Hen suyễn 哮喘 là bệnh hô hấp có đặc điểm phát tác từng cơn, biểu hiện chủ yếu bằng thở gấp, khó thở, ngực đầy tức và trong họng có tiếng đàm rít. Bệnh có thể gặp ở nhiều lứa tuổi, dễ tái phát và thường chịu ảnh hưởng của thời tiết, ăn uống, tình chí, lao lực cùng thể chất của người bệnh.
Theo Trung y, hen suyễn phần nhiều thuộc chứng bản hư tiêu thực. Phần ngọn là phong, hàn, nhiệt, đàm và khí nghịch ngăn trở Phế; phần gốc là công năng của Phế, Tỳ và Thận suy yếu. Khi bệnh đang phát tác cần trừ tà, tuyên Phế, hóa đàm và bình suyễn; khi cơn đã lui cần bổ Phế, kiện Tỳ, ích Thận và nạp khí để giảm tái phát.
I. KHÁI NIỆM HEN VÀ SUYỄN
Trong y thư cổ, hiện tượng thở gấp, khó thở từng được gọi là suyễn minh, suyễn hát hoặc thượng khí. Đến đời sau, các y gia dần phân biệt hen và suyễn.
Hen 哮 là tên gọi căn cứ vào âm thanh phát ra trong khi hô hấp. Người bệnh có tiếng rít hoặc tiếng đàm khò khè rõ trong họng.
Suyễn 喘 là tên gọi căn cứ vào trạng thái hô hấp. Người bệnh thở gấp, khó thở, có thể há miệng, nhấc vai nhưng không nhất thiết có tiếng rít trong họng.
Vì vậy, hen tất kèm suyễn, nhưng suyễn chưa chắc đã có hen. Trên lâm sàng hai chứng thường cùng xuất hiện nên được gọi chung là hen suyễn.
II. NGUYÊN NHÂN VÀ BỆNH CƠ
Trung y cho rằng đàm ẩm tiềm phục bên trong là một trong những căn nguyên quan trọng của bệnh hen.
Đàm có thể hình thành do phong hàn phạm Phế khiến thủy ẩm đình tụ; ăn uống không điều độ làm Tỳ mất kiện vận; Tỳ Thận dương hư khiến thủy dịch không được khí hóa; hoặc Phế nhiệt, âm hư hỏa vượng làm tân dịch bị nung đốt thành đàm.
Đàm ẩn khi chưa bị dẫn động có thể không gây triệu chứng rõ rệt. Khi gặp ngoại tà, ăn uống không thích hợp, tình chí kích động hoặc lao lực, đàm và khí giao kết, cùng nghịch lên làm bế tắc khí đạo và phát sinh cơn hen.
Phong hàn, phong nhiệt, thấp tà hoặc khí hậu thay đổi đột ngột có thể xâm phạm Phế, khiến Phế khí mất tuyên phát và túc giáng. Đàm ẩn theo đó bị dẫn động, khí đạo bị trở ngại, gây ngực tức, khó thở và tiếng đàm rít trong họng.
Tỳ là nguồn sinh đàm, Phế là nơi chứa đàm. Ăn quá nhiều thức ăn béo ngọt, dầu mỡ, lạnh sống hoặc khó tiêu làm Tỳ mất vận hóa, thấp tụ thành đàm. Đàm trọc nghịch lên Phế, làm Phế khí mất tuyên giáng và phát sinh hen suyễn.
Lo nghĩ quá mức làm Tỳ khí bị kết, dễ sinh đàm thấp; tức giận làm Can khí nghịch lên, ảnh hưởng đến sự túc giáng của Phế; buồn phiền kéo dài làm hao tổn Phế khí. Khi khí cơ uất trệ, đàm khó vận hóa, đàm khí cùng nghịch lên khiến bệnh phát tác.
Lao lực quá mức làm hao tổn Phế khí và Tỳ khí. Hen suyễn tái phát lâu ngày còn làm tổn thương Thận. Thận chủ nạp khí, nếu Thận hư thì khí không thể quy căn, hơi thở trở nên ngắn, hít vào khó và vận động nhẹ cũng phát suyễn.
