Viêm túi mật cấp và cơn phát của viêm túi mật mạn đều là tình trạng viêm mủ cấp tính của túi mật. Nguyên nhân chủ yếu là do sỏi mắc kẹt ở cổ hoặc ống túi mật, làm túi mật phình to, mật cô đặc ứ đọng không thoát ra được, gây kích thích hóa học mạnh đến thành túi mật, trên cơ sở đó dễ kèm theo nhiễm khuẩn. Vi khuẩn tấn công, làm thành túi mật phù nề, viêm nhiễm, cản trở việc cung cấp máu cho túi mật, khiến viêm túi mật ngày càng nặng.
Viêm túi mật cấp thường khởi phát liên quan đến ăn no, ăn nhiều đồ béo, lao lực và yếu tố tâm lý…, biểu hiện đột ngột ngay từ đầu với đau quặn ở vùng hạ sườn phải, cơn kịch phát, lan lên vai phải hoặc ra sau lưng, kèm nôn/buồn nôn. Giai đoạn sớm có thể không rét run, không sốt; khi có mủ ở túi mật, bệnh nhân có thể rét run và sốt. Một số ca thấy vàng mắt (củng mạc mắt). Trường hợp viêm lan ra khu vực quanh túi mật, bệnh xấu đi rõ rệt, đau nặng hơn, lan rộng hơn, ấn vào hạ sườn phải rất đau. Thở sâu, trở mình hoặc ho đều làm tăng đau, khiến bệnh nhân co người, nằm yên. Khoảng 1/3 – 1/2 bệnh nhân sờ được túi mật to cỡ quả trứng gà, đau hơn khi chạm. Phần lớn bệnh nhân nếu được điều trị hiệu quả thì các triệu chứng sẽ thuyên giảm dần, nhưng số ít (đặc biệt người già xơ vữa động mạch) có thể bị hoại tử túi mật và thủng, gây đau dữ dội, diễn tiến nhanh, mất nước, sốc, viêm phúc mạc, nguy hiểm tính mạng.
[Yếu tố gây bệnh]
Viêm túi mật cấp là một bệnh thường gặp, chủ yếu xuất hiện ở túi mật đã có sỏi, hoặc xảy ra thứ phát từ sỏi đường mật và giun đũa đường mật. Thường do kích thích hóa học và nhiễm khuẩn dẫn đến:
Hơn 90% viêm túi mật có kèm sỏi mật, bệnh nhân không có sỏi dưới 5%. Ngoài ra, giun đũa, sán lá gan (Clonorchis sinensis), trùng roi (Giardia lamblia)… cũng gây bít ống túi mật.
Ở giai đoạn đầu viêm túi mật cấp, không nhất thiết có nhiễm khuẩn. Nhưng túi mật thiếu máu, tổn thương, sức đề kháng giảm, sau 1 năm bệnh, trên 50% ca kèm nhiễm khuẩn (thường là vi khuẩn đường ruột). Vi khuẩn xâm nhập qua đường máu (huyết sinh), hoặc ngược dòng từ ruột – gan – đường mật, hay từ vết thương ở vùng túi mật.
Ở phụ nữ mang thai, do tác động hormone, túi mật co bóp chậm lại, phình giãn, mật ứ đọng gây viêm cấp.
Sau phẫu thuật cắt dây thần kinh phế vị, hoặc do đau đớn, sợ hãi, lo lắng…, cũng ảnh hưởng sự co bóp túi mật, làm ứ đọng mật, gây viêm.
[Tài liệu tham khảo]
Ngoài viêm cấp, túi mật bị tắc nghẽn tuần hoàn, hoại tử, chảy máu trong tổ chức túi mật.
Triệu chứng chính: Đau vùng hạ sườn phải, buồn nôn – nôn, sốt. Ban đầu, cơn đau giống cơn đau quặn mật (biliaric colic), nhưng thường kéo dài hơn. Thở, đổi tư thế làm đau tăng nên bệnh nhân nằm nghiêng phải. Buồn nôn, nôn không quá mạnh. Phần lớn bệnh nhân sốt 38–38,5°C, hiếm khi sốt cao rét run. Một số ít có vàng da nhẹ. Khám có đau chói ở hạ sườn phải, bụng co cứng, khoảng 1/3 bệnh nhân sờ được túi mật sưng. Xét nghiệm máu thấy bạch cầu trung tính tăng, siêu âm phát hiện túi mật to, dày thành, thấy sỏi kẹt ở cổ túi mật.
Dựa vào triệu chứng, khám lâm sàng và xét nghiệm (trong đó có siêu âm), bác sĩ thường chẩn đoán sớm được viêm túi mật cấp.
3/ Tại sao viêm túi mật cấp thường gây đau vùng vai phải?
