Viêm teo dạ dày mạn tính
Viêm teo dạ dày mạn tính là bệnh dạ dày phổ biến. Do xơ cứng động mạch, lưu lượng máu đến dạ dày không đủ, nghiện thuốc lá, rượu chè… dễ làm tổn thương chức năng rào cản của niêm mạc dạ dày, gây viêm teo dạ dày mạn tính. Trong viêm teo dạ dày, niêm mạc dạ dày co lại và được thay thế bằng các tế bào biểu mô ruột, tức là chuyển sản ruột, khi tình trạng viêm tiếp tục tiến triển, sự phát triển của tế bào là không điển hình, tức là dị sản; thậm chí là tăng sinh tế bào dẫn đến ung thư. Biểu hiện lâm sàng chỉ là các triệu chứng khó tiêu như đầy tức thượng vị, ợ hơi, ăn không ngon, đôi khi do các yếu tố ở dạ dày bị phá hoại nên kém hấp thu vitamin B12 từ đó có thể dẫn đến thiếu máu.. Nội soi và sinh thiết là phương tiện chẩn đoán duy nhất của bệnh này.
Viêm teo dạ dày có thể điều trị bằng thuốc, đồng thời nên kiểm tra định kỳ để ngăn ngừa ung thư.
Điều trị viêm teo dạ dày mạn tính y học cổ truyền tiến hành biện chứng luận trị như thế nào?
Bệnh viêm teo dạ dày mạn tính có rất nhiều hội chứng và phương pháp điều trị, nhưng có thể tóm tắt theo 5 loại hình hội chứng để tiến hành biện chứng luận trị như: Can vị bất hòa, Tỳ vị thấp nhiệt, Tỳ Vị hư nhược, Vị Âm hư và Vị lạc ứ huyết. Hiện tại được mô tả như sau:
(1) Loại hình can vị bất hòa
Triệu chứng chủ yếu: Thượng vị trướng đau, ảnh hưởng ngực và sườn, ợ hơi và trào ngược axit, miệng khô, đắng, ăn không ngon, đại tiện không dễ dàng, bệnh khởi phát thường có liên quan đến trạng thái tinh thần, chất lưỡi hồng, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc vàng mỏng, mạch huyền hoặc huyền sác.
Trị pháp: Sơ (điều tiết) can hoà vị, hành khí tiêu trướng.
Xử phương: Tứ nghịch tán hợp Sài hồ sơ can tán gia giảm: Sài hồ, Chỉ xác, Hương phụ, Đương quy, Bạch thược, Mộc hương, Huyền hồ, Phật thủ.
Gia giảm: ①Nếu can vị khí uất trệ chuyển thành hỏa hoặc can nhiệt xâm phạm dạ dày, biểu hiện thượng vị đau rát, ợ chua, miệng đắng, nôn nao, bứt rứt, có thể dùng Tả kim hoàn hợp kim linh tử tán hoặc Đan chi Tiêu Dao tán gia giảm điều trị. ② Nếu cảm giác thèm ăn rõ ràng là kém, gia thêm Lục thần khúc, Cốc, mạch nha sao, Sơn tra, v.v. ③Nếu lợm giọng buồn nôn, gia Trúc nhự, Bán hạ, Trần bì.
(2) Loại hình tỳ vị thấp nhiệt
Triệu chứng chủ yếu: Thượng vị bĩ tức, khó chịu hoặc đau rát, ợ hơi nôn nao, miệng đắng dính, khát nước mà không muốn uống, hoặc bụng trướng và đại tiện lỏng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dày, nhớt, mạch huyền sác hoặc hoạt sác.
Nguyên tắc điều trị: Thanh nhiệt hoá thấp, kiện tỳ hoà vị.
Xử phương: Tam nhân thang gia giảm: Bạch khấu nhân, Hạnh nhân, Ý rĩ nhân, Hậu phác, Bán hạ, Thông thảo, Hoạt thạch, Trúc nhự, Hoàng liên, Nhân trần, Đan sâm.
Gia giảm: ① Đối với những người bị chứng biểu thấp, thêm Hương nhu và Hoắc hương để giải biểu hoá thấp. ② Lợm giọng và nôn, gia Trúc nhự, Sinh khương điều hòa vị giáng nghịch. ③ Đối với những người chán ăn rõ rệt, gia Kê nội kim, Thần khúc, Mạch nha để tiêu thực trừ tích đình trệ.
(3) Loại hình Tỳ vị hư nhược.
Triệu chứng chủ yếu: Đau âm ỉ vùng thượng vị, thích ấn nắn và ấm áp, bụng đầy trướng, chứng trạng tệ hơn sau khi ăn, bệnh nhân chán ăn, ăn ít, sôi bụng, phân lỏng, hoặc kèm theo mệt mỏi, thiếu sức, lười nói, chân tay đau nhức, chất lưỡi hồng nhạt, rêu mỏng trắng hoặc trắng hoặc có vết răng, mạch trầm tế.
Trị pháp: Bổ khí hòa trung, kiện tỳ dưỡng vị.
Công thức: Thuốc sắc Hương sa lục quân tử thang gia giảm: Đảng sâm, Bạch truật sao, Rĩ nhân, Phục linh, Mộc hương, Sa nhân, Trần bì, Bán hạ, Mạch nha.
Gia giảm: ① Đau bụng đi ngoài phân lỏng, tứ chi không ấm, rêu lưỡi trắng, mạch khẩn, nặng về hư hàn, điều trị nên ôn bổ tỳ vị, dùng phương Hoàng kỳ kiến trung hợp Lương phụ hoàn gia giảm. ② Nếu sau khi ăn mà bị trướng bụng nghiêm trọng, có thể thêm Kê nội kim, Lai bặc tử, Phật thủ, v.v. ③Nếu thấy nôn ra nhiều nước trong, có thể tái sử dụng Trần bì, Bán hạ, Phục linh; Miệng nhiều nước chua rõ rệt, có thể phối với Tả kim hoàn. ④ Bệnh nhân tỳ hư, đại tiện phân lỏng có thể thêm Sơn dược, Liên tử nhục, Biển đậu là những bị thuốc kiện tỳ hoá thấp. ⑤ Kèm theo phân đen thì gia Pháo khương thán, Phục long can, Bạch cập, Địa du thán.
(4) Hội chứng vị âm bất túc (không đủ)
Chủ chứng: Thượng vị đau âm ỉ hoặc đau rát, cồn cào như đói, miệng lưỡi khô, đại tiện khô, chất lưỡi hồng ít tân dịch, có vết nứt, rêu lưỡi ít hoặc không có rêu hoặc rêu lưỡi bị bóc ra, mạch tế sác.
Trị pháp: Thanh nhiệt sinh tân, dưỡng âm ích vị.
Công thức: Sa sâm mạch đông thang gia giảm: Sa sâm, Mạch đông, Thạch hộc, Thiên hoa phấn, Ô mai, Bạch thược, Sơn tra, Cam thảo.
Gia giảm: ① Nếu kèm theo khát nước nhiều, nôn khan, chảy máu chân răng, là những chứng thuộc vị âm hư tổn, hư hoả thiêu đốt, có thể dùng phương Ngọc nữ tiễn gia giảm. ②Nếu bạn cũng cảm thấy đau ở ngực, sườn và bụng, miệng khô đắng, mạch huyền sác, là những hội chứng của can vị âm hư, huyết táo khí uất, tuyển dụng Nhất quán tiễn gia giảm. ③ Nếu khí bị ứ trệ bĩ tắc trong khoang dạ dày, nên sử dụng các loại thuốc hành khí như Phật thủ Lục ngạc mai, Hậu phác hoa, Chỉ xác. ④ Nếu phân quá khô và cứng, có thể dùng chung với Tăng dịch thang. ⑤ Người âm hư nhiệt thịnh, có thể thêm Thạch cao sống, ngưu tất để tăng cường công dụng thanh nhiệt, bồi bổ cơ thể. ⑥Đối với những người kèm theo thấp, có thể sử dụng Rĩ nhân, Bạch khấu nhân, Nhân trần để giải nhiệt hoá thấp. ⑦ Kèm theo ứ trệ thì thêm Đan sâm, Đương quy, Đào nhân để hoạt huyết hoá ứ.
