Các biến chứng da do đái tháo đường hình thành bởi nhiều yếu tố phối hợp, trong đó thường gặp nhất là tổn thương vi mạch, tuần hoàn tại chỗ suy giảm, rối loạn thần kinh ngoại biên, da khô, sức đề kháng suy yếu và rối loạn chuyển hóa.
Theo Trung y, bệnh thường phát sinh trên nền Tiêu khát lâu ngày. Khí âm hao tổn làm cơ bì không được nuôi dưỡng; Tỳ mất kiện vận khiến thấp đàm nội sinh; huyết hành không thông làm lạc mạch ứ trở; bệnh kéo dài có thể sinh thấp nhiệt, nhiệt độc, huyết táo và phong ngứa.
I. BỆNH CƠ CHUNG
Tiêu khát lâu ngày làm khí và âm đều suy. Khí hư không vận hành được huyết, âm hư không nhu dưỡng được da, khiến da khô, ngứa, tổn thương lâu lành và dễ nhiễm trùng.
Tỳ mất kiện vận làm thủy thấp và đàm trọc tích lại ở cơ bì, có thể gây phù cứng, bọng nước, các sẩn màu vàng hoặc tổn thương da dai dẳng.
Vi mạch bị tổn thương, khí huyết lưu thông không thuận, làm da sạm, teo mỏng, cứng, đau hoặc hình thành các mảng hoại tử dạng lipid.
Đường huyết kiểm soát không tốt, da ẩm, nếp gấp nhiều hoặc có vết thương làm thấp nhiệt và độc tà dễ kết lại, gây viêm da, nấm, mụn mủ, loét và hóa mủ.
Huyết không nuôi dưỡng được da, da khô và phong từ trong sinh ra, biểu hiện bằng ngứa dai dẳng, nhất là về đêm.
II. U VÀNG DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
U vàng phát ban thường liên quan đến triglycerid máu tăng cao và đái tháo đường chưa được kiểm soát tốt. Tổn thương là các sẩn hoặc nốt nhỏ chắc, màu vàng cam hoặc vàng đỏ, thường mọc thành cụm ở mặt duỗi khuỷu tay, đầu gối, cánh tay, lưng, mu bàn tay hoặc mu bàn chân.
Theo Trung y, bệnh phần nhiều do Tỳ vận hóa suy yếu, thấp đàm tích tụ ở cơ bì.
Thể đàm thấp uất kết
Chủ chứng: Trên da xuất hiện nhiều sẩn hoặc nốt nhỏ màu vàng cam hay vàng đỏ, có thể mọc thành cụm, kèm mệt mỏi, chóng mặt, ngực đầy, khó chịu, buồn nôn, bụng trướng, lưỡi to có dấu răng, rêu trắng hơi nhờn, mạch huyền hoặc hoạt.
Phép trị: Kiện Tỳ trừ thấp, hóa đàm tán kết, kiêm hoạt huyết.
Phương thang: Ngũ linh tán hợp Tam tử Dưỡng thân thang gia vị: Phục linh 15 g, Trư linh 10 g, Trạch tả 15 g, Bạch truật 10 g, Quế chi 6 g, Tô tử 10 g, Sa nhân sao 10 g, Bạch giới tử 6 g, Sơn tra 15 g, Đan sâm 20 g.
Chú ý: Điều quan trọng nhất là kiểm soát đường huyết và triglycerid. U vàng xuất hiện đột ngột với số lượng nhiều có thể là dấu hiệu mỡ máu tăng rất cao, cần xét nghiệm và điều trị sớm.
III. CHỨNG CAROTEN MÁU
Chứng caroten máu biểu hiện bằng da vàng hoặc vàng cam, thường rõ ở lòng bàn tay, lòng bàn chân và vùng mặt, nhưng củng mạc mắt vẫn trắng.
Theo Trung y, màu vàng phần nhiều liên quan đến thấp. Màu vàng tươi thường thiên về thấp nhiệt; vàng tối thiên về thấp hàn; vàng úa, nhợt thường liên quan đến Tỳ hư.
Thể thấp nhiệt uất bức
Chủ chứng: Da mặt, lòng bàn tay và lòng bàn chân có màu vàng cam, có thể lan toàn thân nhưng lòng trắng mắt không vàng, kèm bứt rứt, khát, tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch huyền hoạt.
Phép trị: Thanh nhiệt lợi thấp, điều hòa Tỳ Vị, tiêu hoàng.
