ÁP DỤNG
Không tự ngừng thuốc kháng giáp.
Không dùng Hoàng dược tử.
Không dùng Chu sa hoặc Thần sa.
Không dùng Toàn yết, Ngô công, Hồng nha đại kích hoặc dược liệu có độc.
Không dùng Xuyên sơn giáp và sản phẩm từ động vật quý hiếm.
Không dùng thuốc thành phẩm không rõ thành phần.
Không tự bổ sung iốt hoặc dùng nhiều dược liệu biển.
Không châm kim trực tiếp vào tuyến giáp.
Không cạo mạnh gây xuất huyết ở vùng cổ.
Không dùng phát ngoại khí hoặc khí công thay thế điều trị nội tiết.
Không trì hoãn khám mắt khi lồi mắt tăng nhanh, đau mắt hoặc giảm thị lực.
Nói tóm lại, cường giáp theo Trung y thuộc phạm vi Anh bệnh, có bệnh cơ chủ yếu là Can uất, khí trệ, đàm kết, hỏa vượng và huyết ứ, lâu ngày làm khí âm và Can Thận cùng suy. Giai đoạn đầu thường thiên về khí uất đàm kết hoặc Can Vị hỏa vượng; bệnh kéo dài dễ chuyển sang khí âm lưỡng hư, âm hư hỏa vượng, Tâm Can âm hư hoặc đàm kết huyết ứ. Trung y có thể phối hợp để điều chỉnh thể trạng và giảm triệu chứng, nhưng việc kiểm soát hormon tuyến giáp, theo dõi tác dụng phụ của thuốc, bảo vệ tim và mắt vẫn là nền tảng của điều trị.
Trường Xuân biên soạn