Ở bệnh nhân viêm túi mật cấp, có thể xuất hiện cảm giác đau lan đến vùng vai phải hoặc góc dưới xương bả vai phải. Nguyên lý là do quá trình viêm trong viêm túi mật cấp kích thích các tận cùng thần kinh hoành (phần phải), gây ra hiện tượng đau phản xạ ở da vùng vai phải.
Cụ thể, thần kinh hoành (thần kinh cơ hoành) do các rễ C3 – C5 hợp thành, chủ yếu là rễ C4. Từ C4 còn tách ra một nhánh phân bố vào da vùng vai. Khi ổ viêm túi mật kích thích ngọn thần kinh hoành, xung động truyền qua dây thần kinh hoành lên đến hạch C4. Tại đây, nó gây ảnh hưởng lên các sợi thần kinh cảm giác chi phối da vùng vai, khiến vỏ não nhận tín hiệu sai, “ngỡ” rằng cơn đau đến từ vùng vai phải. Vì thế, bệnh nhân cảm thấy đau vai phải.
Còn nguyên nhân đau góc dưới xương bả vai phải là do quá trình viêm từ lớp niêm mạc túi mật lan dần ra lớp thanh mạc. Khi viêm tác động đến phúc mạc, nó kích thích các thần kinh xung quanh thành bụng, tức là các nhánh thần kinh gian sườn bên phải (T8 – T10). Mỗi thần kinh gian sườn tách ra nhánh trước và sau; trong đó, nhánh trước của thần kinh gian sườn T9 phân bố vùng bụng – vị trí túi mật. Một khi kích thích quá mạnh ở vùng này, xung động có thể phản xạ ngược lên nhánh sau của cùng dây thần kinh, dẫn đến đau ở vùng mà nhánh sau chi phối, tức là vùng dưới xương bả vai phải.
4/ Các bệnh cấp tính cần phân biệt với viêm túi mật cấp?
Trong lâm sàng, viêm túi mật cấp điển hình khá dễ chẩn đoán, nhưng một số trường hợp nhẹ hoặc giai đoạn khởi phát sớm có thể bị nhầm lẫn, bởi vì có nhiều bệnh cấp tính gây đau vùng hạ sườn phải. Ví dụ, viêm gan virus cấp, viêm tụy cấp, viêm ruột thừa cấp, bệnh do giun đũa đường mật, thủng loét tiêu hóa, cũng như suy tim phải đều có thể gây đau vùng trên bụng phải và dễ bị nhầm lẫn với viêm túi mật cấp.
Ngoài ra, phụ nữ trẻ cần loại trừ hội chứng Fitz-Hugh-Curtis (viêm quanh gan do viêm vòi trứng cấp), có đau hạ sườn phải, nhưng khám phụ khoa thấy đau hạ vị, xét nghiệm dịch cổ tử cung có lậu cầu hoặc Chlamydia.
5/ Liệu viêm túi mật cấp có giống như viêm ruột thừa cấp, có xảy ra hoại tử và thủng không?
Sau khi mắc viêm ruột thừa cấp, thường xảy ra hiện tượng hoại tử và thủng ruột thừa, từ đó dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như viêm phúc mạc. Tương tự, viêm túi mật cấp cũng có thể dẫn đến hoại tử và thủng túi mật, làm cho viêm lan ra ngoài túi mật.
Quá trình hoại tử và thủng túi mật trong viêm túi mật cấp là kết quả của sự phát triển của viêm túi mật và sự cản trở của lưu lượng máu đến thành túi mật. Ban đầu, khi túi mật bắt đầu viêm, chỉ có hiện tượng đông máu, phù nề, thường gọi là viêm túi mật cấp tính đơn thuần; sau đó, khi bệnh tiến triển và nhiễm khuẩn, thành túi mật bị xâm nhập bởi nhiều bạch cầu đa nhân trung, dẫn đến tích tụ mủ trong túi mật và biến thành viêm túi mật cấp tính mủ; nếu viêm tiếp tục gia tăng, lượng chất tiết viêm tăng, áp lực bên trong túi mật tăng, ảnh hưởng đến lưu lượng máu của thành túi mật, gây thiếu máu và từ đó dẫn đến hoại tử và thủng. Đôi khi, áp lực trực tiếp của sỏi mật cũng có thể gây ép cản, dẫn đến hoại tử và thủng túi mật.
Mặc dù hoại tử và thủng túi mật ở viêm túi mật cấp không phổ biến như ở viêm ruột thừa cấp, nhưng hậu quả của chúng thường nghiêm trọng hơn. Khi túi mật bị hoại tử và thủng, có thể gây ra áp-xe quanh túi mật, viêm phúc mạc do dịch mật tràn ra, hoặc rò ống mật – ruột, gây khó khăn lớn trong điều trị và đôi khi có thể đe dọa đến tính mạng bệnh nhân. Do đó, đối với những bệnh nhân có nguy cơ xảy ra hoặc đã xảy ra hoại tử – thủng, bác sĩ thường chủ động áp dụng phương pháp điều trị phẫu thuật.