III. MỐI LIÊN HỆ VỚI TẠNG PHỦ
Phế chủ khí, coi việc hô hấp, chủ tuyên phát và túc giáng. Khi Phế khí bị ngoại tà, đàm trọc hoặc khí uất ngăn trở, khí không thể tuyên giáng bình thường, gây ho, ngực tức, khó thở và tiếng đàm rít.
Tỳ chủ vận hóa thủy cốc và thủy thấp. Tỳ hư thì thủy thấp không hóa, tụ lại thành đàm. Đàm được sinh ra từ Tỳ rồi đưa lên chứa ở Phế, khiến bệnh kéo dài và dễ tái phát.
Thận chủ nạp khí và là căn của khí. Phế chủ xuất khí, Thận chủ nạp khí. Nếu Thận hư, khí không thể thu nạp xuống dưới, người bệnh thường thở ra nhiều, hít vào ít và vận động thì suyễn tăng.
Can chủ sơ tiết và điều đạt khí cơ. Can khí uất hoặc Can khí nghịch có thể ảnh hưởng đến Phế, gây ngực sườn đầy tức, thở gấp và làm cơn hen tăng lên khi người bệnh xúc động.
Hen suyễn kéo dài, khí hư và đàm ẩm có thể ảnh hưởng đến Tâm. Người bệnh có thể xuất hiện hồi hộp, môi tím, vã mồ hôi, phù hoặc tinh thần bất an. Khi Tâm dương suy, bệnh thường tương đối nặng.
IV. ĐẶC ĐIỂM CỦA CƠN HEN
Trước cơn hen, người bệnh có thể xuất hiện ngứa mũi, ngứa họng, hắt hơi, nghẹt mũi, tức ngực hoặc cảm giác hô hấp không thông.
Khi phát cơn, triệu chứng thường gồm: Ngực đầy tức, thở gấp, khí thô, trong họng có tiếng đàm rít, đàm dính khó khạc, không nằm được, phải ngồi hoặc cúi người để thở; trường hợp nặng có thể há miệng, nhấc vai, sắc mặt nhợt, môi tím, bứt rứt và trán ra mồ hôi lạnh.
Nếu khạc được đàm ra ngoài, khí đạo tạm thời thông hơn, ngực thường giảm tức và hơi thở dễ chịu hơn.
V. NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
Trung y nhấn mạnh:
“Chưa phát thì phù chính, đã phát thì công tà.”
Khi đang phát cơn, đàm và khí nghịch là chính, cần trừ tà trị phần ngọn. Khi cơn đã giảm, chính khí hư là chính, cần phù chính cố gốc.
Tuy nhiên, bệnh thường không hoàn toàn thuộc hư hoặc thực, hàn hoặc nhiệt. Nhiều trường hợp vừa có đàm thực ở trên, vừa có Phế Thận hư ở dưới. Vì vậy, phải phân biệt rõ tiêu bản, hư thực và mức độ nặng nhẹ để quyết định công tà hay phù chính là chủ.
VI. HEN HÀN
Bệnh cơ
Phong hàn phạm Phế hoặc hàn ẩm tiềm phục, làm Phế khí bị bó buộc, đàm ẩm ngăn trở khí đạo.
Triệu chứng
Thở gấp, trong họng có tiếng rít, đàm trắng trong loãng hoặc có bọt, ngực đầy tức như bị bít, sắc mặt tối hơi xanh, sợ lạnh, không khát hoặc thích uống ấm, lưỡi nhạt, rêu trắng trơn, mạch huyền khẩn, huyền hoạt hoặc phù khẩn.
Phép trị
Ôn Phế tán hàn, hóa đàm, tuyên thông khí đạo, bình suyễn.
Phương thang
Thành phần: Ma hoàng 6 g, Xạ can 6 g, Sinh khương 3 lát, Tế tân 3 g, Tử uyển 9 g, Khoản đông hoa 9 g, Ngũ vị tử 3 g, Bán hạ 9 g, Đại táo 5 quả.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Đàm nhiều gia Bạch giới tử 9 g; ít đàm nhưng suyễn nặng gia Tam tử dưỡng thân thang và Đình lịch tử 9 g; tay chân lạnh, mạch yếu gia Chế phụ tử 9 g, Can khương 6 g; ngứa họng, hắt hơi nhiều gia Tân di 9 g, Thương nhĩ tử 9 g; sợ lạnh, nghẹt mũi, chảy nước mũi gia Tô diệp 9 g, Quế chi 9 g, Xuyên khung 9 g.