(5) Loại hình ứ huyết ở lạc mạch của dạ dày
Triệu chứng chủ yếu: Đau vùng thượng vị kéo dài không dứt, hoặc đau cố định, không thích ấn nắn, đau như bị vật nhọn đâm, hay kèm theo nôn ra máu, đại tiện phân đen, lưỡi tím sẫm hoặc đỏ sẫm hoặc bầm máu, mạch trầm.
Nguyên tắc điều trị: Hoạt huyết hoá ứ, thông lạc giảm đau
Công thức: Thang Tứ vật Đào hồng kết hợp với Thất tiếu tán gia giảm: Đào nhân, Hồng hoa, Đương quy, Xích thược, Ngũ linh chi, Bồ hoàng sống, Huyền hồ, Đan sâm, Trạch lan, Giáng hương, Cửu hương trùng.
Gia giảm: ①Nếu khí hư, có thể gia Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch truật, Hoàng tinh để bổ khíí; nếu khí bị ngưng trệ rõ rệt, có thể châm chước gia Chỉ xác, Thanh bì, Mộc hương, Sa nhân để hành khí (trừ khí trệ). ② Kèm theo thổ huyết, đại tiện phân đen, nếu xuất huyết đỏ tươi, lưỡi hồng rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác, có thể dùng thang Tả Tâm để thanh nhiệt, mát huyết cầm máu; Nếu xuất huyết có màu hồng tối, sắc mặt bệnh nhân vàng úa, tay chân không ấm áp, chất lưỡi nhạt, mạch yếu nhược, là những biểu hiện của tạng tỳ không thống nhiếp (cai quản) huyết dịch, có thể dùng thang Hoàng thổ để ôn tỳ ích khí nhiếp huyết.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh của viêm teo dạ dày mạn tính trong y học cổ truyền là gì?
Căn nguyên và cơ chế của bệnh viêm teo dạ dày mạn tính không ngoài việc ăn uống không điều độ, tổn hại trung châu, hoặc ngoại tà xâm nhập vào bên trong, tổn thương tỳ vị, thường xuyên lo âu, uất ức tức giận dẫn đến gan không khai thông điều tiết, xâm phạm dạ dày, hoặc do bẩm sinh không tốt nên tỳ vị hư nhược. Vị trí phát bệnh là ở “dạ dày” nhưng lại có quan hệ mật thiết với “tỳ”, “can” và “thận”, cơ chế bệnh có đặc điểm là hư và thực.
(1) Chế độ ăn uống không điều độ, làm tổn thương tỳ vị: {Tố vấn ·Tỳ Luận}nói: “Ẩm thực tự bội, tràng vị nãi thương” (饮食自倍,肠胃乃伤。) khi ăn quá nhiều, bạn sẽ làm tổn thương dạ dày ruột. Nếu bạn ăn uống quá nhiều, no đói bất thường hoặc ăn quá nhiều thực phẩm sống lạnh, lạnh tích tụ ở dạ dày làm tổn thương khí của tỳ vị, khí cơ thăng giáng thất thường; Hoặc ăn nhiều thực phẩm cay, béo, ngọt hoặc uống nhiều rượu mạnh, nhiệt sẽ sinh đờm, tổn thương tỳ vị, dẫn đến đau dạ dày, bĩ tắc đầy trướng.
(2) Ức uất hại gan, ảnh hưởng tỳ vị: Can là chủ tướng, thích thoải mái ghét gò bó. Nếu cảnh ngộ không như ý, lo lắng tức giận, tâm tình phiền muộn, can khí uất trệ, không khai thông điều tiết, xâm phạm tỳ vị, tỳ vị thất hòa có thể gây ra các triệu chứng như đầy tức và nôn nao ở thượng vị. Như trong {Lâm chứng chỉ nam y án} đã nói: “Can chi khởi bệnh chi nguyên, vị vi truyền bệnh chi sở.” (肝为起病之源,胃为传病之所.)Gan là nguồn khởi phát bệnh, dạ dày là nơi truyền phát bệnh . {Thẩm Thị Tôn Sinh thư · Vị thống} viết: “Vị thống, tà can vị quản bệnh dã, duy can khí tương thừa vi vưu thậm, dĩ mộc tính bạo thả chính khắc dã.” (胃痛,邪干胃脘病也,唯肝气相乘为尤甚,以木性暴且正克也.) Đau dạ dày, bệnh tà xâm phạm dạ dày gây bệnh, đặc biệt nhất là can khí tương thừa (tương khắc thái quá) tính của mộc bạo liệt và lại trực tiếp khắc thổ (vị).
(3) Tỳ vị hư nhược do bẩm sinh: Tỳ vị hư yếu, hoặc nội thương do làm việc mệt mỏi, tỳ vị thụ thương; Hoặc bệnh lâu ngày không khỏi, ảnh hưởng tỳ vị, tỳ vị hư yếu, dương khí không đủ, chán ăn, tạng tỳ không vận hoá dẫn đến dạ dày đau bĩ tắc đầy trướng. Như trong { Lan thất bí tàng · Trung mãn phúc trướng luận} : “Tỳ vị cửu hư chi nhân, vị trung hàn tắc sinh trướng mãn, hoặc tạng hàn sinh mãn bệnh.” (脾胃久虚之人,胃中寒则生胀满,或脏寒生满病.) Người tỳ vị hư yếu lâu ngày, trong dạ dày lạnh nên phát sinh đầy trướng, hoặc do tạng hàn sinh ra bệnh đầy (bụng)
(4) Ngoại cảm nội thương, tỳ vị thấp nhiệt: Cảm thụ thử thấp, hàn thấp từ bên ngoài, xâm phạm tỳ vị, thủy ẩm ngưng trệ bên trong; Hoặc do uống rượu quá độ, ủ thấp sinh nhiệt, tổn hại dạ dày; Hoặc can uất tỳ hư, tạng tỳ không vận hoá nên sản sinh và tích chứa thấp nhiệt, dẫn đến các chứng như bĩ đầy, cồn cào, ợ chua, dạ dày đau rát.
(5) Khí trệ, huyết ứ nghẽn tắc lạc mạch: Bệnh dạ dày lâu ngày, khí huyết làm tắc nghẽn dạ dày; Hoặc sau phẫu thuật mạch lạc bị tổn hại sinh ra ứ huyết, mạch lạc không được nuôi dưỡng; Hoặc tinh thần không thư sướng, can khí uất kết, khí trệ, huyết ứ có thể gây ra các cơn đau bụng, ợ hơi, đầy trướng. Đúng như {Lâm chứng chỉ nam y án Vị quản thống} nói: “Vị thống cửu nhi lũ phát, tất hữu ngưng đàm tụ ứ” (胃痛久而屡发,必有凝痰聚瘀.) Đau vùng thượng vị tái đi tái lại lâu ngày, ắt có đờm ngưng, huyết ứ”.
(6) Hư hỏa nội sinh, vị âm bất túc: Ăn nhiều dầu mỡ, cay ngọt, uống quá nhiều rượu, tích ẩm sinh nhiệt, lâu ngày không khỏi, ảnh hưởng tỳ vị; Hoặc gan khí uất trệ lâu ngày hóa thành hỏa, các nguyên nhân trên đều có thể ảnh hưởng dạ dày và ruột, làm tổn háo âm của dạ dày, khiến thượng vị đau rát, miệng họng khô khan, đại tiện khô.
Y học Cổ truyền nhận biết về viêm teo dạ dày mạn tính như thế nào?
Theo các biểu hiện lâm sàng của viêm teo dạ dày, bệnh này có thể được quy cho các loại phạm trù như “Bĩ mãn” (痞满) bế tắc và đầy , “Tào tạp” (嘈杂) cồn cào và “Vị quản thống” (胃脘痛) đau khoang dạ dày trong y học cổ truyền. Tuy nhiên, để tiêu chuẩn hóa căn bệnh này, hội nghị khoa học toàn quốc về bệnh lá lách và dạ dày lần thứ năm vào năm 1989 đã đưa bệnh viêm teo dạ dày vào phạm vi bệnh “Vị bĩ” (胃痞) Dạ dày bĩ tắc. Do đó, cách hiểu của y học Trung Quốc về “Vị bĩ” có thể phản ánh cách hiểu của y học cổ truyền về bệnh viêm teo dạ dày, và cả hai hỗ vi đối ứng với nhau.