Các dấu hiệu cần cảnh giác nguy cơ hoại tử – thủng ở bệnh nhân viêm túi mật cấp gồm:
1/ Sau 48 giờ điều trị bằng thuốc, triệu chứng không giảm mà ngược lại trở nên nặng hơn.
2/ Số lượng bạch cầu trong máu tăng trên 20×10⁹/L.
3/ Đau bụng không chỉ giới hạn ở vùng bụng trên trung hoặc bên phải mà lan rộng ra các vùng khác của bụng hoặc toàn bụng.
6/ Nguyên tắc điều trị viêm túi mật cấp là gì?
Đối với bệnh nhân viêm túi mật cấp, thông thường nên áp dụng điều trị nội khoa trước (không phẫu thuật) để làm dịu triệu chứng, sau đó mới lựa chọn phẫu thuật theo lịch trình. Phương pháp nội khoa bao gồm:
Nghỉ ngơi trên giường, nhịn ăn, truyền dịch, điều chỉnh rối loạn nước và điện giải.
Sử dụng kháng sinh và vitamin, cần thiết thì thực hiện giảm áp dạ dày – ruột.
Khi đau bụng, có thể dùng thuốc giãn cơ và giảm đau như atropin, dolargan… đồng thời theo dõi sát diễn tiến bệnh.
Nếu có các trường hợp sau đây, sau khi thực hiện điều trị triệu chứng ngắn hạn, cần chuyển sang phẫu thuật khẩn cấp:
Triệu chứng lâm sàng nặng, không dễ giảm, túi mật phình to và có áp lực cao, có khả năng thủng.
Đau bụng rõ rệt, cơ bụng căng cứng, có dấu hiệu kích thích phúc mạc, hoặc trong quá trình điều trị, dấu hiệu lâm sàng của bụng tăng lên.
Viêm túi mật mủ cấp có kèm theo rét run, sốt cao và tăng bạch cầu rõ rệt.
Trong hầu hết các trường hợp viêm túi mật cấp mà điều trị nội khoa không hiệu quả hoặc bệnh tình xấu đi.
Ở bệnh nhân lớn tuổi, túi mật dễ bị hoại tử và thủng, với triệu chứng nặng, nên tiến hành phẫu thuật sớm
7/ Tại sao khi mắc viêm túi mật cấp, người bệnh đều cần được điều trị bằng phẫu thuật?
Sau khi mắc viêm túi mật cấp, hầu hết bệnh nhân đều cần được điều trị bằng phẫu thuật. Điều này bởi vì ở một số ca viêm túi mật cấp, quá trình tiến triển của bệnh diễn ra nhanh chóng và nghiêm trọng, có thể dẫn đến hoại tử và thủng túi mật. Một khi túi mật bị hoại tử và thủng, hậu quả trở nên rất nghiêm trọng, gây ra áp-xe quanh túi mật hoặc viêm phúc mạc do mật, thậm chí đe dọa tính mạng của bệnh nhân. Một số bệnh nhân, mặc dù sau khi được điều trị bằng thuốc, các triệu chứng viêm có thể tạm thời giảm đi, nhưng do tổn thương nặng do viêm cấp đã xảy ra, túi mật sẽ bị tổn hại nghiêm trọng, dẫn đến viêm mạn tính và dễ tái phát các cơn viêm cấp. Ngoài ra, viêm có thể lan ra các phần khác của hệ thống mật, làm phức tạp thêm tình trạng bệnh. Tóm lại, nếu không tiến hành phẫu thuật cắt bỏ túi mật bị viêm cấp, bệnh sẽ không thể hồi phục hoàn toàn. Do đó, ngay khi được chẩn đoán viêm túi mật cấp, các bác sĩ phẫu thuật thường khuyến cáo can thiệp bằng phẫu thuật.
Phẫu thuật cắt túi mật là phương pháp chính để điều trị viêm túi mật cấp, và phần lớn bệnh nhân sau mổ có thể hồi phục trong thời gian ngắn. Trong một số trường hợp, nếu bệnh nhân do tuổi tác cao, kèm theo bệnh tim, phổi, thận nghiêm trọng, hoặc nếu túi mật đã bị hoại tử, thủng và dẫn đến nhiễm độc toàn thân khiến bệnh nhân không đủ sức chịu được phẫu thuật cắt túi mật, có thể ưu tiên tiến hành thủ thuật dẫn lưu túi mật. Phẫu thuật dẫn lưu này thực hiện bằng cách cắt một lỗ nhỏ ở đáy túi mật và đặt một ống cao su ra ngoài, để cho dịch mật nhiễm khuẩn chảy ra ngoài, giúp cứu sống bệnh nhân. Tuy nhiên, sau thủ thuật dẫn lưu, khi tình trạng toàn thân của bệnh nhân cải thiện, vẫn cần phải thực hiện phẫu thuật thứ hai để cắt bỏ túi mật bị bệnh. Thông thường, phẫu thuật thứ hai được thực hiện sau 2–3 tháng từ phẫu thuật đầu tiên.