Phương thang: Nhân trần cao thang gia vị: Nhân trần 30 g, Chi tử 10 g, Đại hoàng 5 g, Hoàng bá 10 g, Phục linh 15 g, Ý dĩ nhân 15 g, Trạch tả 10 g, Sinh địa 10 g, Thiên hoa phấn 15 g.
Chú ý: Cần phân biệt với vàng da do bệnh gan hoặc tắc mật. Nếu củng mạc mắt vàng, nước tiểu sẫm, phân bạc màu, đau bụng hoặc mệt nhiều thì phải đi khám.
IV. CHỨNG CỨNG PHÙ DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Chứng cứng phù thường bắt đầu ở vùng sau gáy và vai, sau đó lan đến cổ, ngực, lưng và cánh tay. Da cứng, sưng, ấn không lõm, bề mặt nhẵn bóng, khiến cổ và vai vận động khó khăn.
Theo Trung y, bệnh liên quan đến vệ khí hư, phong hàn thấp xâm nhập, dinh vệ bất hòa và kinh lạc bế tắc. Bệnh kéo dài có thể chuyển thành dương hư hàn ngưng.
Chủ chứng: Da vùng cổ, vai và lưng cứng, sưng bóng, ấn không lõm, kèm đau mỏi khớp, cơ thể nặng nề, mệt mỏi, lưỡi nhạt đỏ, rêu trắng, mạch trầm.
Phép trị: Khu phong trừ thấp, ích khí hòa dinh, hoạt huyết thông lạc.
Phương thang: Khương hoạt Thắng thấp thang hợp Hoàng kỳ Quế chi ngũ vật thang gia giảm: Khương hoạt 10 g, Độc hoạt 10 g, Cảo bản 10 g, Phòng phong 10 g, Xuyên khung 10 g, Mạn kinh tử 10 g, Hoàng kỳ 10 g, Quế chi 10 g, Xích thược 10 g, Bạch thược 10 g.
Chủ chứng: Bệnh kéo dài, da cứng và sưng lan rộng, màu da không đổi, tay chân vận động khó khăn, sợ lạnh, lưng lạnh, tinh thần mệt mỏi, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế.
Phép trị: Ôn dương tán hàn, ích khí thông lạc, tiêu thũng.
Phương thang: Dương hòa thang gia giảm, thường dùng Thục địa, Quế chi, Đương quy, Đan sâm, Trạch lan, Phòng kỷ, Uy linh tiên và các vị ôn thông phù hợp.
Chú ý: Tài liệu gốc có dùng Phụ tử và Lộc giác giao. Phụ tử có độc tính tim mạch, không được tự sử dụng. Không chườm thuốc quá nóng vì có thể gây bỏng.
V. VẾT SẠM MÀU Ở MẶT TRƯỚC CẲNG CHÂN
Tổn thương thường xuất hiện ở mặt trước xương chày, ban đầu là sẩn đỏ sẫm hoặc ban xuất huyết nhỏ, sau đó để lại vùng da teo mỏng và tăng sắc tố màu nâu.
Theo Trung y, bệnh do khí huyết tại chỗ không điều hòa, lạc mạch ứ trệ, cơ bì mất nuôi dưỡng.
Thể khí huyết thất hòa
Chủ chứng: Mặt trước cẳng chân xuất hiện các mảng sắc tố nâu, hình tròn hoặc bầu dục, da tại chỗ mỏng và nhẵn, tổn thương có thể xuất hiện sau va chạm, xây xước hoặc côn trùng cắn và hồi phục chậm, lưỡi có thể tối hoặc có điểm ứ, mạch tế sáp.
Phép trị: Ích khí hoạt huyết, thông lạc sinh cơ.
Phương thang: Bổ dương Hoàn ngũ thang gia giảm: Đương quy 10 g, Xuyên khung 10 g, Xích thược 10 g, Đào nhân 10 g, Hồng hoa 10 g, Địa long 10 g, Kê huyết đằng 15 g, Quế chi 10 g, Hoàng kỳ 30 g.
Chú ý: Không xoa rượu thuốc lên vùng da trầy, loét hoặc giảm cảm giác. Tổn thương đỏ, nóng, đau, sưng hoặc có dịch cần được kiểm tra để loại trừ nhiễm trùng.
VI. HOẠI TỬ DẠNG LIPID
Bệnh thường xuất hiện ở mặt trước cẳng chân, biểu hiện bằng các mảng cứng màu vàng nâu hoặc đỏ sẫm, ranh giới rõ, trung tâm teo lõm, bề mặt có thể thấy các mao mạch giãn. Một số tổn thương có thể vỡ loét.