Dạ dày bế tắc hay còn gọi là bĩ đầy, chỉ các triệu chứng đầy, trướng, nặng hơn sau khi ăn, hoặc đau đồng thời và các triệu chứng khác ở vùng bụng trên gần hố tâm, rất giống với biểu hiện lâm sàng của bệnh viêm teo dạ dày mạn tính. Chứng bĩ đầy, lần đầu tiên thấy trong {Nội kinh}, được gọi là bĩ, đầy, bế tắc, bĩ cách. Như trong {Tố vấn·Dị pháp phương nghi luận} nói: “Tạng hàn sinh mãn bệnh” (脏寒生满病); cuốn {Ngũ thường chánh đại luận} cũng viết: “Những năm thuộc thổ vận bình khí, … thường bị bệnh bĩ đầy?”, “Những năm thổ vận bất cập,… …bệnh bĩ mãn bế tắc”; {Chân chí yếu đại luận}nói: “Khi mặt trời trở lại, quyết khí thăng thiên…tâm vị sinh hàn, ngực và cơ hoành bất lợi, tâm thống bĩ mãn, {Thương hàn luận} của Trương Trọng Cảnh thì minh xác khái niệm “Mãn nhi bất thống giả, thử vi bĩ” (满而不痛者,此为痞) đầy mà không đau, là chứng bĩ”, và theo các tình huống khác nhau, thang Tả tâm được bào chế để điều trị chứng này, và đơn thuốc chính xác đã được các thế hệ y gia sau này coi là tiêu chuẩn mẫu mực. {Chư bệnh nguyên hậu luận}đề xuất “Bát bĩ” (八痞) 8 loại bĩ tắc và “Chư bĩ” (诸痞), và giải thích rằng nguyên nhân của chứng bĩ tắc không chỉ có một nguyên nhân, khái quát về cơ chế bệnh, thì không ngoài nguyên nhân doanh vệ bất hoà, âm dương ngăn cách, khí huyết tắc nghẽn, không lưu thông. Trong hai thời kỳ Đường và Tống, tuy không có những bước đột phá mới liên quan đến phương diện lý luận của chứng bĩ đầy, nhưng lâm sàng điều trị cũng đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm phong phú, như Binh lang tán trong {Thiên kim phương ·Tỳ tạng phương}, Chỉ xác tán trong {Bản sự phương}, Hoà vị hoàn trong {Cục phương},……,đều là phương dược điều trị chứng bĩ đầy hiệu quả. Thời đại Kim Nguyên, Lý Đông Viên luận về nhân tố gây bệnh ở tỳ vị, như ăn uống không tiết độ, làm việc quá sức, vui, giận, ưu tư, sợ hãi quá độ đều có liên quan đến bệnh này. {Lan thất bí tàng· Trung mãn phúc trướng luận} viết: “Tỳ thấp hữu dư, phúc mãn thực bất hoá” (脾湿有余,腹满食不化) Tạng tỳ nhiều thấp, không tiêu hoá được thực phẩm mà gây đầy bụng; “Phong hàn hữu dư chi tà, tự biểu truyền lý, hàn biến vi nhiệt, nhi tác vị gia phúc mãn” (风寒有余之邪,自表传里,寒变为热,而作胃家腹满) Phong hàn quá nhiều, từ ngoài xâm nhập vào cơ thể, hàn biến thành nhiệt mà làm cho người có bệnh ở vị gia (dạ dày, đại tràng, tiểu tràng) bị đầy bụng; “Diệc hữu cao lương chi nhân, vị thấp nhiệt tà vu nội nhi sinh trướng mãn giả” (亦有膏粱之人,胃湿热邪于内而生胀满者)Người ăn nhiều cao lương mỹ vị, có thấp nhiệt trong dạ dày mà sinh đầy trướng ; “Hoặc đa thực hàn lương, cập tỳ vị cửu hư chi nhân, vị trung hàn tắc sinh trướng mãn giả, hoặc tạng hàn sinh mãn bệnh” (或多食寒凉,及脾胃久虚之人,胃中寒则生胀满者,或脏寒生满病) Hoặc ăn nhiều thực phẩm mát lạnh và người tỳ vị hư yếu đã lâu, dạ dày lạnh nên sinh đầy trướng, hoặc tạng bị lạnh mà sinh bệnh đầy trướng. Tuy trên đây là thảo luận về chứng đầy bụng, nhưng cũng tương đồng với nguyên nhân của chứng bĩ đầy. Thời nhà Minh Vương Khải Đường viết {Chứng trị chuẩn thằng ·Bĩ} tiến hành phân biệt chứng bĩ và chứng trướng, cho rằng chứng trướng là ở trong bụng, là bệnh hữu hình; Bĩ ở dưới tim (tâm hạ), là bệnh vô hình. Mà Trương Giới Tân trong {Cảnh Nhạc toàn thư Bĩ mãn}viết: “Bĩ giả, bĩ tắc bất khai chi vị ……。 Sở dĩ bĩ mãn nhất chứng, đại hữu nghi biện, tắc tại hư thực nhị tự, phàm hữu tà hữu trệ nhi bĩ giả, thực bĩ dã; Vô tà vô trệ nhi bĩ giả, hư bĩ dã. ……Thực bĩ, thực mãn giả khả tán khả tiêu, hư bĩ, hư mãn giả, phi đại gia ôn bổ bất khả.” (痞者,痞塞不开之谓……。所以痞满一证,大有疑辨,则在虚实二字,凡有邪有滞而痞者,实痞也;无邪无滞而痞者,虚痞也。……实痞、实满者可散可消,虚痞、虚满者,非大加温补不可.) Bĩ gọi là bĩ tắc không thể tách rời….Vì thế chứng bĩ đầy, nếu có nghi ngờ là ở hai chữ hư và thực, phàm bĩ mà có bệnh tà có ngưng trệ chính là thực bĩ, không bệnh tà không ngưng trệ thì thuộc hư bĩ…….Chứng thực bĩ, thực mãn có thể dùng phép tán, phép tiêu, chứng hư bĩ hư mãn nếu không dùng ôn bổ mạnh thì không thể giải trừ. Biện chứng của bệnh chứng đầy trướng được trình bày khá rõ ràng. Các thầy thuốc thời nhà Thanh đã thu thập các bài giảng và kinh nghiệm của các tiên hiền trước đây và kết hợp với thực hành của chính họ để thực hiện một bản tóm tắt có hệ thống về biện chứng luận trị. Như Lý Dụng Tuý viết trong {Chứng trị hối phu ·Bĩ mãn} : “Bản bệnh đích trị liệu, sơ nghi thư uất hoá đàm giáng hoả, cửu chi cố khí tá dĩ tha dược; Hữu đàm trị đàm, hữu hoả thanh hoả, uất tắc kiêm hoá.” (本病的治疗,初宜舒郁化痰降火,久之固气佐以他药;有痰治痰,有火清火,郁则兼化.) Nguyên tắc điều trị bệnh này là lúc bệnh mới phát thì nên giải uất hoá đàm giáng hoả, bệnh đã lâu thì bổ khí kèm theo các thuốc khác; có đàm thì điều trị đàm, có hoả thì thanh hoả, uất thì kiêm hoá uất.
Từ những điều trên, chúng ta có thể thấy rằng bệnh viêm teo dạ dày mạn tính hay còn gọi là nuy súc vị viêm đã được đề cập rất chi tiết trong y văn qua các thời kỳ, có nhiều ghi chép phong phú về nhiều mặt như nguyên nhân và cơ chế của bệnh, biểu hiện triệu chứng, phân biệt và các phương pháp điều trị. Đến nay vẫn có hiệu quả chỉ đạo trên lâm sàng.
Y học cổ truyền làm thế nào để nhận thức và điều trị viêm teo dạ dày mạn tính với chuyển sản và loạn sản ruột?
Viêm teo dạ dày mạn tính có liên quan chặt chẽ với chuyển sản đường ruột, loạn sản và ung thư dạ dày, vì vậy nó còn được gọi là tổn thương tiền ung thư của dạ dày, điều này cũng cung cấp manh mối và cơ sở cho sự hiểu biết, điều trị và phòng ngừa căn bệnh này trong y học cổ truyền. Căn cứ căn bệnh này với đặc điểm lâu ngày không lành, cũng như nhân tố gây bệnh cùng biểu hiện lâm sàng, đặc biệt là dạ dày niêm mạc đường ruột chuyển sản và dị sản biến đổi hình thái vi thể, y học cổ truyền cho rằng căn bệnh này phần lớn là trên cơ sở chính khí hư nhược và tỳ vị khí âm hư, bệnh do ứ độc, hoặc độc thối rữa thành lở loét, hoặc ứ kết thành tích tụ, hoặc khí trệ ẩm thấp sinh đờm, nếu bỏ sót hoặc trị sai phương pháp, bệnh sẽ kéo dài hoặc trầm trọng hơn, cuối cùng có thể hình thành khối u ác tính.