8/ Khi nào nên phẫu thuật cho bệnh viêm túi mật cấp?
Sau khi mắc viêm túi mật cấp, hầu hết bệnh nhân đều cần được điều trị bằng phẫu thuật. Tuy nhiên, thời điểm thích hợp để mổ phụ thuộc vào tình trạng cụ thể của bệnh nhân:
1/Phẫu thuật cấp cứu Ở một số bệnh nhân viêm túi mật cấp, bệnh khởi phát nhanh, diễn tiến nguy hiểm, có nguy cơ túi mật bị hoại tử và thủng, hoặc túi mật đã bị thủng kèm theo viêm phúc mạc mật. Trong những trường hợp này, điều trị bằng thuốc đơn thuần không mang lại hiệu quả và thậm chí có thể làm trễ thời gian can thiệp, đe dọa tính mạng.
Những bệnh nhân này thường có triệu chứng nặng: đau vùng hạ sườn phải kéo dài và dữ dội, nhiệt độ cơ thể tăng từ 39°C đến 40°C trở lên, vùng bụng phải có vùng đau lan rộng, cơ bụng căng cứng, và có thể xuất hiện các dấu hiệu sốc như giảm huyết áp.
Trong tình trạng này, bác sĩ sẽ quyết định tiến hành phẫu thuật cấp cứu để cắt túi mật sau khi chuẩn bị ngắn hạn trước mổ (bao gồm truyền dịch, truyền máu, dùng kháng sinh…) nhằm cải thiện tình trạng toàn thân và giảm rủi ro khi mổ.
2/ Phẫu thuật hoãn lại (trì hoãn) Đối với những bệnh nhân viêm túi mật cấp có triệu chứng không quá nặng, có thể áp dụng điều trị nội khoa ban đầu để làm giảm viêm, cho đến khi cơn viêm giảm đi, rồi lựa chọn phẫu thuật theo lịch trình.
Khi viêm giảm, túi mật và các mô xung quanh sẽ ít phù nề và có ranh giới rõ ràng, giúp phẫu thuật dễ thực hiện hơn và giảm nguy cơ làm tổn thương các cấu trúc quan trọng như ống mật chủ.
Thêm vào đó, thời gian này cho phép bác sĩ thực hiện các kiểm tra cần thiết, đánh giá toàn diện tình trạng đường mật, từ đó lựa chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp nhất.
Đối với những bệnh nhân lớn tuổi hoặc có các bệnh nền nghiêm trọng như tiểu đường, cao huyết áp, bệnh tim hoặc bệnh thận, có thể chờ đến khi cơn viêm túi mật cấp cải thiện, sau đó kiểm soát các bệnh nền, mới lựa chọn phẫu thuật, nhằm đảm bảo an toàn tối đa.
Trong quá trình điều trị nội khoa, các biện pháp chủ yếu bao gồm: bệnh nhân cần nhịn ăn, nghỉ ngơi tuyệt đối, truyền dịch để bù nước và điều chỉnh điện giải, sử dụng kháng sinh để kiểm soát nhiễm khuẩn, dùng thuốc giải co thắt và giảm đau (như atropin, dolargan, hoặc các loại thuốc khác), đồng thời theo dõi chặt chẽ tiến triển bệnh. Nếu tình trạng không cải thiện mà ngược lại trở nên nặng hơn, thì phẫu thuật phải được tiến hành kịp thời.
9/ Làm sao điều trị viêm túi mật cấp?
Điều trị viêm túi mật cấp thường được chia thành hai hướng: liệu pháp dùng thuốc và phẫu thuật. Ở giai đoạn sớm, ví dụ như viêm túi mật cấp tính dạng phù nề, nên áp dụng điều trị bằng thuốc kết hợp Đông – Tây y, giúp phần lớn bệnh nhân giảm các triệu chứng. Trong điều trị bằng Đông y, thường dùng nguyên tắc “thải can, lý khí, lợi mật, giảm đau” với bài thuốc như “Chai hu shu gan yin” (có thể gia giảm theo từng trường hợp). Đồng thời, Tây y bổ sung các thuốc giải co thắt, giảm đau như Dolargan, Atropin, Probanthin, cùng với việc sử dụng kháng sinh thích hợp.
Nếu tình trạng bệnh không được kiểm soát và tiến triển thành viêm túi mật cấp mủ, cần áp dụng các biện pháp sau:
1/ Nghỉ ngơi và nhịn ăn: Bệnh nhân cần nằm nghỉ, nhịn ăn; với trường hợp nôn mửa nặng, có thể thực hiện giảm áp dạ dày – ruột.
Phải truyền dịch tĩnh mạch để bổ sung dinh dưỡng, duy trì cân bằng nước và điện giải, cung cấp đủ glucose và vitamin để bảo vệ gan.