Theo Trung y, bệnh thường thuộc khí âm lưỡng hư, huyết ứ trở lạc.
Thể khí huyết ứ trệ
Chủ chứng: Mặt trước cẳng chân xuất hiện mảng xơ cứng màu vàng nâu hoặc đỏ sẫm, trung tâm teo lõm, có thể kèm khô miệng, uống nhiều, tiểu nhiều, tê yếu tứ chi, lưỡi đỏ tối, rêu trắng, mạch trầm sáp.
Phép trị: Hoạt huyết hóa ứ, ích khí dưỡng âm, thông lạc.
Phương thang: Quế chi Phục linh hoàn gia giảm: Quế chi 10 g, Phục linh 10 g, Đan sâm 30 g, Đương quy 10 g, Xích thược 10 g, Đan bì 10 g, Kê huyết đằng 15 g, Đào nhân 10 g, Hoàng tinh 10 g, Huyền sâm 15 g, Nga truật 10 g.
Chú ý: Không chiếu đèn nhiệt, đắp cao hoặc xoa bóp vùng tổn thương đã teo mỏng hay vỡ loét. Không uống rượu Hồng hoa hoặc rượu Đan sâm, nhất là khi đang dùng thuốc chống đông, thuốc kháng tiểu cầu hoặc có bệnh gan.
VII. VÒNG BAN HẠT
Vòng ban hạt là bệnh da mạn tính với các sẩn nhỏ xếp thành hình vòng. Tổn thương thường thấy ở mu tay, mu chân, vành tai hoặc lan tỏa toàn thân.
Theo Trung y, bệnh có thể liên quan đến thấp và huyết ứ kết lại ở cơ bì.
Thể thấp ứ kết hợp
Chủ chứng: Các sẩn màu hồng nhạt hoặc cùng màu da xếp thành vòng ở mu tay, mu chân, vành tai hoặc toàn thân, sờ chắc, không đau, không ngứa, lưỡi có rêu mỏng hơi nhờn, mạch nhu hoặc sáp.
Phép trị: Hóa thấp hoạt huyết, nhuyễn kiên tán kết.
Phương thang: Nhị truật cao hợp Đào hồng Tứ vật thang gia giảm: Thương truật 10 g, Bạch truật 10 g, Đào nhân 10 g, Hồng hoa 10 g, Xuyên khung 10 g, Xích thược 10 g, Nga truật 10 g, Trạch lan 10 g, Huyền sâm 15 g, Liên kiều 10 g.
Chú ý: Không tự dán cao thuốc lên vùng da chưa được chẩn đoán rõ. Tổn thương dạng vòng cũng có thể do nấm da hoặc các bệnh da khác.
VIII. ĐỎ MẶT DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Đỏ mặt kéo dài có thể liên quan đến giãn mao mạch và thiếu oxy mô. Theo Trung y, bệnh thường do âm dịch hao tổn, hư hỏa bốc lên.
Thể hư hỏa thượng viêm
Chủ chứng: Hai má, gò má hoặc cằm đỏ kéo dài, vùng đỏ không nóng rõ, có thể thấy mao mạch giãn, kèm mắt đỏ, chóng mặt, ù tai, khô miệng, khát nước, nóng lòng bàn tay chân, lưỡi đỏ ít rêu, mạch tế sác.
Phép trị: Tư âm giáng hỏa, lương huyết.
Phương thang: Tri bá Địa hoàng hoàn gia giảm: Tri mẫu 10 g, Hoàng bá 10 g, Sinh địa 30 g, Đan bì 12 g, Phục linh 10 g, Câu kỷ tử 10 g, Sơn thù nhục 10 g, Trạch tả 10 g, Ngưu tất 10 g, Bạch mao căn 15 g.
Chú ý: Không rửa mặt luân phiên bằng nước quá nóng và quá lạnh vì có thể làm mao mạch giãn và da nhạy cảm hơn. Đỏ mặt cũng có thể do thuốc, viêm da, bệnh tim mạch hoặc nội tiết.
IX. BỌNG NƯỚC DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Bọng nước thường xuất hiện đột ngột ở ngón chân, bàn chân, gót chân, cẳng chân hoặc bàn tay. Bọng có thành mỏng, dịch trong, ít viêm đỏ và thường không đau.
Theo Trung y, bọng nước không viêm phần nhiều thuộc Tỳ hư thấp tụ.