Thành phần: Ma hoàng 6 g, Quế chi 9 g, Tế tân 3 g, Can khương 3 g, Ngũ vị tử 3 g, Bạch thược 9 g, Bán hạ 9 g, Cam thảo 6 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Chủ trị: Phong hàn ở ngoài, thủy ẩm ở trong, biểu hiện sợ lạnh, không ra mồ hôi, ho suyễn, đàm trắng loãng có bọt, rêu lưỡi trắng trơn.
Thành phần: Ma hoàng 6–9 g, Tế tân 3 g, Can khương 3–6 g, Bán hạ 9–12 g, Ngũ vị tử 3 g, Cam thảo 3–6 g, Tô tử 9 g, Bạch giới tử 9–12 g, Lai phục tử 12 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Công dụng: Ôn Phế hóa ẩm, giáng khí hóa đàm, bình suyễn.
Thành phần: Trần bì 9 g, Bán hạ 9 g, Phục linh 9 g, Cam thảo 6 g, Ô mai 6 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Chủ trị: Đàm nhiều, ngực đầy, ăn uống giảm, rêu lưỡi trắng nhờn.
Thành phần: Tô tử 9 g, Quất hồng 6 g, Bán hạ 9 g, Đương quy 9 g, Tiền hồ 9 g, Hậu phác 9 g, Nhục quế 6 g, Cam thảo nướng 9 g, Sinh khương 3 lát, Đại táo 15 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Công dụng: Giáng khí bình suyễn, ôn hóa đàm ẩm.
Chủ trị: Ho suyễn, thở ngắn, ngực đầy, đàm nhiều, lưỡi rêu trắng trơn, thuộc chứng trên thực dưới hư.
VII. HEN NHIỆT
Bệnh cơ
Đàm nhiệt uất ở Phế hoặc ngoại tà vào trong hóa nhiệt, nung đốt tân dịch thành đàm đặc, làm Phế khí mất thanh túc.
Triệu chứng
Thở gấp, trong họng có tiếng rít to, ngực căng đầy, khí thô, thở dồn dập, ho dữ dội từng cơn, đàm vàng đặc dính khó khạc, ngực phiền tức, bứt rứt, mặt đỏ, miệng khô đắng, khát thích uống mát, người nóng ra mồ hôi, lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn, mạch hoạt sác.
Phép trị
Tuyên Phế thanh nhiệt, hóa đàm, giáng nghịch, bình suyễn.
Phương thang
Thành phần: Ma hoàng 6 g, Sinh thạch cao 15 g, Sinh khương 3 lát, Bán hạ 9 g, Cam thảo 3 g, Đại táo 5 quả.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Đàm nhiều gia Đảm nam tinh 9 g, Qua lâu 9 g; sốt gia Kim kiều mạch 9 g, Bản lam căn 9 g, Ngư tinh thảo 15 g; Phế âm đã tổn mà đàm nhiệt chưa tan thì bỏ Ma hoàng, gia Sa sâm 9 g, Ngọc trúc 9 g, Xuyên bối mẫu 6 g.
Thành phần: Ma hoàng 6 g, Bạch quả 9 g, Tang bạch bì 9 g, Khoản đông hoa 9 g, Bán hạ 9 g, Tô tử 9 g, Hoàng cầm 9 g, Hạnh nhân 9 g, Cam thảo 9 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Công dụng: Tuyên Phế thanh nhiệt, hóa đàm bình suyễn.
Chủ trị: Đàm nhiệt còn ở Phế, ho suyễn, đàm vàng đặc, ngực tức, lưỡi đỏ, rêu vàng nhờn.
Thành phần: Ma hoàng sao 3–6 g, Hạnh nhân 4–6 g, Sinh thạch cao 9–18 g, Cam thảo 3–5 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Công dụng: Thanh nhiệt tuyên Phế, hóa đàm giáng nghịch.