2/ Giải co thắt và giảm đau: Sử dụng các thuốc như Atropin, nitroglycerin, Dolargan, Mesantoin… nhằm duy trì chức năng tim mạch bình thường và bảo vệ thận.
3/ Điều trị kháng khuẩn: Sử dụng kháng sinh để phòng ngừa nhiễm khuẩn huyết và các biến chứng mủ, thường kết hợp Ampicillin, Clindamycin và nhóm aminoglycoside, hoặc sử dụng Cephalosporin thế hệ thứ hai. Việc thay đổi kháng sinh cần căn cứ vào kết quả cấy máu và thử nghiệm độ nhạy.
Trong khi thực hiện các biện pháp điều trị trên, cần chuẩn bị sẵn sàng cho phẫu thuật. Nếu điều trị nội khoa không kiểm soát được tiến triển bệnh, bệnh nhân nên được chuyển sang phẫu thuật cắt túi mật kịp thời.
Phân loại và điều trị viêm túi mật cấp bằng Đông y
Trong Đông y, điều trị viêm túi mật cấp dựa trên biện chứng, chia các thể lâm sàng và chọn bài thuốc phù hợp. Dưới đây là tóm tắt cách phân thể (chứng) và bài thuốc thường dùng:
Triệu chứng lâm sàng: Đau quặn liên tục vùng hạ sườn phải, khởi phát đột ngột, kịch phát từng cơn, có thể căng cứng cơ bụng, sợ ấn. Có thể kèm bức bối, buồn nôn, miệng đắng, họng khô, sốt cao hoặc sốt nhẹ kéo dài, tiểu ít vàng sậm, táo bón, hoặc vàng da vàng mắt, rêu lưỡi vàng – vàng nhớt, mạch Huyền hoặc Huyền Hoạt.
Phương pháp điều trị: Thanh nhiệt lợi thấp, lý khí thông hạ.
Bài thuốc gợi ý: Tiểu sài hồ thang gia giảm. Sài hồ 15–25g Hoàng cầm 15g Bán hạ 15g Mộc hương 7,5g Uất kim 15g Đại hoàng 15g (bỏ vào sau) Xa tiền tử 15g Mộc thông 15g Chi tử 15g Nhân trần 25g.
Phân tích
Tà thấp nhiệt uất ở kinh đảm, khí cơ không thông lợi, thường gặp viêm túi mật cấp nhiễm khuẩn, hoặc viêm túi mật hóa mủ giai đoạn sớm. Biểu hiện: Bệnh nhân đột ngột sốt cao, đau vùng hạ sườn phải dữ dội, có thể kèm vàng da.
Sài hồ, Hoàng cầm: Thanh lợi can đởm, Bán hạ: giáng nghịch chỉ ẩu, hóa đàm lợi thấp; Mộc hương, Uất kim: thư can đởm, hành khí chỉ thống; Đại hoàng: tả nhiệt thông trường, trục thấp nhiệt; Xa tiền tử, Mộc thông: lợi thủy thẩm thấp; Chi tử, Nhân trần: Thanh tiết thấp nhiệt ở can đảm, tiêu hoàng đản.
Triệu chứng lâm sàng
Đau kịch liệt ở hạ sườn phải, lan khắp bụng trên hoặc toàn bụng, bụng cứng gồng, sợ ấn, có khối đau (áp xe hoặc bọc mủ), kèm sốt cao, rét run, miệng đắng, tâm thần bứt rứt, thể trạng mệt mỏi hoặc thần trí mơ hồ, có khi mê sảng, da mắt vàng đậm, tiểu ít đỏ, phân táo, lưỡi đỏ tím, rêu vàng khô, mạch Huyền Hoạt Sác.
Phương pháp điều trị: Thanh nhiệt giải độc, thông tả công hạ.
Bài thuốc gợi ý: Đại thừa khí thang hợp Long đởm tả can thang gia giảm.Đại hoàng 15g (bỏ sau) Hậu phác 10g Chỉ thực 15g Mang tiêu 10g (hoà sau) Chi tử 10g Long đởm thảo 10g Mộc hương 5g Sinh địa 10g Sài hồ 20g Hoàng cầm 15g Liên kiều 30g
Bồ công anh 30g Bản lam căn 30g
Phân tích: Bệnh cảnh độc nhiệt mạnh, viêm nhiễm nặng (có mủ, hoại tử) — thường gặp viêm túi mật hóa mủ, hoại tử giai đoạn nặng. Đại hoàng, Mang tiêu: Tả nhiệt thông hạ, giải độc tiêu ứ; Chỉ thực, Mộc hương: Hành khí, giảm đau; Chi tử, Long đởm thảo, Sài hồ: Thanh nhiệt lợi đởm; Sinh địa, Hoàng cầm: Lương huyết, giải độc; Liên kiều, Bồ công anh, Bản lam căn: Thanh nhiệt giải độc. Nếu sốt cao, hôn mê, có thể dùng An cung ngưu hoàng hoàn; Nếu mệt suy, mạch yếu thêm Sâm phụ thang.