Thể Tỳ hư thấp tụ
Chủ chứng: Da đột nhiên xuất hiện bọng nước trong, không có quầng đỏ rõ, thường ở đầu chi hoặc vùng chịu áp lực, kèm cơ thể gầy yếu, bụng đầy, đại tiện lỏng, tay chân tê hoặc phù, lưỡi nhạt, rêu trắng nhờn, mạch nhu hoãn.
Phép trị: Kiện Tỳ ích khí, trừ thấp.
Phương thang: Trừ thấp Vị linh thang gia giảm: Bạch truật 10 g, Thương truật 10 g, Phục linh 15 g, Trạch tả 15 g, Hoạt thạch 10 g, Hậu phác 10 g, Hoàng kỳ 15 g, Ý dĩ nhân 15 g, Quế chi 15 g, Kê huyết đằng 15 g.
Chú ý: Không tự dùng kim chích bọng nước. Không bóc vách bọng. Cần giữ sạch, che phủ bằng gạc không dính và đi khám nếu bọng đỏ, đau, đục dịch, có mủ hoặc xuất hiện ở bàn chân thiếu máu.
X. NGỨA DA DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Ngứa có thể toàn thân hoặc khu trú ở âm hộ, bìu và hậu môn. Ngứa thường tăng về đêm, khi gặp nóng, uống rượu, mặc quần áo gây kích ứng hoặc tắm nước nóng.
Theo Trung y, ngứa toàn thân thường do huyết hư sinh phong; ngứa khu trú ở hạ tiêu thường do thấp nhiệt hạ chú.
Chủ chứng: Da khô, bong vảy, ngứa dữ dội, ngứa tăng về đêm, có nhiều vết gãi và vảy máu, kèm tâm phiền, dễ cáu, ngủ không yên, lưỡi nhạt đỏ, rêu trắng, mạch huyền tế.
Phép trị: Dưỡng huyết nhuận táo, bình Can tức phong, chỉ dương.
Phương thang: Đương quy ẩm tử gia giảm: Đương quy 10 g, Xuyên khung 10 g, Bạch thược 10 g, Sinh địa 12 g, Bạch tật lê 20 g, Hà thủ ô 10 g, Đan bì 10 g, Tạo giác thích 10 g, Câu đằng 10 g.
Chủ chứng: Âm hộ, hậu môn hoặc vùng da chân ẩm ướt và ngứa, gãi trầy, chảy dịch hoặc đóng vảy, gặp nóng ngứa tăng, có thể kèm tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác.
Phép trị: Thanh nhiệt lợi thấp, khu phong chỉ dương.
Phương thang: Long đởm Tả Can thang gia giảm: Long đởm thảo 10 g, Hoàng cầm 10 g, Chi tử 10 g, Sinh địa 10 g, Đương quy 10 g, Xa tiền tử 15 g, Trạch tả 10 g, Địa phu tử 15 g, Bạch tiên bì 15 g.
Châm cứu hỗ trợ
Huyệt thường dùng: Đại trường-11 Khúc trì, Đại trường-4 Hợp cốc, Tỳ-10 Huyết hải, Vị-36 Túc tam lý, Tỳ-6 Tam âm giao.
Chú ý: Không áp dụng tiêm thuốc vào huyệt. Ngứa toàn thân cũng có thể liên quan đến suy thận, bệnh gan, thuốc hoặc bệnh huyết học. Ngứa âm hộ cần loại trừ Candida và các bệnh phụ khoa.
XI. NHIỄM CANDIDA Ở DA
Nhiễm Candida thường xuất hiện ở nếp gấp, quanh móng, khóe miệng và vùng sinh dục. Tổn thương thường đỏ, ẩm, trợt, ngứa hoặc đau rát.
Theo Trung y, bệnh phần nhiều thuộc thấp nhiệt độc thịnh.
Thể thấp nhiệt độc thịnh
Chủ chứng: Tổn thương da đỏ, ẩm, trợt lở, da tại chỗ bị ngâm trắng, có thể có mụn mủ nhỏ quanh rìa, ngứa hoặc rát dữ dội, kèm bứt rứt, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hoạt sác.
Phép trị: Thanh nhiệt táo thấp, giải độc.
Phương thang: Đạo xích tán hợp Nhị diệu tán gia vị: Sinh địa 10 g, Trúc diệp 6 g, Mộc thông 10 g, Thương truật 10 g, Hoàng bá 10 g, Khổ sâm 10 g, Xích phục linh 15 g, Bạch tiên bì 15 g, Bồ công anh 15 g, Sinh cam thảo 3 g.
Chú ý: Điều trị chính vẫn là thuốc kháng nấm thích hợp. Không chích mụn mủ, không rắc bột thuốc hoặc phèn lên vùng trợt loét. Giữ các nếp gấp sạch và khô.