Chủ trị: Ho suyễn, thở gấp, đàm đặc vàng đục, cánh mũi phập phồng, tâm phiền.
Thành phần cơ bản: Ma hoàng, Hạnh nhân, Sinh thạch cao, Cam thảo; gia Qua lâu, Tang bạch bì, Chiết bối mẫu, Tiền hồ, Trúc nhự, Cát cánh.
Công dụng: Thanh nhiệt hóa đàm, tuyên Phế bình suyễn.
Tài liệu không ghi rõ liều lượng từng vị trong phương gia giảm này.
Thành phần: Hậu phác 9 g, Đại hoàng 6 g, Chỉ thực 9 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Chủ trị: Hen nhiệt kèm bụng đầy, táo bón, khí thở thô, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch trầm thực có lực.
Thành phần: Toàn phúc hoa 9 g, Đại giả thạch 15 g, Nhân sâm 6 g, Cam thảo 9 g, Bán hạ 9 g, Sinh khương 3 lát, Đại táo 9 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Công dụng: Phù chính giáng nghịch, thuận khí hóa đàm.
Chủ trị: Sau khi cơn suyễn giảm, chính khí đã hư nhưng đàm trọc chưa tan hết.
VIII. HÀN BAO NHIỆT
Bệnh cơ
Bên trong vốn có đàm nhiệt, bên ngoài lại cảm phong hàn. Hàn tà bó chặt cơ biểu làm nhiệt và đàm bị uất lại trong Phế.
Triệu chứng
Sợ lạnh, không ra mồ hôi, đau đầu hoặc đau mình, nghẹt mũi; đồng thời thở gấp, ho đờm vàng hoặc đờm đặc, ngực nóng bức, miệng khát, lưỡi đỏ, rêu trắng hoặc vàng, mạch phù hoạt sác.
Phép trị
Giải biểu tán hàn, thanh Phế hóa đàm, giáng nghịch bình suyễn.
Phương thang
Việt tỳ gia Bán hạ thang
Thành phần: Ma hoàng 6 g, Sinh thạch cao 15 g, Sinh khương 3 lát, Bán hạ 9 g, Cam thảo 3 g, Đại táo 5 quả.
Cách dùng: Sắc uống.
IX. ĐÀM THẤP TRỞ PHẾ
Bệnh cơ
Tỳ mất kiện vận, thủy thấp đình tụ thành đàm; đàm trọc nghịch lên Phế, ngăn trở khí đạo.
Triệu chứng
Ho suyễn, trong họng có tiếng đàm, đàm nhiều dính khó khạc, ngực đầy tức, miệng nhạt hoặc nhớt, ăn uống giảm, cơ thể nặng nề, đại tiện có thể lỏng, lưỡi nhạt, rêu trắng dày nhờn, mạch hoạt hoặc hoãn.
Phép trị
Kiện Tỳ táo thấp, lý khí hóa đàm, giáng khí bình suyễn.
Phương thang
Thành phần: Trần bì 9 g, Bán hạ 9 g, Phục linh 9 g, Cam thảo 6 g, Ô mai 6 g, Tô tử 9 g, Bạch giới tử 9 g, Lai phục tử 12 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Có thể gia Thương truật, Ý dĩ nhân để tăng cường kiện Tỳ táo thấp; gia Tử uyển, Khoản đông hoa để chỉ khái hóa đàm.
Thành phần: Đảng sâm 9 g, Bạch truật 9 g, Phục linh 9 g, Trần bì 6 g, Bán hạ 9 g, Cam thảo 3 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Đại tiện lỏng, sợ lạnh, tay chân lạnh gia Nhục quế 6 g, Can khương 6 g, Hoài sơn 9 g, Nhục đậu khấu 6 g; đầy bụng, tức ngực, chán ăn gia Mộc hương 9 g, Bạch giới tử 9 g, Can khương 6 g; khí đoản, sắc mặt nhợt, thiếu sức gia Hoàng kỳ 12 g, Đương quy 9 g, Bạch thược 9 g, Long nhãn nhục 6 g.