Y học cổ truyền điều trị viêm teo dạ dày mạn tính với chuyển sản ruột, loạn sản tế bào, mục đích là chủ động phòng ngừa ung thư hoặc đảo ngược quá trình ung thư, điều trị phải dựa trên cơ sở biện chứng luận trị, kết hợp với hình ảnh niêm mạc dạ dày, sử dụng thích hợp các vị thuốc cổ truyền có tác dụng thoạt huyết hoá ứ, giải độc tán kết , và tăng axit để chống ung thư. Có rất nhiều nghiên cứu và báo cáo lâm sàng về biện chứng luận trị liên quan đến bệnh này. Tóm lại, với bệnh này có thể căn cứ vào một số hội chứng để tiến hành điều trị như tỳ vị hư nhược, vị âm bất túc, can vị bất hòa, thấp nhiệt trung trở, nhiệt độc kết tụ, ứ huyết trở vị, đàm ngưng huyết ứ… Mà trên cơ sở biện chứng, kết hợp với hình ảnh niêm mạc dạ dày, không chỉ có thể hiểu sâu hơn về bản chất của bệnh mà còn có thể bù đắp những thiếu sót của biện chứng truyền thống, có lợi cho việc nâng cao hiệu quả chữa bệnh, nếu niêm mạc dạ dày phù nề có thể gia thêm các vị thuốc thanh nhiệt giải độc như Bồ công anh, Bại tương thảo, Hồng đằng, Bạch hoa xà thiệt thảo, Địa đinh thảo; Đối với đường ruột chuyển sản do thấp độc có thể thêm các loại thanh nhiệt hoá thấp giải độc như Ý rĩ, Bạch hoa xà thiệt thảo, Thổ phục linh, Bán chi liên, Bát nguyệt trát, Giảo cổ lam và các vị thuốc khác có tác dụng thanh nhiệt trừ thấp, đối với những vị thuốc loạn sản tế bào chủ yếu là biểu hiện tắc nghẽn đờm huyết ứ có thể dùng Cửu hương trùng, Địa miết trùng, Đan sâm, Thược dược, Nhũ hương, Tam lăng Nga truật, … là những dược phẩm có tác dụng thông huyết, khử huyết ứ, nhuyễn kiên tán kết, giải ứ trệ. Đối với cái gọi là y học cổ truyền chống ung thư, trước hết cần phải làm quen với dược tính, công hiệu, tứ khí và ngũ vị, cố gắng cơ bản phù hợp với tư duy biện chứng và tích hợp nó vào đơn thuốc theo biện chứng, mục đích là để phòng và chống ung thư mà không làm tổn thương cơ thể và vị khí. Các loại thuốc có tác dụng chữa bệnh và chống ung thư bao gồm Thạch kiến xuyên, Bán chi liên, Độc dương tuyền, Bạch hoa xà thiệt thảo, Long quỳ, Hoàng dược tử, Hải tảo, Côn bố, Uy linh tiên, Bán biên liên, Thạch đả xuyên, Tam lăng, Nga truật, Toàn qua lâu, Rĩ nhân, Tử thảo, Bát nguyệt trát, Hổ trượng, Hoàng kỳ, Phục linh, Ô mai, Thiên đông, Sơn du nhục, Thiên hoa phấn, Nữ trinh tử…
Viêm teo dạ dày mạn tính kèm theo chuyển sản ruột và loạn sản tế bào (tổn thương tiền ung thư dạ dày) được điều trị bằng các loại thuốc nêu trên, và từ góc biện hội chứng nếu cần bổ khí, kiện tỳ, nên tuyển dụng Hoàng kỳ, Ý rĩ, Phục linh… Nếu cần giải độc có thể chọn Tảo hưu, Bán chi liên, Long quỳ, Tử thảo; Cần hoạt huyết hoá ứ dùng Thạch đả xuyên, Thạch kiến xuyên; Cần dùng các vị thuốc chua ngọt để thu liễm tân dịch có thể phối với Ô mai, Sơn du nhục, Thiên đông, Thiên hoa phấn, Nữ trinh tử…Sẽ đóng vai trò điều trị tích cực trong việc ức chế các tổn thương tiền ung thư dạ dày và ngăn ngừa viêm teo dạ dày mạn tính kèm theo chuyển sản ruột và loạn sản tế bào
Làm thế nào để cùng tiến hành biện chứng vi thể viêm teo dạ dày mạn tính theo niêm mạc dạ dày?
Trong những năm gần đây, với việc áp dụng rộng rãi công nghệ nội soi dạ dày trong thực hành lâm sàng và sự hiểu biết sâu sắc không ngừng về niêm mạc dạ dày, niêm mạc dạ dày đang dần được đưa vào hội chứng phân biệt và điều trị các bệnh đường tiêu hóa trong y học cổ truyền Trung Quốc. Với niêm mạc dạ dày đề cập đến các dấu hiệu khách quan của tổn thương niêm mạc dạ dày thu được bằng nội soi dạ dày và sinh thiết dưới sự hướng dẫn của lý luận y học hiện đại, so với thông tin thu được từ bốn phương pháp chẩn đoán của y học cổ truyền Trung Quốc, nó có đặc điểm vi mô và định lượng. Do đó, việc kết hợp sự hiểu biết vi mô về những thay đổi bệnh lý niêm mạc dạ dày với các biểu hiện đại thể trên lâm sàng không chỉ có lợi cho việc nhận thức bản chất của các loại hội chứng viêm teo dạ dày mạn tính mà còn có thể bù đắp sự thiếu hụt về biện chứng vĩ mô, từ đó cải thiện hiệu quả trị liệu của viêm teo dạ dày mạn tính.Viêm teo dạ dày mạn tính có thể được chia thành năm loại sau đây theo những thay đổi bệnh lý của niêm mạc dưới nội soi dạ dày:
(1) Loại hình can vị bất hòa: Niêm mạc dạ dày teo rõ rệt, đỏ và trắng liền nhau, đỏ tuyến tính hoặc hoặc cải biến , thường sung huyết từng mảng, xung huyết tuyến tính thường có thể thấy ở các nếp gấp và chỗ nâng lên, dịch mật trào ngược, nhu động dạ dày nhanh.
(2) Lọai hình vị âm bất túc: Niêm mạc dạ dày phần lớn có màu xám đen, sâu nông không giống nhau, phạm vi teo có thể lan tỏa hoặc khu trú, các nếp gấp nhỏ dần hoặc biến mất, lượng nội tiết dạ dày ít hơn, xuất hiện vết nứt dạng cải biến. Bề mặt niêm mạc không bằng phẳng, có thể nhìn xuyên qua mạng lưới mạch máu nhỏ niêm mạc.
(3) Loại hình tỳ vị hư hàn: Niêm mạc dạ dày đỏ trắng cách nhau, chủ yếu là màu trắng, có thể nhìn thấy mạch máu dạng sợi, nhưng cũng có một bộ phận tương đương (bằng nhau) niêm mạc dạ dày có màu trắng đỏ, chủ yếu là đỏ, hoặc biến đổi lốm đốm , đó là những đốm đỏ nhỏ đồng đều rải rác và phù nề niêm mạc, biểu hiện rõ ở bờ cong nhỏ của dạ dày.
(4) Loại hình tỳ vị thấp nhiệt: Niêm mạc dạ dày có hiện tượng tấy đỏ, sưng tấy, viêm tróc vảy, có điểm nhầy, xuất hiện cục bộ hoặc diện rộng, phía trên có thể có sẩn nhỏ, rốn lõm.
(5) Loại hình vị lạc ứ trệ (Lạc mạch trong dạ dày bị ứ trệ): Niêm mạc dạ dày có màu trắng đỏ, nhìn xuyên qua có thể nhìn thấy các mạch máu giống như sợi nhánh, màu đỏ sẫm, niêm mạc tăng sản dạng hạt hoặc dạng nốt sần. Sinh thiết bệnh lý thường cho thấy chuyển sản và loạn sản ruột.
Các phương pháp điều trị bên ngoài cho viêm teo dạ dày mạn tính là gì?