Một số bài thuốc Đông y điều trị viêm túi mật cấp (đơn nghiệm phương)
1/ Sài hồ 15g, Hoàng cầm 15g, Bán hạ 15g, Chỉ thực 15g, Hậu phác 15g, Nhân trần 15g, Bạch thược 15g, Đại hoàng 15g. Ngày 1 thang, sắc uống. Phù hợp thể khí uất hoặc thấp nhiệt.
2/ Mộc hương 10g, Uất kim 15g, Chi tử 15g, Long đởm thảo 15g, Đại hoàng 15g (sau), Mang tiêu 10g, Sài hồ 20g, Nhân trần 30g. Thường trị thể độc nhiệt.
3/ Lô căn tươi 33 cm, Hoắc hương tươi 10g, sắc uống 3–4 lần/ngày, cho giai đoạn lui bệnh còn vương thấp nhiệt, giúp hóa thấp trừ vàng da.
Các bài thuốc Đông y hiệu nghiệm điều trị viêm túi mật cấp
Viêm túi mật cấp có thể do các yếu tố: nhiễm khuẩn, mật cô đặc kích thích hóa học, trào ngược dịch tụy, sỏi mật gây tắc, ký sinh trùng, chấn thương, bỏng, hậu phẫu… Mức độ viêm từ nhẹ (phù nề, sung huyết) đến nặng (mưng mủ, hoại tử). Bệnh nhân thường có tiền sử viêm túi mật mạn, nhiều lần đau quặn mật. Thể nhẹ: có thể chỉ hơi sốt, mệt mỏi, khó tiêu, đau và ấn đau vừa phải ở hạ sườn phải, có thể lan xuống góc dưới xương bả vai. Trường hợp nặng (hóa mủ) thì biểu hiện toàn thân và cục bộ nghiêm trọng – sốt cao, ớn lạnh, buồn nôn, nôn, hơi thở cạn, có thể vàng da, đau hạ sườn phải và phản ứng dội rõ rệt. Dựa vào xét nghiệm và siêu âm B, chẩn đoán không quá khó. Theo y học cổ truyền, bệnh thuộc phạm trù “phúc thống”, “vị gia thực”. Dưới đây là một số bài thuốc kinh nghiệm:
1/ Phương số 1
Cách dùng
Đại hoàng Tuyết Kim thang
Sinh đại hoàng, Uất kim mỗi loại 10g, Tích tuyết thảo 20g, Kim linh tử 12g, Sơn tra 12g. Sắc nước uống. Gia giảm: Nếu thể nhiệt uất hóa hỏa: tăng Sinh đại hoàng lên 12g; thể can uất khí trệ: giảm còn 7g. Giai đoạn cuối bệnh: giảm đại hoàng còn 4–5g; nếu phân không rắn, có thể dùng Đại hoàng chế. Đau hạ sườn kèm vàng da: tăng Uất kim lên 15g. Thấp nhiệt ứ trệ kèm vàng da: tăng Tích tuyết thảo 30g; thể thấp nhiệt gia Xà thiệt thảo, Áp địch thảo (mỗi 30g); thể can uất khí trệ gia Hương phụ 10g, hoa Hồng (Mai Quế hoa), Chỉ hạch (mỗi 8g); nếu nhiệt uất hóa hỏa gia Bồ công anh 20g, Liên kiều 15g, Hoàng cầm 10g.
Hiệu quả
Điều trị 60 ca: khỏi 43, khá 8, có hiệu quả 6, không kết quả 6.
(Theo kinh nghiệm của Trần Thụ Trang – “Tạp chí Hồ Bắc Trung y” số 2/1987)
Trị pháp
Đại hoàng thược dược thang
Đại hoàng 30–45g, Bạch thược 30–60g. Sắc uống ngày 1 thang, chia uống nhiều lần. Sau khi uống, bệnh nhân đi ngoài 3–5 lần, đau bụng giảm thì giảm liều.
Hiệu quả
12 ca điều trị: 9 ca hết đau và đầy bụng, 2 ca giảm đau – đầy bụng, 1 ca không khỏi.
(Theo kinh nghiệm của Hồ Trường Kiện… – “Hà Bắc Trung y” số 2/1989)
Cách dùng
Kim Tất thang
Cứu Tất Ứng (救必应) 15–24g, Kim tiền thảo và Nhân trần (mỗi 30g), Nhập địa kim ngưu, Hoàng cầm (mỗi 15g), Chỉ thực (Chỉ khối) 9g, Mộc hương 9g.
Gia giảm: Táo bón gia Đại hoàng 15g; Đau nhiều thêm Huyền hồ 9g, Kim linh tử 12g (Xuyên luyện tử); Vàng da nặng gia Nhân trần, Sơn chi (mỗi 12g); Nôn ói thêm Hoắc hương 9g, Thanh bì 6g. Mỗi ngày 1–2 thang, sắc 3 bát còn 1 bát, uống ấm.
