VIÊM TẮC MẠCH (BỆNH BUERGER).脉管炎
VIÊM TẮC MẠCH (BỆNH BUERGER)
脉管炎
- Khái quát
Viêm tắc mạch (tên đầy đủ: Viêm tắc mạch huyết khối, trong y học còn gọi là Thromboangiitis obliterans hay Bệnh Buerger) là một bệnh lý nghiêm trọng do tắc nghẽn động mạch vừa và nhỏ ở chi dưới bởi các cục máu đông (huyết khối). Tình trạng này gây viêm nhiễm thành mạch và dẫn đến thiếu máu nuôi dưỡng các mô.
- Nguyên nhân gây bệnh
Hiện nay, y học vẫn chưa hiểu rõ hoàn toàn nguyên nhân viêm tắc mạch. Tuy nhiên, thống kê cho thấy:
- Ở vùng lạnh, tỷ lệ mắc viêm tắc mạch cao hơn vùng ấm.
- Trong nhóm người hút thuốc, tỷ lệ mắc cao hơn nhóm không hút.
Vì vậy, nhiều chuyên gia cho rằng bệnh có liên quan chặt chẽ tới việc hút thuốc lâu dài và sống trong môi trường lạnh. Một số quan điểm khác đề cập đến yếu tố miễn dịch, yếu tố di truyền…
- Đặc điểm dịch tễ
- Bệnh thường gặp ở người trẻ, độ tuổi 20–40, nam giới nhiều hơn nữ giới (tỷ lệ 29:1).
- Chủ yếu tổn thương các động mạch ở cẳng chân (động mạch chày trước, chày sau, mu chân…), nặng hơn có thể lan lên động mạch khoeo, đùi, thậm chí ảnh hưởng toàn bộ mạch máu ở tứ chi.
- Do huyết khối gây tắc mạch, máu nuôi bị thiếu, dẫn tới các biến chứng như viêm tĩnh mạch huyết khối, viêm động mạch, khập khiễng cách hồi (đi khập khiễng ngắt quãng), rối loạn dinh dưỡng mô, thậm chí hoại tử…, gây nguy hại lớn cho sức khỏe.
- Chẩn đoán viêm tắc mạch huyết khối
Các tiêu chí chẩn đoán thường gồm:
- Bệnh nhân nam trẻ (thường <40 tuổi) khởi phát bệnh.
- Có triệu chứng khập khiễng cách hồi một bên hoặc cả hai bên chi dưới.
- Động mạch mu chân hoặc chày sau đập yếu hoặc mất mạch.
- Viêm tĩnh mạch nông di chuyển (thrombophlebitis migrans) nhưng không kèm tăng huyết áp, mỡ máu cao, đái tháo đường hay xơ cứng động mạch.
- Nghiệm pháp thay đổi tư thế chi:
- Cho bệnh nhân nằm ngửa, nâng cao chi dưới 45° trong 3 phút, quan sát màu da bàn chân. Ở bệnh nhân viêm tắc mạch, chân bệnh trắng bệch hoặc vàng sáp, ấn ngón chân thì thiếu máu càng rõ, kèm cảm giác tê đau.
- Sau đó, yêu cầu bệnh nhân ngồi dậy, thòng chân xuống. Ở chi bệnh, màu da phục hồi chậm hoặc chuyển xanh tím.
Theo y học cổ truyền, viêm tắc mạch thuộc phạm trù “thoát cước” (脱疽). Trong Hoàng Đế Nội Kinh và Mã Bồi Ngoại Khoa Y Án đều có đề cập đến bệnh lý này. Tài liệu ghi:
“…Nếu do ăn uống nhiều chất bổ, mỡ béo, tích nhiệt… dễ sinh thoát cước… Bàn chân sưng nóng, ngón chân lạnh, dần chết cả da, thịt, gân, xương… Về cơ bản là do tích nhiệt, nên cốt yếu là dưỡng âm thanh hỏa.”
- Tại sao bệnh nhân viêm tắc mạch bị rụng lông chân?
Do động mạch bị tắc (bởi huyết khối) hoặc do xơ vữa làm bít lòng mạch, máu nuôi chi giảm. Nang lông thiếu dưỡng chất nên teo dần; lông (hay “lông tơ”, “lông tơ chi dưới”) mất nguồn nuôi nên ngừng mọc và rụng. Về lâu dài, nang lông teo; da ở vùng thiếu máu trở nên lạnh, khô, mỏng, móng chân dày mỏng bất thường, có thể xuất hiện hoại tử mô.
- Biểu hiện của viêm tắc mạch
- Viêm tĩnh mạch nông di chuyển
- Khoảng 40% bệnh nhân có biểu hiện này, thường gặp ở tĩnh mạch hiển và nhánh của nó.
- Dấu hiệu: Dưới da xuất hiện dải cứng hoặc nốt, theo kiểu từng đoạn, kèm đau khi ấn, có thể tự đau.
