BỆNH HẸP TẮC ĐỘNG MẠCH DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG.糖尿病性闭塞性动脉硬化症.
Bệnh hẹp tắc động mạch do đái tháo đường là gì? Biểu hiện lâm sàng khi xảy ra ở chi?
Hẹp tắc động mạch do đái tháo đường (hay động mạch xơ vữa ở bệnh nhân đái tháo đường) phát sinh do những yếu tố sau trong bệnh đái tháo đường:
- Tăng insulin máu
- Rối loạn chức năng tiểu cầu
- Tổn thương tế bào nội mô
- Thay đổi nồng độ hormon sinh dục
- Tăng đường huyết
Những yếu tố này thúc đẩy quá trình xơ vữa động mạch. Hậu quả là:
- Thành động mạch hình thành các mảng xơ vữa, lắng đọng lipid (cholesterol…)
- Lòng mạch bị tắc hẹp
- Mô, cơ quan tương ứng bị thiếu máu – thiếu oxy
Khi xơ vữa động mạch xảy ra ở tứ chi, biểu hiện chủ yếu là triệu chứng thiếu máu của chi bệnh:
- Da nhợt, giảm nhiệt độ, tay chân lạnh, khô ráo, ít mồ hôi
- Tróc vảy, rụng lông, móng dày lên
- Teo cơ (thay đổi dinh dưỡng)
- Mạch đập ở chi yếu hoặc mất
- Khập khiễng cách hồi, đau dữ dội khi nghỉ, hoại tử đầu chi…
Khập khiễng cách hồi là biểu hiện sớm của thiếu máu chi dưới, người bệnh chỉ đi được một đoạn là xuất hiện đau mỏi, phải dừng lại nghỉ. Khi bệnh tiến triển nặng, khoảng cách đi bộ ngày càng ngắn. Cuối cùng, ngay cả khi nghỉ ngơi cũng đau (gọi là đau lúc nghỉ – giai đoạn trung gian). Cơn đau này thường khu trú ở ngón chân, bàn chân, dữ dội hơn về đêm. Khi hạ thấp chi thì đỡ đau (do máu dồn xuống). Ở giai đoạn cuối, chi bị loét, hoại thư.
Những vị trí thường gặp nhất của hẹp tắc động mạch do đái tháo đường? Khác gì với viêm tắc mạch (Buerger)?
Trong hẹp tắc động mạch do đái tháo đường, vị trí thường gặp nhất là động mạch chày sau (khoảng 41,6%), tiếp theo là đoạn giữa – dưới của động mạch đùi và động mạch chày trước.
- Ở bệnh nhân đái tháo đường, động mạch dưới đùi hay bị tổn thương (nhỏ và vừa).
- Trong khi đó, ở người không mắc đái tháo đường, tắc mạch thường xảy ra ở những mạch lớn hơn (phía trên đùi).
Viêm tắc mạch huyết khối (Buerger) lại gắn liền với yếu tố hút thuốc và tiếp xúc lạnh, không phải với đái tháo đường. Ngược lại, xơ vữa động mạch do đái tháo đường có mối liên quan mật thiết với tăng đường huyết.
- Làm thế nào để phòng ngừa và điều trị tắc động mạch do đái tháo đường?
- Điều trị và kiểm soát đường huyết tích cực
- Thực hiện chặt chẽ phác đồ điều trị đái tháo đường, tránh đường huyết dao động quá mức.
- Kiểm tra định kỳ hệ mạch ở bệnh nhân tiểu đường
- Bao gồm xét nghiệm chỉ số lưu huyết (ABI), siêu âm Doppler, đo chỉ số ngón chân – cánh tay…
- Phát hiện sớm các tổn thương mạch máu tiềm ẩn, can thiệp giảm mỡ máu, kháng đông, chống xơ vữa kịp thời.
- Điều trị sớm khi có “khập khiễng cách hồi”
- Kết hợp Đông – Tây y:
- Uống Persantin (Dipyridamole), Aspirin dạng tan trong ruột.
- Truyền tĩnh mạch Tinh chất Xuyên Khung, dịch thay huyết tương 706 (tùy phác đồ).
- Thuốc Đông y biện chứng luận trị, thường thiên về bổ khí dưỡng âm, hoạt huyết hóa ứ.
- Phẫu thuật khi tắc mạch nặng (qua chụp mạch)
- Có thể tiến hành tái tạo mạch bằng cách bắc cầu, cắt nội mạc huyết khối, can thiệp nội mạch qua da (đặt stent), ghép mạc nối lớn, laser phá mảng xơ vữa… Mục đích phục hồi lưu thông máu, cải thiện nuôi dưỡng chi
Điều trị bằng Đông y khi hẹp tắc động mạch do đái tháo đường gây hoại tử đầu chi
Theo y học cổ truyền, hẹp tắc động mạch do đái tháo đường bắt nguồn từ bế tắc mạch lạc, khí huyết trệ, kèm đàm ứ lâu ngày sinh nhiệt, ứ trệ thấp nhiệt, độc nhiệt nội uẩn… dẫn đến hoại thư đầu chi. Đông y thường kết hợp nội trị (uống thuốc) và ngoại trị (ngâm rửa, đắp…) theo biện chứng luận trị:
(1) Thể “Mạch lạc hàn ngưng”
- Chủ chứng: Chi bệnh lạnh, tê, mỏi, sưng căng, khập khiễng khi đi, lưỡi ảm đạm, rêu trắng nhuận, mạch huyền khẩn.
- Phép trị: Ôn thông huyết mạch.