XII. NẤM BÀN TAY VÀ BÀN CHÂN
Nấm chân có thể biểu hiện bằng bong vảy, ngứa, mụn nước, nứt kẽ hoặc da dày sừng. Ở người đái tháo đường, các vết nứt là cửa ngõ để vi khuẩn xâm nhập, gây viêm mô tế bào hoặc loét bàn chân.
Theo Trung y, nấm tay được gọi là Ngỗ chưởng phong, nấm chân thuộc Túc thấp khí.
Nguyên tắc điều trị
Tổn thương khô và bong vảy lấy khu phong, táo thấp làm chính.
Tổn thương ẩm, trợt và chảy dịch lấy thanh nhiệt, táo thấp, giải độc làm chính.
Tổn thương dày sừng cần kiên trì làm mềm da và dùng thuốc kháng nấm phù hợp.
Chú ý: Không ngâm chân bằng thuốc sắc, giấm, thuốc tím hoặc dung dịch acid khi có đái tháo đường, giảm cảm giác, nứt da hoặc loét. Không dùng Hùng hoàng, Đại phong tử hoặc thuốc không rõ thành phần. Thuốc kháng nấm cần được dùng đủ thời gian theo hướng dẫn.
XIII. NẤM MÓNG
Nấm móng làm móng dày, đổi màu, giòn, vụn hoặc tách khỏi giường móng. Bệnh thường tồn tại đồng thời với nấm bàn chân.
Nguyên tắc chăm sóc
Giữ móng ngắn và khô.
Điều trị đồng thời nấm da bàn chân.
Không dùng chung kềm cắt móng.
Khử sạch dụng cụ sau khi dùng.
Mang giày dép thông thoáng.
Không tự nhổ móng.
Chú ý: Không dùng giấm acid nồng độ cao, cao dán làm bong móng hoặc dao nạo móng tại nhà. Người đái tháo đường dễ nhiễm trùng và vết thương lâu lành; móng dày hoặc mọc quặp nên được nhân viên chăm sóc bàn chân xử lý.
XIV. NGUYÊN TẮC CHĂM SÓC DA
Kiểm soát đường huyết ổn định.
Giữ da sạch và khô.
Dùng nước ấm vừa khi tắm.
Hạn chế xà phòng có tính tẩy mạnh.
Bôi kem dưỡng ẩm sau tắm, nhưng không bôi vào kẽ ngón chân.
Không gãi mạnh.
Không tự chọc bọng nước.
Không tự cắt chai chân.
Không đi chân đất.
Không đắp lá, bột hoặc cao thuốc vào vùng da trầy loét.
Kiểm tra bàn chân mỗi ngày.
Điều trị sớm nấm da và nhiễm khuẩn.
XV. DẤU HIỆU CẦN ĐƯỢC KHÁM SỚM
Da ngứa kéo dài không rõ nguyên nhân, các nếp gấp đỏ ẩm, tổn thương nấm tái phát, móng dày và đổi màu, bọng nước ở bàn chân, mảng da cứng hoặc teo lõm, vết sạm ở cẳng chân thay đổi nhanh, tổn thương da kéo dài không lành.
XVI. DẤU HIỆU CẦN KHÁM KHẨN CẤP
Vùng da đỏ, nóng, sưng và đau lan nhanh; bọng nước có dịch đục hoặc mủ; vết loét có mùi; đầu ngón chân đổi màu tím đen; sốt hoặc rét run; vết thương sâu lộ gân hoặc xương; da hoại tử; đường huyết tăng cao kèm nhiễm trùng.
Nói tóm lại, các biến chứng da do đái tháo đường theo Trung y thường liên quan đến khí âm hao tổn, Tỳ hư thấp tụ, huyết ứ trở lạc, thấp nhiệt và huyết hư sinh phong. Việc điều trị cần căn cứ từng loại tổn thương: u vàng thiên về đàm thấp, cứng phù thiên về phong thấp và hàn ngưng, tổn thương cẳng chân thiên về huyết ứ, bọng nước thiên về Tỳ hư thấp tụ, ngứa thiên về huyết hư hoặc thấp nhiệt, nhiễm nấm thiên về thấp nhiệt độc thịnh. Trung y có thể phối hợp điều chỉnh thể trạng, nhưng kiểm soát đường huyết, xác định đúng bệnh da, dùng thuốc kháng khuẩn hoặc kháng nấm thích hợp và chăm sóc da an toàn vẫn là nền tảng.
Trường Xuân biên soạn