- Tổn thương có thể tự thoái lui sau 1–3 tuần, rồi lại xuất hiện vùng mới.
- Tổn thương động mạch
- Thường gặp nhất ở động mạch mu chân, sau đó đến động mạch khoeo, đùi.
- Huyết khối làm lòng mạch tắc, thiếu máu nuôi cơ ở chi bệnh.
- Khi đi một đoạn, bệnh nhân cảm thấy mỏi, đau nhức bắp chân và bàn chân, tê bì, cần nghỉ mới đỡ – gọi là khập khiễng cách hồi không điển hình.
- Chi bệnh nhạy cảm với lạnh, nhiệt độ da thấp, dễ ra mồ hôi, móng mọc chậm. Về sau, triệu chứng khập khiễng cách hồi càng rõ.
- Rối loạn dinh dưỡng mô
- Nếu bệnh tiến triển, thiếu máu nặng khiến đau ngay cả khi nghỉ.
- Khi có viêm thần kinh thiếu máu, đau lan rộng hơn, kiểu đau điện giật, nhất là ban đêm, bệnh nhân không ngủ được, phải ngồi gập người.
- Da bàn chân, cẳng chân trắng bệch, lạnh, cơ teo; móng chân dày, giòn.
- Nặng hơn, mô thiếu máu hoàn toàn, gây hoại thư (thường bắt đầu từ đầu ngón chân, lan dần lên trên). Phần hoại tử có thể tự rụng, để lại vết loét khó liền.
- Loãng xương cục bộ
- Thiếu máu mạn tính khiến xương bị loãng tại vùng chi tổn thương, đau nặng hơn khi đứng lâu hoặc chịu tải.
- Viêm tắc mạch có liên quan đến đái tháo đường không?
Bệnh viêm tắc mạch (thromboangiitis obliterans) khác với hiện tượng tắc nghẽn do xơ vữa động mạch. Một số người lầm tưởng viêm tắc mạch liên quan đến đái tháo đường, song ý kiến này chưa đúng:
- Viêm tắc mạch: Liên quan chặt chẽ đến hút thuốc lá và môi trường lạnh.
- Xơ vữa động mạch: Liên quan mật thiết với đái tháo đường (bệnh nhân tiểu đường thường có hẹp/tắc động mạch chi dưới, dễ bị hoại thư chân).
Ở bệnh nhân xơ vữa động mạch dẫn tới hoại tử chi, nếu kèm đái tháo đường, nguy cơ hoại thư càng cao do thiếu máu – thiếu oxy cùng tăng đường huyết, làm giảm sức đề kháng của da và cơ thể, vi khuẩn dễ xâm nhập. Bệnh nhân tiểu đường còn tổn thương thần kinh, cộng hưởng với biến đổi mạch máu và nhiễm khuẩn, gây bàn chân đái tháo đường.
Vì thế, người bệnh tiểu đường nên kiểm tra thường xuyên mạch ngoại biên (quay, trụ, cánh tay, dưới đòn, cổ, đùi, chày sau, mu chân, động mạch chủ bụng…) để sớm phát hiện xơ vữa gây tắc. Ngược lại, bệnh nhân tắc nghẽn động mạch cũng nên đo đường huyết loại trừ tiểu đường.
- Phòng ngừa viêm tắc mạch
- Bỏ thuốc lá hoàn toàn
- Các số liệu cho thấy tỷ lệ viêm tắc mạch ở nhóm hút thuốc cao hơn nhiều so với nhóm không hút.
- Thuốc lá làm co thắt mạch ngoại biên, tăng mức độ tắc nghẽn, bệnh nặng thêm.
- Giữ sạch và khô ráo bàn chân, tránh chấn thương và nhiễm trùng
- Do thiếu máu nuôi chi, da chân yếu, dễ nhiễm trùng.
- Chân sạch, khô giúp hạn chế vi khuẩn.
- Nếu bị tổn thương ở chân, vết thương khó lành, dễ bội nhiễm.
- Giữ ấm tại chỗ
- Lạnh có thể gây co mạch hoặc co thắt, làm tắc mạch nặng hơn.
- Tuy nhiên, không nên dùng nhiệt quá cao, tránh tăng chuyển hóa tại chỗ, khiến cầu oxy lớn hơn, tình trạng thiếu máu càng trầm trọng.
- Thay đổi tư thế khi lao động
- Không nên đứng lâu hoặc giữ nguyên một tư thế quá lâu, vì máu ứ ở chi dưới, làm sưng đau nặng thêm.
- Tránh dùng thuốc co mạch
- Các thuốc như adrenaline, ephedrine… làm co mạch ngoại vi, thu hẹp lòng mạch, tăng áp tĩnh mạch, khiến bệnh xấu hơn.
Trường Xuân dịch