Hiệu quả
Điều trị 20 ca: 14 ca hiệu quả rõ, 4 ca do sốt cao đau nhiều, uống không giảm nên chuyển Tây y, 2 ca chuyển viện.
(Theo kinh nghiệm Trần Trọng Nam – “Tân Trung y” số 1/1975)
Cách dùng
Phương thuốc: Xuân Sài hồ, Đạm Hoàng cầm, Chế Bán hạ, Tiểu Chỉ thực (mỗi 12g), Hương Thanh hao, Uất kim, Huyền minh phấn (mỗi 20g, Huyền minh phấn hòa sau), Kim tiền thảo, Lục Nhất tán (gói sắc) mỗi 30g, Huyền hồ, Sinh đại hoàng (bỏ sau) mỗi 15g. Ngày 1 thang sắc uống.
Hiệu quả
Ca bệnh: nam 54t, sốt lạnh, đau quặn hạ sườn phải 3 ngày, điều trị Tây y không đỡ. Nhiệt độ 38,8°C, đau cự nự, buồn nôn. Lưỡi vàng, dày nhớt, rìa hơi đỏ, mạch Hoạt Sác, tiểu ít vàng, táo bón 3 ngày. Dùng 3 thang, hết táo, giảm đau, lưỡi bớt nhớt, cắt cơn sốt. Điều chỉnh liều đại hoàng, huyền minh phấn, tiếp 3 thang khỏi hẳn.
(Theo Tống Thiếu Tăng – “Giang Tô Trung y” số 11/1986)
Cách dùng
Thuốc: Sài hồ 20g, Chỉ thực, Bạch thược, Hoàng cầm, Bán hạ, Thanh bì, Mộc hương, Trư linh (mỗi 12g), Nhân trần, Uất kim (mỗi 15g), Đại hoàng 18g, sắc uống ngày 1 thang.
Hiệu quả
Ca bệnh: nữ 48t, tiền sử viêm túi mật mạn 4 năm, sốt nhẹ, ớn lạnh, nôn ói, đau quặn ở hạ sườn phải tăng dần, khô miệng, tiểu vàng, 4 ngày không đại tiện. Bụng trên phải sợ ấn. Chẩn là thấp nhiệt uất kết trung tiêu, can đởm uất trệ. Dùng bài thuốc trên (gia giảm) >10 thang khỏi.
(Theo Trần Giai Khoan – “Tứ Xuyên Trung y” số 8/1987)
Cách dùng
Tự lập: Đại hoàng 20g, Hậu phác, Chỉ xác, Sài hồ, Xuyên luyện, Hoắc hương mỗi vị 10g, Linh tiên 15g, Nhân trần 40g. Ngày 1 thang sắc uống.
Hiệu quả
Ca bệnh: nữ 38t, sau lao động nặng, đột nhiên đau bụng trên dữ dội, lan ra vai và hai bên, chướng bụng, buồn nôn ói mật, chẩn viêm túi mật cấp. Nhiệt độ 40°C, hôn mê, nói sảng, da vàng, người ốm, 4 ngày không đi ngoài, bụng trên căng cứng, lưỡi vàng dày, mạch Huyền Tế. Sau 2 thang, giảm liều đại hoàng còn 6g, bỏ Hoắc hương, thêm Bạch truật, Phục linh, Sơn chi, uống 6 liều khỏi.
(Theo Tấu Như Quý – “Tứ Xuyên Trung y” số 4/1988)
Cách dùng
Đại hoàng Mẫu đơn thang gia vị: Sinh đại hoàng, Mẫu đơn bì, Huyền minh phấn (hòa sau), Xuyên luyện, sao Huyền hồ (mỗi 10g), Qua lâu nhân 20g, Đào nhân 6g, Ô mai 5 quả, Hoàng liên 5g. Sắc uống ngày 1 thang.
Hiệu quả
Ca bệnh: nữ 35t, viêm túi mật tái phát, đau vùng thượng vị, mạch Trì Khẩn, lưỡi vàng nhớt. Uống 2 thang khỏi hẳn.
(Theo Sài Trung Nguyên… “Hắc Long Giang Trung y dược” số 3/1985)
Cách dùng
Qua lâu – Hạ bạch – Bạch tửu thang gia giảm: Toàn Qua lâu, Hạ bạch (hay Tỏi rừng?), Lai phục tử, Bán hạ mỗi 15g, Bạch khấu 6g. Ngày 1 thang sắc uống.
Hiệu quả
Ca bệnh: nữ 45t, đau bụng trên 4 ngày, kèm ớn lạnh sốt. Siêu âm, xét nghiệm chẩn viêm túi mật cấp. Dùng kháng sinh, Atropin 3 ngày không đỡ. Bụng trên căng như khối, ợ chua, nôn, mạch Trầm Hữu Lực, lưỡi trắng dày nhớt. Uống 1 giờ buồn nôn tăng, nôn ra nhiều cặn hôi, bụng trên nhẹ hẳn, 2 giờ sau hạ sốt. Uống tiếp, 1 thang khỏi. Về sau phối hợp bài Tam Nhân Thang 3 thang khỏi hẳn.