X. KHÍ UẤT ĐÀM TRỞ
Bệnh cơ
Tình chí uất ức, lo nghĩ hoặc tức giận làm khí cơ không thông; Can khí nghịch lên phạm Phế, đàm khí cùng kết gây suyễn.
Triệu chứng
Thở gấp xuất hiện hoặc tăng lên khi xúc động, ho khạc đàm, ngực sườn đầy tức, hay thở dài, họng không thoải mái, ho nhiều gây chóng mặt hoặc đau hông, kèm hồi hộp, mất ngủ, rêu lưỡi trắng, mạch huyền.
Phép trị
Hành khí giải uất, hóa đàm, giáng nghịch bình suyễn.
Phương thang
Việt cúc hoàn hợp Bán hạ Hậu phác thang
Thành phần được tài liệu nêu: Hương phụ, Thương truật, Phục linh, Pháp bán hạ, Xuyên khung, Chi tử, Hậu phác, Tô diệp, Sinh khương, Thần khúc.
Công dụng: Sơ Can giải uất, lý khí khoan trung, táo thấp hóa đàm, giáng nghịch bình suyễn.
Tài liệu không ghi rõ liều lượng từng vị.
XI. PHẾ KHÍ HƯ
Bệnh cơ
Phế khí suy yếu, vệ biểu không vững, khí đạo mất sự điều tiết nên người bệnh dễ cảm ngoại tà và phát hen.
Triệu chứng
Dễ phát bệnh khi thời tiết thay đổi, thường sợ gió sợ lạnh, tự ra mồ hôi, trước cơn hay hắt hơi, nghẹt mũi, chảy nước mũi, khí đoản, tiếng nói yếu, lưỡi nhạt mềm, rêu mỏng, mạch tế nhược.
Phép trị
Bổ Phế ích khí, cố biểu.
Phương thang
Ngọc bình phong tán hợp Quế chi gia Hoàng kỳ thang
Thành phần: Hoàng kỳ 12 g, Phòng phong 6 g, Bạch truật 9 g, Quế chi 6 g, Bạch thược 9 g, Cam thảo 3 g, Sinh khương 3 lát, Đại táo 5 quả.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Ho suyễn tái phát gia Đương quy 9 g, Kha tử 6 g; đàm trắng khó khạc gia Bán hạ 9 g, Trần bì 9 g, Tô tử 9 g; khí đoản, ra nhiều mồ hôi gia Nhân sâm 9 g, Mạch môn 9 g, Ngũ vị tử 9 g; hồi hộp, mất ngủ gia Bách hợp 9 g, Phục linh 9 g, Viễn chí 6 g.
XII. TỲ KHÍ HƯ
Bệnh cơ
Tỳ khí suy, vận hóa thủy thấp không tốt, đàm trọc sinh ra không dứt và đưa lên Phế.
Triệu chứng
Ho và đàm nhiều, ăn ít, đầy tức vùng thượng vị, bụng chướng, mệt mỏi, đại tiện không thành khuôn hoặc ăn thức ăn dầu mỡ thì dễ tiêu chảy, lưỡi nhạt to mềm, rêu trắng, mạch hoãn nhược.
Phép trị
Kiện Tỳ ích khí, hóa đàm.
Phương thang
Lục quân tử thang
Thành phần: Đảng sâm 9 g, Bạch truật 9 g, Phục linh 9 g, Trần bì 6 g, Bán hạ 9 g, Cam thảo 3 g.
Cách dùng: Sắc uống.
Gia giảm: Đại tiện lỏng, sợ lạnh, tay chân lạnh gia Nhục quế 6 g, Can khương 6 g, Hoài sơn 9 g, Nhục đậu khấu 6 g; đầy bụng, tức ngực, chán ăn gia Mộc hương 9 g, Bạch giới tử 9 g; khí đoản, sắc mặt nhợt, thiếu sức gia Hoàng kỳ 12 g, Đương quy 9 g, Bạch thược 9 g, Long nhãn nhục 6 g.
XIII. PHẾ THẬN KHÍ HƯ
Bệnh cơ
Hen kéo dài làm Phế khí suy, Thận khí không đủ khả năng nhiếp nạp, tạo thành chứng trên hư dưới hư hoặc trên thực dưới hư.