(1) Liệu pháp châm cứu
Phương pháp điều trị: Kiện tỳ hoà vị, sơ can lý khí.
Chủ yếu dùng huyệt ở mạch nhâm và hai kinh thủ và túc dương minh. Dùng phép châm bình bổ bình tả, có thể gia thêm phép cứu.
Tuyển huyệt: Trung quản, Túc tam lý, Hợp cốc. Lương khâu.
Phối huyệt: Lợm giọng gia Nội quan, Chiên trung; Dạ dày nóng rát gia Thái khê; Đau cạnh sườn gia Dương lăng tuyền, Thích cốt; Đại tiện bí kết gia Đại tràng du.
(2) Nhĩ châm
Tuyển huyệt: Tỳ, vị, Giáo cảm, Thần môn, Bì chất hạ.
Phương pháp: Mỗi lần chọn 2 đến 3 huyệt, kích thích trung bình, lưu kim 20 phút.
(3) Tiêm huyệt (huyệt vị chú xạ)
Các điểm được chọn: Tỳ du, Vị du, Tương ứng Giáp bối, Trung quản, Nội quan, Túc tam lý.
Phương pháp : Dùng dịch tiêm Hồng hoa, dịch tiêm Đương quy. Atropin 0,5mg, hoặc procain 1% vào các huyệt trên, mỗi lần 1~3 huyệt, mỗi huyệt 1~2ml.
(4) Các liệu pháp khác
1/ Ngũ linh chi 31g, Bồ hoàng 31g, Xạ hương một ít. Cách dùng: Nghiền nhỏ hai vị thuốc trên thành bột mịn và bảo quản trong chai để dùng dần. Trước khi dùng, đem Xạ hương nghiền thành bột mịn, nhét vào lỗ rốn, sau đó lấy bột thuốc đắp vào lỗ rốn, dùng băng dính băng lại. Thay băng 2 ngày một lần. Chủ trị: viêm teo dạ dày ứ huyết đình trệ.
2/ Ngưu tất 15g, Hồi hương căn 15g, Ngải diệp 18g, gừng 15g, muối vừa đủ. Cách dùng: Tán thành bột mịn, cho vào nồi đun nóng, bọc trong vải và chườm lên vùng thượng vị, dùng băng cố định. Thay đổi một lần một ngày. Chủ trị: Viêm teo dạ dày ứ huyết đình trệ.
3/ Can khương (Gừng khô) 15g, Tất bát 15g, Cam tùng 10g, Sơn tất 10g, Tế tân 10g, Nhục quế 10g, Ngô thù du 10g, Bạch chỉ 10g, Đại hồi hương 9g, Ngải diệp 31g. Cách dùng: Tổng cộng tán thành bột mịn. Làm túi vải hình vuông cạnh 20 cm, lót một lớp bông bên trong, rắc đều thuốc, bên ngoài thêm một miếng màng ni lông rồi dùng chỉ khâu lại để tránh bột thuốc đọng hoặc lọt ra ngoài, để túi thuốc ở trên khoang dạ dày cả ngày và đêm. Thay băng mỗi tháng một lần. Chủ trị: viêm teo dạ dày do tỳ vị hư hàn.
4/ Mộc hương, Ô dược, Hương phụ, Cao lương khương lượng thích hợp. Cách dùng: Các vị thuốc trên tán thành bột mịn, trộn với nước thành sền sệt, lần lượt bôi lên vùng thượng vị và rốn, dùng gạc băng lại, dùng băng dính cố định. Thay băng mỗi ngày một lần. Chủ trị: Viêm teo dạ dày do gan khí xâm phạm vào dạ dày (can khí phạm vị).
5/ Huyền minh phấn 6g, Uất kim 12g, sơn chi 9g, Hương phụ 10g, Đại hoàng 6g, Hoàng cầm 9g. Cách dùng: Các vị cùng nhau nghiền thành bột mịn, trộn với nước thành hỗn hợp sền sệt, đắp ngoài vị quản, dùng gạc băng lại, dùng băng dính cố định. Ngày thay băng 1 lần, một liệu trình 10 lần. Chủ trị: Viêm teo dạ dày do nhiệt tích tụ trong dạ dày.
6/ Tế tân 9g, nhân sâm 9g. Cách dùng: Tổng cộng tán thành bột mịn. Lấy một lượng bột thích hợp, trộn với nước ấm thành hỗn hợp sền sệt, đắp lên rốn rồi băng lại để cố định. Mỗi tháng thay băng 1 lần, 10 lần là một liệu trình. Chủ trị: viêm teo dạ dày do tỳ vị hư hàn.
Biện chứng luận trị viêm teo dạ dày mạn tính thể hiện chủ yếu trên phương diện nào?
Biện chứng luận trị viêm teo dạ dày mạn tính thể hiện chủ yếu ở bốn điểm sau:
(1) Về điều trị dạ dày thiếu axit: Axit dạ dày không thay đổi đáng kể trong viêm dạ dày bề mặt, khi tổn thương phát triển, teo niêm mạc, chuyển sản tuyến ruột hoặc tổn thương viêm có thể làm giảm chức năng tiết axit, thiếu hụt axit dạ dày hoặc biến mất , hoặc thậm chí xảy ra ung thư. Loại hình của thể hư hàn thấp hơn thể hàn thấp, còn thể vị âm hư thấp hơn đáng kể so với thể hư hàn, do đó điều tiết và cải thiện công năng tiết acid, thúc đẩy bình thường hóa mức axit dạ dày là những nguyên tắc cơ bản hàng đầu để điều trị viêm teo dạ dày mạn tính.
Điều trị thiếu hụt axit trong y học cổ truyền, có thể sử dụng các phương pháp ôn bổ và thanh bổ . Phương pháp ôn bổ chủ yếu áp dụng phương pháp bổ tỳ ích khí, còn phương pháp thanh bổ khí có thể dùng vị thuốc toan cam (chua ngọt) để chuyển hóa âm (cam toan hoá âm), và phương pháp cam hàn (ngọt lạnh) để sinh tân dịch. Cam toan hoá âm chủ yếu dùng thang Thược dược Cam thảo, có tác dụng phục hồi niêm mạch dạ dày; Cam hàn sinh tân dịch chủ yếu dùng thang Ích vị, Sa sâm, Mạch đông, Cẩu kỷ tử, Ngọc trúc, Thạch hộc, Sinh địa, Sơn tra, Hoàng liên, Phật thủ, Cam thảo khiến vị toan tăng lên (tăng axit dạ dày). Một số người cho rằng thuốc giải độc, trừ lở loét và giảm đau có thể cải thiện bài tiết axit dạ dày, tăng cường chức năng che chở niêm mạc dạ dày và có tác dụng khôi phục cấu trúc mô bình thường của nó.
(2) Về điều trị trào ngược dịch mật: Rối loạn chức năng cơ thắt môn vị, trào ngược dịch mật, sinh ra H+ Phản nghịch tán, phá hủy hàng rào niêm mạc dạ dày, là nhân tố gây bệnh quan trọng của bệnh viêm dạ dày mạn tính, nội soi cũng đã xác định viêm teo dạ dày mạn tính tồn tại trào ngược dịch mật trong quá trình bệnh biến. Do đó, không nên bỏ qua trào ngược dịch mật trong điều trị viêm teo dạ dày mạn tính. Đối với trào ngược mật, y học cổ truyền cho rằng là do gan mất điều đạt (thoải mái), vị không hoà giáng, mật theo khí nghịch gây ra, điều trị nên sơ lợi thông giáng, trên lâm sàng thường dùng các phương thang như Bán hạ tả tâm, thang Toàn phú đại giả, Gia vị Tứ nghịch tán, cũng trên cơ sở biện chứng và căn cứ theo tính chất bệnh mà các thang thuốc có thể dùng thêm các vị thuốc điều chỉnh khí cơ, hoà vị giáng nghịch như Mộc hương, Chỉ xác, Trần bì, Toàn phú hoa, Đại giả thạch…
(3) Liên quan đến điều trị nhiễm HP (Helicobacter pylori): Nhiều bằng chứng đã khẳng định nhiễm HP là yếu tố gây bệnh chủ yếu của viêm dạ dày mạn tính và có liên quan chặt chẽ đến hoạt động của viêm dạ dày. Trong đó tỷ lệ phát hiện HP trong viêm dạ dày teo mạn tính là 67%, vì vậy việc kiểm soát nhiễm HP có ý nghĩa rất lớn để cải thiện tình trạng viêm dạ dày teo mạn tính và thúc đẩy quá trình hồi phục.