(Theo Đạm Thành Lâm – “Tứ Xuyên Trung y” số 10/1990)
Cách dùng
Hao cầm thanh đởm thang hợp Tiểu sài hồ thang gia giảm
Thanh hao, Hoàng cầm, Sài hồ, Bán hạ, Chỉ khâu, Trúc nhự, Xuyên luyện tử, Mộc hương. Ngày 1 thang sắc.
Pháo Giáp phiến, Đương quy, Hồng hoa, Tam lăng, Nga truật, Mộc hương, Sài hồ mỗi 10g, Xích thược 15g, Kim tiền thảo 30g, Cam thảo 5g. Ngày 1 thang sắc.
Hiệu quả
Ca bệnh: nam 52t, ăn nhiều thịt, rượu, sau nửa ngày đau hạ sườn phải, cơn kịch phát, chẩn viêm túi mật cấp, kháng sinh không đỡ. Sốt dao động, đứng nghiêng đau thắt, buồn nôn, 2 ngày chưa đại tiện, 38°C, củng mạc hơi vàng, lưỡi đỏ nhớt vàng, mạch Huyền Hoạt Sác. Siêu âm túi mật 9×3,5×3 cm. Chẩn: thấp nhiệt uất kết đởm. Dùng bài (1) 10 thang, hạ sốt, nhưng vẫn còn đau như kim châm. Chụp túi mật, dịch cản quang không vào túi, thấy bóng túi to 13×5 cm. Lưỡi hơi tím, rêu vàng nhớt, mạch Huyền Hoạt Sác. Dùng bài (2) hoạt huyết, giảm đau. Uống đến 18 thang hết đau, khỏi hẳn.
(Theo Can Hiến Lâm… “Sơn Đông Trung y tạp chí” số 5/1986)
Châm cứu điều trị viêm túi mật cấp
Thể châm
Huyệt: Đởm du, Can du, Nhật nguyệt, Dương lăng tuyền, huyệt Đởm nang, Kỳ môn, Thái xung.
Nếu thể khí uất: thêm Hành gian; thể thấp nhiệt: thêm Túc tam lý, Ẩn linh tuyền; thể độc nhiệt: thêm Nhân trung, Đại chùy, Nội quan; đau quặn nhiều: thêm Hợp cốc, Khích môn; vàng da: thêm Chí âm; nôn: thêm Nội quan; sốt: thêm Đại chùy, Khúc trì.
Mỗi lần chọn 3–5 huyệt, dùng kim châm mạnh, thủ thuật tả, mỗi huyệt vê kim 3–5 phút, lưu 20–30 phút, cứ 5 phút vê kim 1 lần, ngày 1–2 lần.
Nhĩ châm
Huyệt: vùng Tụy, Đởm, Can, Tá tràng, Thần môn, Giao cảm, Tam tiêu… Nếu vàng da: thêm Thượng thận, Nội tiết; đầy bụng: Tỳ, Vị, Tâm môn; buồn nôn: Thực quản, Chẩm… Mỗi lần chọn 3–5 huyệt nhạy cảm, kim ngắn kích thích mạnh, bệnh nhân chịu được thì lưu 30–50 phút, vê kim cách quãng, ngày 1 lần.
Điện châm
Huyệt: Đởm du phải (cực âm) – Đởm nang/ Nhật nguyệt/ Trung quản/ Lương môn/ Thái xung (cực dương). Sau khi đắc khí, nối máy điện châm dạng tần số điều chỉnh, từ nhẹ tới mạnh, ngày 2–3 lần, mỗi lần 20–30 phút.
Các phương pháp ngoại trị khác trong Đông y cho viêm túi mật cấp
Cao dán giảm co thắt – giảm đau:
Dán 1 miếng vào huyệt Trung quản, sau 1 giờ giảm đau rõ, trị cơn đau quặn mật.
Giác hơi vùng Thiên khu, Khí hải, Trung cực, Quan nguyên
Trị đau bụng trên. Nếu nôn, có thể châm – giác vùng Cưu vĩ, Cự khuyết. Hoặc dùng thuốc dán huyệt (Bạch truật, Xuyên phác, Mộc hương, Uất kim, Bạch thược, Huyền hồ… tán nhuyễn trộn cao).
Dùng Bạch đậu khấu (giã nát) đắp cổ tay
Khi nổi bóng nước, chích bỏ “nước vàng”, có tác dụng thoái hoàng (giảm vàng da).
Dùng Mao lương tươi (giã nát) vo cục cỡ hạt đậu, buộc vào cánh tay, qua đêm nổi mụn, chích ra nước vàng.
Ly Nguyễn Nghị dịch