- Phương dược:
- Ôn mạch thông (dạng thuốc bào chế sẵn) gồm Quế chi, Đương quy, Hoàng kỳ, Xuyên ô chế, Can khương…
- Dương hòa thang gia giảm: Thục địa, Hoàng kỳ, Kê huyết đằng (30g), Đảng sâm, Đương quy, Can khương, Xích thược, Hoài ngưu tất (15g), Địa long (12g), Ma hoàng (6g) … sắc uống.
- Ngoài dùng thuốc ngâm rửa:
Thoát cước thang: Thân cân thảo, Thấu cốt thảo, Xuyên thảo ô, Tần giao, Hồng hoa, Tô mộc, Tùng tiết, Xuyên tiêu… đun nước tắm; hoặc
Thoát cước tẩy dược: Quế chi, Hồng hoa, Nhũ hương, Một dược, Can khương, Xuyên tiêu, Thấu cốt thảo, Thiên niên kiện, Kê huyết đằng, Chương não (bỏ vào sau).
(2) Thể “Mạch lạc ứ trệ”
- Chủ chứng: Chi trướng đau, không sợ lạnh, khập khiễng cách hồi, lưỡi ảm đạm, rêu trắng, mạch huyền tế.
- Phép trị: Ích khí hoạt huyết, thông mạch.
- Phương dược:
- Thông mạch ninh (dạng thuốc sẵn) với Đương quy, Hoàng kỳ, Xích thược, Xuyên khung, Hồng hoa, Tô mộc…
- Ích khí thông mạch thang: Sinh Hoàng kỳ, Đan sâm, Kê huyết đằng (30g), Đương quy, Ngưu tất, Xích thược (15g), Xuyên khung, Đào nhân, Hồng hoa, Địa long (10g)…
- Hoặc Ích khí hoạt huyết thang: Đảng sâm, Hoàng kỳ, Quỷ tiễn vũđều 30g, Xuyên khung, Hồng hoa đều 10g
- Ngoài dùng Thoát cước thang hoặc Thoát cước tẩy dược để ngâm rửa.
(3) Thể “Ứ lâu hóa nhiệt”
- Chủ chứng: Đau chi dữ dội, thích lạnh sợ nóng, tăng nhiệt da, đau nhiều về đêm, khập khiễng nặng hơn, lưỡi sẫm, rêu trắng mỏng hoặc hơi vàng, mạch tế sác.
- Phép trị: Tư âm thanh nhiệt, hoạt huyết thông lạc.
- Phương dược (gợi ý):
- Huyền sâm, Nhẫn đông đằng, Đương quy, Xích thược (đều 15g), Ngưu tất, Trạch lan, Thạch hộc ( đều10g), Hồng hoa, Nhũ hương chế, Một dược chế (đều 6g), Địa long (10g), Ngô công (3 con)… nước sắc uống;
- Hoặc Kim ngân hoa, Huyền sâm (30g), Đương quy, Xích thược, Xuyên ngưu tất (15g), Tử thảo, Cam thảo (10g), Nhũ, Một (6g)…
(4) Thể “Độc nhiệt”
- Chủ chứng: Chi bệnh loét, nhiễm trùng, hoại tử, mủ nhiều, phần hoại tử ăn sâu vào cơ, gân; miệng khô khát, lưỡi đỏ sẫm, ít rêu hoặc không rêu, mạch tế sác.
- Phép trị: Thanh nhiệt, lợi thấp, giải độc, hoạt huyết giảm đau.
- Phương dược:
1/ Giải độc hoạt huyết: Nhẫn đông đằng, Địa đinh, Liên kiều, Xích tiểu đậu (mỗi 30g), Qua lâu căn (Thiên hoa phấn), Đương quy, Huyền sâm (mỗi 15g), Xích thược, Ngưu tất, Xuyên liên tử (10g), Hồng hoa, Sinh cam thảo…Sắc uống ngày 1 thang
2/ Tứ diệu dũng an thang gia giảm: Ngân hoa, Huyền sâm, Bồ công anh, Đan sâm, Kê huyết đằng đều 30g, Đương quy, Ngưu tất, Liên kiều đều 15g, Thạch hộc, Xích thược đều 12g, sắc uống ngày 1 thang.
3/ Thuyền thoái 10g, Địa long, Ngưu tất, Mẫu lệ sống, Đương quy đều 15g, Cương trùng 10g, Ngân hoa, Huyền sâm đều 30g, Sơn giáp, Tao hưu đều 10g, Công anh 30g, Cam thảo 6g, sắc uống, Hoại thư lở loét có thể dùng thuốc rửa: ①Hoàng bá, Đại hoàng, Tảo hưu đều 30g, sắc lấy nước rửa. Công anh, Liên kiều, Ngân hoa, Hoàng bá, Xích thược đều 30g, Khổ sâm, Bạch chỉ, Đan bì, Cam thảo đều12g, sắc lấy nước rửa,thích hợp vợi chứng hoại thư bội nhiễm, vết loét khá nhiều mủ. Nếu vết loét có mô hạt tươi, ít mủ: Bôi Sinh cơ ngọc hồng cao hay thuốc mỡ dầu trứng (hoàng đản du cao).
Nhìn chung, khi bệnh còn sớm, nếu phối hợp điều trị Đông y với Tây y, nhấn mạnh bổ khí dưỡng âm, hoạt huyết thông mạch, sẽ giúp cải thiện triệu chứng, chống đông – làm tan huyết khối, cải thiện vi tuần hoàn. Qua đó có thể kiểm soát bệnh, ngăn ngừa nguy cơ hoại thư đầu chi.
Ly Nguyễn Nghị