Các thí nghiệm trong ống nghiệm đã chứng minh rằng các vị thuốc như Hoàng liên, Đại hoàng, Ô mai, Đan sâm, Tam thất có tác dụng ức chế HP khá mạnh, có thể được lựa chọn và áp dụng trên lâm sàng. Ngoài ra, người ta nhận thấy tỷ lệ nhiễm HP dương tính có tương quan rõ rệt với mức độ và loại hình hội chứng trên lâm sàng. Tỷ lệ phát hiện HP, tỳ vị thấp nhiệt > can vị bất hòa > tỳ vị hư hàn > vị âm bất túc, kính hiển vi điện tử bệnh lý cho thấy HP xâm lấn niêm mạc dạ dày càng nhiều, thì tính lưu biến của huyết dịch và cải biến tuần hoàn của các nếp gấp càng nặng hơn. Viêm teo dạ dày mạn tính đều có thấp nhiệt và huyết ứ, vì vậy các phương pháp như thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết hoá ứ có thể phát huy tác dụng diệt khuẩn để khôi phục chức năng bình thường của các mô bị tổn thương. Ngoài ra, phương pháp bồi bổ cơ thể và loại bỏ các yếu tố gây bệnh (phù chính khứ tà) cũng có thể phát huy tác dụng ức chế và tiêu diệt HP thông qua việc điều chỉnh trạng thái chức năng của toàn cơ thể.
(4) Liên quan với việc điều trị biến đổi bệnh lý của niêm mạc dạ dày: Niêm mạc dạ dày có thể phản ánh tính chất tổn thương cục bộ trong bệnh viêm teo dạ dày mạn tính, do đó hướng dẫn dùng thuốc theo biến đổi bệnh lý của niêm mạc dạ dày dưới nội soi thường có thể nâng cao hiệu quả chữa bệnh.
Giai đoạn niêm mạc bình thường có màu đỏ của quả quất, ẩm ướt và sáng bóng, nhu động của thành dạ dày bình thường, các nếp gấp sắp xếp đều đặn, bề mặt nhẵn. Nếu niêm mạc dạ dày có các thương tổn viêm nhiễm đang hoạt động như sung huyết, phù nề, thâm nhiễm, chảy máu, ăn mòn các loại, chủ yếu là chứng nhiệt, thường có thể gia thêm các vị thuốc thanh nhiệt giải độc, mát máu cầm máu như Kim ngân hoa, Liên kiều, Bạch hoa xà thiệt thảo, Dã cúc hoa, Hổ trượng, Bán chi liên, Đan bì, Xích thược, Nhũ hương, Một dược; Nếu niêm mạc dạ dày tái nhợt , chủ yếu là do hư hàn , thêm các vị thuốc bổ khí như Hoàng kỳ , Đảng sâm, Đan sâm.
Đối với những người có niêm mạc màu sắc ảm đạm và các mạch máu dưới niêm mạc lộ ra, bạn có thể thêm các vị thuốc hoạt huyết hoá ứ như Đan sâm, Đào nhân, Hồng hoa; Đối với những người có niêm mạc sung huyết hoặc xuất huyết, có thể gia thêm các vị thuốc mát máu, cầm máu như Bạch cập, bột Tam thất hoặc Vân nam bạch dược; Nếu niêm mạc dạ dày tiết ít chất nhầy hơn, có sự thay đổi giống như vết nứt, phần lớn là do âm dịch bị hư tổn, có thể gia thêm các dược phẩm dưỡng âm sinh tân dịch như Sa sâm, Mạch đông, Ngọc trúc, Thiên hoa phấn, Ô mai, Bạch thược; Dưới nội soi dạ dày, bề mặt niêm mạc có hiện tượng phồng lên dạng hạt hoặc nốt sần, tức là “Quá hình thành” (过形成), sinh thiết bệnh lý cho thấy phần lớn chúng đều có biểu hiện chuyển sản ruột hoặc tăng sản không điển hình. Theo y học cổ truyền phần lớn là do ứ nhiệt tương giao gây trở ngại hoặc đờm nhiệt hỗ kết gây nên. Trong số đó, đối với những người bị dị sản đường ruột (tràng thượng bì hoá sinh), thường dựa trên cơ sở biện chứng gia thêm các dược phẩm thanh nhiệt, hoá thấp, giải độc như Giảo cổ lam, Bát nguyệt trát, Ý rĩ sống; Đối với chứng tăng sản không điển hình, nên gia thêm các dược phẩm hoạt huyết hoá ứ, nhuyễn kiên tán kết như Đan sâm, Tam thất, Tam lăng, Nga truật
Y học cổ truyền trong điều trị viêm teo dạ dày mạn tính hiện nay đã có những tiến bộ gì?
Cho đến nay, y học cổ truyền về cơ bản có bốn loại phương pháp điều trị căn bệnh này: Điều trị cơ bản dựa trên biện chứng luận trị, điều trị bằng chuyên phương đặc biệt cho biện chứng phân loại hình, điều trị bằng đơn thuốc cố định và điều trị bằng kết hợp đông y và tây y.
(1) Phân loại và điều trị hội chứng: Theo lý luận của y học cổ truyền, bệnh được chia thành nhiều loại hội chứng lâm sàng trong bốn bệnh lâm sàng, và mỗi loại hình được điều trị gia giảm tuỳ theo các hội chứng mà tiến hành trị liệu.
Cao Bình chữa 54 ca viêm teo dạ dày bằng biện chứng đông y và phân loại, chia làm 5 thể: Trung hư khí trệ, Can vị bất hòa, Vị âm bất túc, can vi uất nhiệt và Khí trệ huyết ứ, phân biệt dùng thang Hoàng kỳ kiến trung gia giảm để kiến trung lý khí; Sài hồ sơ can tán gia giảm để sơ can hoà vị; Thang Sa sâm mạch đông gia giảm để dưỡng âm hoà vị; Hoá can tiễn hợp Tả kim hoàn để thanh trung trừ nhiệt; Thang Đào hồng tứ vật hợp Thất tiếu tán để lý khí hoá ứ. Kết quả trị liệu hiệu quả rõ rệt là 23 trường hợp (42.6%), tổng hữu hiệu suất là 79.6%
Trong số những bệnh nhân có hiệu quả rõ rệt, một số thay đổi bệnh lý của viêm teo dạ dày đã chuyển thành viêm dạ dày bề mặt, và trong một số trường hợp, niêm mạc dạ dày trở lại bình thường và chuyển sản ruột cũng có thể biến mất. Trần Trạch Dân trị 60 ca viêm teo dạ dày, tỳ vị hư yếu dùng thang Hương sa lục quân tử phối hợp với thang Hoàng Kỳ Kiến Trung để vận tỳ hoà vị; Can vị âm hư dùng thang Sa sâm mạch đông để ích vị dưỡng âm; Can vị bất hoà thì phỏng theo Diệp Thiên Sĩ điều trị “Can quyết vị thống” phương sơ can hoà vị; Tỳ vị thấp nhiệt dùng Hoắc phác Hạ linh thang hợp thang Bán hạ tả tâm gia giảm để tiết nhiệt hoá thấp, hoà vị tiêu bĩ; Đàm nhiệt trở ngại trung tiêu dùng thang Đạo đàm hợp thang Tam tử dưỡng thân ôn hoá đàm trọc. Sau khi điều trị có 48 ca hiệu quả rõ rệt, có hiệu quả 11 ca, tổng hữu hiệu suất là 98.3%
Hứa Tự Thành điều trị 88 ca viêm teo dạ dày, dùng thang Hoàng kỳ kiến trung hợp Lương phụ hoàn gia giảm thang điều trị tỳ vị hư hàn; Sài hồ sơ can tán trị can vị bất hoà; Thang Sa sâm mạch đông gia giảm trị vị âm bất túc; Thang Tam nhân hợ thang Hoắc phác hạ linh gia giảm trị tỳ vị thấp nhiệt. Tổng hữu hiệu lâm sàng 97.7%, tổn hữu hiệu nội soi là 47.1%, tổng hữu hiệu bệnh lý là 61.1%. Ngoài ra, Triệu Vinh Lai cho rằng viêm teo dạ dày mạn tính có thể được chia thành hai loại đơn giản: Tỳ vị khí (dương) hư và tỳ vị âm hư để biện chứng luận trị. Lý Càn Cấu đã tóm tắt bệnh viêm teo dạ dày mạn tính như sau: ①Tỳ vị (khí) hư nhược, hội chứng khí trệ huyết ứ; ② Can vị bất hòa, hội chứng uất hoả táo nhiệt; ③ Vị âm bất túc, hội chứng khí hư huyết trệ; ④Trung hư thấp trở, hội chứng hàn nhiệt đan xen.