Triệu chứng
Suyễn kéo dài, khí đoản không đủ thở, thở ra nhiều hít vào ít, vận động thì suyễn tăng, khí yếu tiếng nhỏ, đàm trắng loãng, đau lưng mỏi gối, chóng mặt ù tai, tiểu đêm nhiều, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch trầm tế hoặc trầm nhược.
Phép trị
Bổ Phế ích Thận, nạp khí định suyễn.
Phương thang
Phụ quế Bát vị hoàn gia giảm
Thành phần: Phụ tử 3 g, Nhục quế 3 g, Thục địa hoàng 24 g, Sơn thù du 12 g, Hoài sơn 12 g, Phục linh 9 g, Đan bì 9 g, Trạch tả 9 g, Bột Tử hà xa 3 g uống riêng, Hạch đào nhục 9 g, Bổ cốt chỉ 9 g, Cáp giới 3 g.
Cách dùng: Các vị sắc uống, bột Tử hà xa uống riêng theo chỉ định.
Gia giảm: Sợ lạnh, tay chân lạnh, vận động thì suyễn nặng gia Tử thạch anh 15 g; suyễn nặng kèm tiểu són gia Ngũ vị tử 6 g, Ích trí nhân 9 g, Long cốt nung 15 g, Mẫu lệ nung 30 g; đại tiện lỏng gia Can khương 6 g, Nhục đậu khấu 9 g, Bạch truật 9 g, Phục linh 9 g; suyễn nặng, ra mồ hôi như dầu gia Nhân sâm 6 g, Ngũ vị tử 9 g, Đại giả thạch 15 g.
Phương này có Phụ tử, Nhục quế và nhiều vị thuốc bổ mạnh, chỉ được sử dụng khi đã biện chứng rõ ràng.
XIV. PHẾ THẬN ÂM HƯ, KHÍ ÂM LƯỠNG HƯ
Bệnh cơ
Hen suyễn kéo dài làm hao tổn Phế khí và Phế âm; hoặc Thận âm không đủ, hư hỏa nung đốt tân dịch, khiến ho suyễn kéo dài và đàm dính khó khạc.
Triệu chứng
Thở gấp, khí đoản, khí yếu tiếng nhỏ, ho nhẹ nhưng kéo dài, đàm ít hoặc dính khó khạc, miệng họng khô, bứt rứt, lòng bàn tay chân nóng, có thể ra mồ hôi trộm, lưỡi đỏ, ít rêu hoặc rêu tróc, mạch tế sác hoặc tế nhược.
Phép trị
Ích khí dưỡng âm, nhuận Phế, nạp khí bình suyễn.
Phương thang
Sinh mạch tán hợp Bách hợp cố kim thang gia vị
Thành phần được tài liệu nêu: Nhân sâm, Mạch môn, Ngũ vị tử, Bách hợp, Sinh địa, Thục địa, Huyền sâm, Đương quy, Bạch thược, Bối mẫu, Cát cánh, Tỳ bà diệp, Tang bạch bì, Cam thảo.
Công dụng: Ích khí dưỡng âm, nhuận Phế, thanh hư nhiệt, hóa đàm bình suyễn.
Gia giảm: Sốt nhẹ, lòng bàn tay chân nóng gia Địa cốt bì, Bạch vi, Tri mẫu; đàm dính khó khạc gia Hải cáp phấn; ho đàm có máu gia Bạch mao căn, Ngẫu tiết.
Tài liệu không ghi rõ liều lượng từng vị trong phương phối hợp này.
XV. TỲ THẬN DƯƠNG HƯ, THỦY ẨM NỘI ĐÌNH
Bệnh cơ
Tỳ dương hư khiến thủy thấp không vận hóa; bệnh kéo dài làm Thận dương cũng suy, thủy ẩm dâng lên Phế, gây ho suyễn và phù.
Triệu chứng
Ho suyễn, ngực tức, không nằm được, đàm trắng loãng hoặc nhiều bọt, miệng nhạt, ăn kém, đại tiện lỏng, tay chân lạnh, sợ lạnh, mặt chân phù, tiểu ít, lưỡi nhạt to, rìa lưỡi có dấu răng, rêu trắng trơn, mạch trầm huyền hoặc trầm nhược.