Dương Thanh Ba đã chia viêm dạ dày teo mạn tính thành thực chứng và hư chứng, thực chứng bao gồm khí trệ, huyết ứ, thấp trở và uất nhiệt. Hư chứng bao gồm khí hư, âm hư, tỳ hư, thận hư. Sau khi biện chứng điều trị, tỷ lệ khỏi lâm sàng là 60,22%, hữu hiệu suất là 97,85%. …Có nhiều báo cáo về điều trị viêm dạ dày teo mạn tính tương tự như biện chứng phân loại hình nêu trên.Thu thập tất cả các tài liệu và tổng kết một cách toàn diện, hội chứng biệt hóa và viêm teo dạ dày mạn tính thường gặp có thể được chia thành các loại sau :
Loại hình Tỳ vị hư nhược (khí hư, hư hàn): Trị pháp Kiện tỳ ích khí, ôn trung tán hàn. Thường dùng thang Hoàng kỳ kiến trung, thang Hương sa lục quân, Lương phụ hoàn.
Loại hình can vị bất hoà: Trị pháp Sơ can lý khí, hoà vị chỉ thống, thường dùng Sài hồ sơ can tán, Tứ nghịch tán.
Loại hình vị âm bất túc: Trị pháp:Dưỡng âm hoà vị, Thường dùng thang Sa sâm mạch đông, thang Ích vị
Lọi hình tỳ vị thấp nhiệt: Trị pháp: Thanh nhiệt lợi thấp, kiện tỳ hoà vị. Thường dùng thang Hoắc phác hạ linh, thang Tam nhân.
Các loại chứng hình đều gia thêm các dược phẩm hoạt huyết hoá ứ, thường dùng như Đan sâm, Hồng hoa, Huyền hồ.
(2) Biện chứng phân loại hình dùng chuyên phương điều trị: Tiến hành biện chứng đối với bệnh nhân, đối với mỗi loại hình hội chứng, sử dụng một phương thang cố định để tiến hành điều trị. Viện y học Từ châu phụ thuộc y viện dùng Vị an hoàn điều trị 110 ca viêm teo dạ dày, với hội chứng can vị khí trệ dùng Vị an hiệu số I (Kim linh tử, Huyền hồ, Sơn tra, Phật thủ, Sa nhân, Hoàng liên) để điều trị; Với hội chứng vị âm bất túc thì dùng Vị an hiệu số II (Bạch thược, Cam thảo, Thạch hộc, Bắc sa sâm, Hoàng tinh, Sơn tra, Chỉ xác, Hoàng liên) để điều trị. Phan Tú Trân dùng Vị viêm hợp tễ điều trị 188 ca viêm teo dạ dày, đối với những bệnh nhân khí hư thấp trở nhiệt uất, dùng Vị viêm hiệu số I (Đảng sâm, Hoàng kỳ, Phục linh, Cốc nha, Đương quy, Bạch truật, Sa nhân, chích Cam thảo, Thần khúc, Phật thủ, Chỉ xác, Bổ cốt chỉ, Hoàng liên, Đại táo); Với âm hư nhiệt uất, khí trệ huyết ứ, dùng Vị viêm hiệu số II (Đảng sâm, Tang thầm, Sơn dược, Ngọc trúc, Hoàng kỳ, Mạch đông, Sơn tra, Kê nội kim, Phật thủ, Tử thảo, Hoàng liên, Ngũ vị tử, chích Cam thảo, Hoàng tinh). Kết quả hi ệu quả rõ rệt 84 ca, tiến bộ 95 ca, vô hiệu 9 ca, tổng hữu hiệu suất 95.2%. Các phương thang nêu trên đối với tuyến thể bị teo đều có hiệu quả nghịch chuyển nhất định.
(3) Điều trị bằng phương dược cố định
Tức là dùng một phương dược cố định để điều trị bệnh này, mà không tiến hành biện chứng phân loại hình. Thí dụ như dùng trà Kiện vị của Cao Thọ Tuấn (Từ trường khanh, Mạch đông, Cam thảo sống, Quất hồng, Mai khôi hoa, Bạch thược, loại hình hư hàn gia Hồng trà mạt, loại hình hư nhiệt gia Lục trà mạt), Vị lạc ích hợp tễ của Trần trạch Dân (Kim cương đằng, Bạch hoa xà thiệt thảo, Bích hổ, Cương tàm), Vị viêm xung tễ của Trần Trạch Lâm (Bạch hoa xà thiệt thảo, Bồ công anh, Tô cánh, Bạch thược, Cam thảo, Hương phụ), cao Vị viêm lưu tẩm của Diêu Kỳ Uý (Sa sâm, Tang ký sinh, Ngọc trúc, Bạch thược, Huyền sâm, Sơn dược, Sơn tra, Thanh đại, Đan sâm, Hoàng kỳ, Trần bì), Vị bảo của Cao Thọ Chinh (Trân châu phấn, Trạch tả, Thanh đại, Bạch cập, Cam thảo sống, Ô mai, Tam thất diện, Đại hoàng phấn, Hổ phách), Dướng vị xung tế của Lý Thế Tuấn (Hoàng kỳ, Đảng sâm, Bạch thược, Cam thảo sống, Sơn dược, Trần bì, Hương phụ sống, Ô mai, Đường) Các phương nêu trên cơ bản là phương pháp Ích khí dưỡng âm, lý khí hoà vị, nhưng thường phối với thanh nhiệt giải độc dược, tần suất hữu hiệu phân biệt đạt đến 84%~97%. Ngoài ra còn có Uỷ vị phiến, Vị phục khang, Phục vị thang, Địa đinh tán và đơn vị Cẩu kỷ tử điều trị viêm teo dạ dày mạn tính, đều thu được hiệu quả trị liệu khá tốt.
(4) Điều trị kết hợp đông tây y: Trần Thái Định và cộng sự báo cáo Đông tây y kết hợp điều trị 140 ca viêm teo dạ dày, đông y phân thành 4 loại hình theo biện chứng luận trị gồm Tỳ vị hư hàn, Tỳ vị hư nhược, Vị âm bất túc và Can vị bất hoà, đồng thời tiêm bắp Vị viêm hiệu số I (Bạch hoa xà thiệt thảo, Bán chi liên, Ngư tinh thảo, Bại tương thảo chế thành thuốc tiêm), Tây dược dùng sinh tố B1, B2, C, dịch mật phản lưu gia Vị phục an. Hiệu quả trị liệu với chứng trạng lâm sàng, nội soi bệnh lý phán định, tổng tần suất hữu hiệu là 87.4%. Từ Bình và cộng sự dùng Sa nhân, Phật thủ và sinh tố C chế thành Vị an hiệu số I, điều trị 114 ca viêm teo dạ dày, tổng hữu hiệu suất là 72.2%, qua nội soi, kiểm tra bệnh lý tần suất hiệu quả rõ rệt là 29.8%. Quách Quế Cầm dùng thang Ích khí dưỡng vị phối hợp uống với sinh tố C, Pepsin (Men vị đản bạch), điều trị 42 ca viêm teo dạ dày mạn tính, tổng hiệu quả 80,95%, v.v. Những điều trên cho thấy việc điều trị viêm teo dạ dày mạn tính bằng đông y và tây y kết hợp có tác dụng chữa bệnh tốt.
Viêm teo dạ dày mạn tính là gì?
Viêm teo dạ dày mạn tính chủ yếu phát triển từ viêm dạ dày bề mặt, Năm 1973, Stricklandt và cộng sự đã chia viêm teo dạ dày thành loại A (viêm dạ dày thể vị) và loại B (viêm dạ dày hang vị).
Viêm teo dạ dày loại A là một bệnh tự thân miễn dịch. Kháng nguyên là thành phần tế bào thành của tuyến đáy dạ dày, trong máu bệnh nhân có thể phát hiện kháng thể kháng tế bào thành, tự kháng thể không ngừng phá hủy tế bào thành, khiến niêm mạc dạ dày viêm tấy, teo dần, tổn thương chủ yếu ở niêm mạc dạ dày. thân vị có nhiều tế bào thành. Do tế bào thành bị hủy hoại, giảm sản xuất yếu tố nội tại nên bệnh nhân thường kèm theo thiếu máu ác tính, thể viêm dạ dày này ít gặp ở nước ta.