Phép trị
Ôn dương hóa ẩm, kiện Tỳ lợi thủy, giáng khí bình suyễn.
Phương thang
Linh quế Truật cam thang hợp Nhị trần thang
Thành phần được tài liệu nêu: Quế chi, Cam thảo sao, Bạch truật, Phục linh, Bán hạ, Trần bì, Hậu phác.
Công dụng: Ôn dương vận Tỳ, thấm thấp lợi thủy, hóa đàm, giáng nghịch bình suyễn.
Tài liệu không ghi rõ liều lượng từng vị trong phương phối hợp này.
XVI. TÁM PHÉP TRỊ SUYỄN
Căn cứ vào nguyên nhân và bệnh cơ, phép trị suyễn có thể khái quát thành tám nhóm:
Các phép trên có thể được phối hợp tùy theo tình trạng hư thực, hàn nhiệt và tiêu bản của từng người bệnh.
XVII. PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU DƯỠNG
Người bệnh cần chú ý giữ ấm, phòng cảm lạnh, tránh khói thuốc, bụi, phấn hoa, mùi hóa chất và các yếu tố từng gây phát cơn. Các bệnh viêm mũi, viêm họng và dị ứng đi kèm cần được điều trị thích hợp.
Ăn uống nên thanh đạm, vừa đủ; hạn chế thức ăn béo ngọt, dầu mỡ và khó tiêu. Người đàm hàn nên hạn chế thức ăn lạnh sống; người đàm nhiệt nên hạn chế rượu, thức ăn cay nóng và nướng. Không nên kiêng khem quá mức làm cơ thể suy nhược.
Sinh hoạt cần điều độ, tránh lao lực, thức khuya, xúc động mạnh và lo âu kéo dài. Khi bệnh ổn định có thể vận động nhẹ nhàng và luyện thở đều đặn tùy theo thể lực.
Trong giai đoạn chưa phát cơn, cần căn cứ tình trạng mà bổ Phế cố biểu, kiện Tỳ hóa đàm hoặc bổ Thận nạp khí. Không nên tự dùng thuốc bổ trong khi đàm nhiều, ngực tức và tà khí còn mạnh.
XVIII. NHỮNG ĐIỂM CẦN THẬN TRỌNG
Hen phế quản có thể trở nặng nhanh chóng. Điều trị Trung y không thay thế thuốc hít cắt cơn và phác đồ kiểm soát hen đã được bác sĩ chỉ định.
Không tự ngừng thuốc hít khi triệu chứng tạm giảm.
Không tự dùng những phương có Ma hoàng, Phụ tử, Tế tân, Toàn yết, Tạo giác hoặc các dược liệu có dược tính mạnh.
Không sử dụng một phương thuốc kéo dài trong cả giai đoạn phát cơn và lui bệnh.
Không tự phối hợp nhiều phương thuốc hoặc thuốc hoàn cùng lúc.
Cần cấp cứu ngay nếu người bệnh khó thở tăng nhanh, không nói được thành câu, môi tím, co kéo lồng ngực mạnh, phải ngồi cúi người mới thở được, thuốc hít cắt cơn không hiệu quả, tinh thần lơ mơ, đau ngực hoặc tiếng khò khè đột ngột giảm nhưng khó thở nặng hơn.
Nói tóm lại, hen suyễn theo Trung y lấy phục đàm làm nhân tố quan trọng, Phế mất tuyên giáng là biểu hiện trực tiếp, Tỳ hư sinh đàm và Thận hư không nạp khí là căn nguyên khiến bệnh kéo dài. Khi phát cơn cần phân biệt hàn, nhiệt, đàm và khí uất để tuyên Phế, hóa đàm, giáng khí, bình suyễn; khi bệnh ổn định cần bổ Phế, kiện Tỳ, ích Thận và điều hòa khí cơ. Điều trị phải linh hoạt theo từng giai đoạn, không thiên lệch công tà hoặc bổ chính.
Trường Xuân biên soạn