Viêm teo dạ dày loại B là do niêm mạc dạ dày bị tổn thương lâu dài bởi các chất kích thích khác nhau, một số loại thuốc (như axit salicylic), hút thuốc quá nhiều, nghiện rượu, ăn uống quá nóng, v.v., đặc biệt là dịch tá tràng chứa mật và dịch tụy trở lại dạ dày. là nguyên nhân chính gây viêm teo dạ dày týp B nên tổn thương của viêm teo dạ dày loại hình B chủ yếu ở hang vị và hầu hết viêm dạ dày teo mạn tính ở nước ta đều thuộc loại hình này.
Điều đáng chú ý là trong những năm gần đây, Helicobacter pylori đã thu hút sự chú ý như là nguyên nhân gây viêm dạ dày mạn tính và được cho là có liên quan đến sự tiến triển của viêm teo dạ dày.
Các biểu hiện chính của viêm teo dạ dày mạn tính dưới nội soi dạ dày là:
(1) Màu đỏ cam của niêm mạc bình thường bị mất đi, thay vào đó là màu nhợt nhạt, không đồng đều;
(2) Niêm mạc có màu trắng đỏ rõ ràng, có diện tích lớn nhợt nhạt;
(3) Các nếp gấp niêm mạc nhỏ, thậm chí phẳng, tăng phản xạ ánh sáng và lộ ra các mạch máu dưới niêm mạc;
(4) Đôi khi có thể nhìn thấy các hạt hoặc nốt sần không đều rải rác, đó là những thay đổi tăng sinh;
(5) Khác với xói mòn bề mặt hoặc xuất huyết.
Các biểu hiện trên thường phân bố khu trú, niêm mạc xung quanh thường có những biến đổi của viêm dạ dày nông.
Viêm teo dạ dày mạn tính có tỷ lệ mắc bệnh khá cao, khoảng 8% trường hợp viêm teo dạ dày mạn tính có thể phát triển thành ung thư dạ dày trong hơn 10 năm, cao gấp 20 lần so với người không bị viêm dạ dày. Vì vậy, bệnh nhân cao tuổi bị viêm teo dạ dày mạn tính trong thời gian dài nên được tái khám thường xuyên và mật thiết chú ý đến sự phát triển của nó.
Vì sao viêm teo dạ dày mạn tính lại xuất hiện tiêu chảy?
Lớp niêm mạc của viêm dạ dày teo mạn tính bị viêm và xơ hóa, các tuyến bị phá hủy rộng rãi, hơn một nửa số tuyến bị mất, xảy ra chuyển sản biểu mô ruột hoặc chuyển sản tuyến giả môn vị, khiến lớp niêm mạc trở nên mỏng hơn, lớp cơ niêm mạc dày lên và phát triển thêm khi niêm mạc dạ dày bị teo, sự thâm nhiễm viêm trong niêm mạc hầu như biến mất, các tuyến cố hữu (sẵn có) của dạ dày co lại rõ ràng, thậm chí biến mất, thay vào đó là mô xơ đã được sửa chữa và các thành phần kẽ còn lại khác. Do sự tồn tại dai dẳng của viêm dạ dày mạn tính và tuyến thể bị tổn thương, dẫn đến việc thiếu axit dạ dày và pepsin (men vị đản bạch) sẽ ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa và hấp thụ nhũ trấp ở một mức độ nhất định, làm tăng sản xuất tế bào IgG và IgM và đại thực bào, đồng thời ức chế tế bào T gây độc tế bào. Sự ức chế tế bào T gây độc tế bào cao hơn tế bào T trợ giúp, tế bào G bị giảm và các rối loạn chức năng miễn dịch hệ thống khác và rối loạn chức năng đường ruột. Do đó, các triệu chứng tiêu chảy ngắt quãng có thể xuất hiện trên lâm sàng.
Biểu hiện của bệnh viêm teo dạ dày mạn tính là gì?
Viêm teo dạ dày là một loại viêm dạ dày mạn tính, biểu hiện lâm sàng của viêm dạ dày mạn tính không có triệu chứng cụ thể, mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng thường không phù hợp với mức độ tổn thương niêm mạc, phần lớn bệnh nhân thường không có triệu chứng. Nếu xảy ra thì phần lớn là các triệu chứng khó tiêu như đầy bụng ợ hơi sau bữa ăn, một số ít có thể kèm theo chán ăn và buồn nôn. Ngoài các triệu chứng chung trên, viêm teo dạ dày đôi khi có biểu hiện thiếu máu, sụt cân, viêm lưỡi, tiêu chảy, nếu phức tạp do tổn thương niêm mạc dạ dày cấp tính có thể xảy ra nôn ra máu hoặc phân đen.
Phòng và điều trị viêm teo dạ dày mãn tính như thế nào?
Để phòng ngừa căn bệnh này, cần loại bỏ nhiều yếu tố gây bệnh có thể xảy ra, chẳng hạn như: Tránh ăn thực phẩm và thuốc gây kích ứng dạ dày, bỏ thuốc lá và rượu, v.v.
Hiện tại không có thuốc đặc hiệu để điều trị bệnh này và không cần thiết cho những người không có triệu chứng hoặc triệu chứng nhẹ.
Các biện pháp xử lý cụ thể như sau:
(1) Đối với những người có các triệu chứng như khó tiêu, nói chung có thể điều trị theo bệnh loét dạ dày và có thể sử dụng các loại thuốc kháng axit (chế toan), thường là hữu ích để giảm đau và các triệu chứng khác; Về lý thuyết, thuốc bảo vệ hoặc cải thiện niêm mạc hàng rào, chẳng hạn như lưu huỳnh Đường nhôm, prostaglandin và các chế phẩm khác có vẻ hợp lý hơn, và phương pháp dùng thuốc cũng giống như phương pháp điều trị loét dạ dày tá tràng.
(2) Metoclopramide và choletyramine có thể dùng cho bệnh nhân viêm dạ dày trào ngược dịch mật. Metoclopramide có tác dụng ức chế nhu động ngược của dạ dày, tá tràng, đẩy nhanh quá trình làm rỗng dạ dày, giảm trào ngược dịch mật, liều dùng 10-20 mg/lần, ngày 3 lần (uống trước bữa ăn 30 phút); các amin có thể phối hợp với muối mật trong dạ dày để đẩy nhanh quá trình đào thải muối mật, liều lượng 3-4 gam/lần, ngày 4 lần, dùng lâu dài cần chú ý vấn đề hấp thu chất dinh dưỡng. Đối với chứng trào ngược dịch mật nghiêm trọng, có thể xem xét phẫu thuật nối thông mật-hỗng tràng.
(3) Glucocorticoid chỉ thích hợp cho bệnh nhân viêm teo dạ dày có kháng thể tế bào thành trong huyết thanh dương tính và thiếu máu ác tính, Corticosteroid có thể có một số tác dụng đảo ngược tổn thương niêm mạc. Thông thường, liệu pháp ngắn hạn được sử dụng. Mà lại có khá nhiều phản ứng bất lợi.
(4) Đối với những bệnh nhân bị thiếu máu, có thể tiêm sắt (như sắt dextran) hoặc vitamin B12 vào cơ bắp, và đôi khi có thể uống axit folic hoặc hợp chất gelatin da lừa (A giao).
(5) Khi viêm teo dạ dày có hypochlorhydria, giá trị của việc sử dụng streptomycin và các loại thuốc kháng khuẩn khác là đáng nghi ngờ. Do thiếu axit dịch vị và pepsin không ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa và hấp thu dưỡng trấp ở ruột nên hiệu quả của việc sử dụng các chế phẩm enzym như viên nén đa enzym vẫn chưa chắc chắn. Việc có nên dùng hỗn hợp axit clohydric loãng và pepsin cho những người thiếu axit dạ dày trong viêm teo dạ dày hay không cũng gây tranh cãi.
Điều đáng lưu ý là do viêm teo dạ dày rất dễ bị ung thư hóa nên bệnh nhân viêm teo dạ dày mãn tính lâu năm cần được kiểm tra thường xuyên để phòng ngừa ung thư hóa.
Ly Nguyễn Nghị dịch