Tài liệu tham khảo
Nguyên nhân viêm gan ở trẻ sơ sinh là gì?
Căn nguyên đã được tìm thấy nổi bật là virus tế bào khổng lồ (CMV). Xét nghiệm cho thấy kháng thể IgM kháng CMV dương tính chiếm 51,2%; virus viêm gan B (HBV) đứng thứ hai, chiếm 34,7%; kế đến là virus EB chiếm 4,13%; virus viêm gan A rất ít, chỉ chiếm 1,6%. Điều này cho thấy, trong hội chứng viêm gan ở trẻ sơ sinh, nhiễm virus là nguyên nhân hay gặp nhất, chiếm 92,5% nguyên nhân đã biết.
Đặc điểm viêm gan ở trẻ em
Gan ở trẻ em chiếm tỷ trọng lớn hơn so với người lớn (so với trọng lượng cơ thể), được cung cấp máu phong phú, tế bào gan có khả năng tái sinh mạnh, nhưng hệ thống miễn dịch chưa trưởng thành, nên khi virus viêm gan xâm nhập dễ gây dung nạp miễn dịch. Do vậy, trẻ nhỏ nhiễm virus viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) thường dễ trở thành người mang mầm bệnh mạn tính.Theo thống kê, trẻ sơ sinh lây nhiễm HBV theo đường dọc mẹ – con có 40–70% biến thành người mang HBV lâu dài; trong khi trẻ <3 tuổi nhiễm HBV theo đường ngang thì 20–30% trở thành người mang virus. Những người mang HBV này có nguy cơ cao nhiễm thêm HDV (viêm gan D), dễ làm bệnh gan trầm trọng hơn, và thúc đẩy chuyển thành xơ gan, ung thư gan.
Về lâm sàng, trẻ nhũ nhi mắc viêm gan cấp thường thể hoàng đản, thời gian kéo dài không lâu, triệu chứng đường tiêu hóa rõ, khởi phát nhiều khi kèm sốt, đau bụng. Trẻ <6 tháng dễ bị viêm gan tối cấp, diễn tiến nặng, tỉ lệ tử vong cao. Sốt cao, vàng da nặng, gan teo, chảy máu, co giật, mùi gan (foetor hepaticus) là dấu hiệu sớm của suy gan nặng; thường khoảng ngày 12 phát sinh hôn mê, sau 4 ngày hôn mê thì tử vong.Trẻ lớn (mẫu giáo, tiểu học) hay gặp thể nhẹ, không vàng da hoặc bán vàng da, khởi phát âm thầm, thường vô tình phát hiện khi kiểm tra sức khỏe nhập lớp. Một số đặc điểm thường gặp ở trẻ viêm gan dạng nhũ nhi:
1/ Độ tuổi 1–3 tháng chiếm 90%.
2/ 45,2% trường hợp có vàng da sinh lý vừa lui thì lập tức tái xuất hiện (trong vòng 1 tháng tuổi).
3/ Khởi phát ẩn chiếm 61,9%.
4/ Bé trai mắc nhiều hơn bé gái.
5/ 61,9% có bilirubin huyết thanh 85,5–171 μmol/L (5–10 mg/dL), chủ yếu bilirubin trực tiếp, thải bỏ chậm.
6/ Men transaminase tăng, nhưng đa số tăng vừa (dưới 500 U/L ~ 83,35 μmol/L), hạ từ từ.
7/ Nhiều biến chứng, trong đó viêm phổi chiếm 66,6%.
8/ Nếu điều trị kịp thời, tiên lượng khá tốt.
Tỷ lệ HBsAg(+) cao nhất ở trẻ 5–9 tuổi, còn kháng thể HBs(+) cao nhất ở 10–15 tuổi; nồng độ HBsAg, HBeAg trong huyết thanh trẻ em cao hơn người lớn, trong khi mức biểu hiện HBsAg ở gan tương tự người lớn, HBeAg biểu hiện lại thấp hơn. Ngoài ra, 20–30% trẻ viêm gan B mạn có tổn thương hệ thống ngoài gan, nhất là thận. Da thường gặp mụn dạng đậu (pseudopox-like)…
Nghỉ ngơi và dinh dưỡng là chìa khóa điều trị viêm gan ở trẻ. Vì trẻ hiếu động, không biết mệt, nên cần dùng cách kể chuyện, nghe radio, xem tivi, tập thở, ngủ trưa… để sắp xếp hợp lý hoạt động và nghỉ ngơi. Dinh dưỡng nên dùng thức ăn dễ tiêu, giàu dưỡng chất, màu sắc thơm ngon mà trẻ thích. Khi trẻ thấy thèm ăn trở lại, vẫn cần kiểm soát lượng ăn, tránh làm hại tỳ vị, ảnh hưởng phục hồi gan.
Virus viêm gan lây như thế nào?
Viêm gan do virus (virus hepatitis) là bệnh truyền nhiễm nhóm B. Hiện phân loại theo căn nguyên gồm A, B, C, D, E, F, G… Ở trẻ em, nhiều nhất là viêm gan A, kế đến viêm gan B; còn các type khác ít gặp. Viêm gan A lây qua đường phân – miệng, tức mầm bệnh đi từ phân bệnh nhân, truyền qua tiếp xúc thường nhật, qua tay, nước uống, thực phẩm, dụng cụ ăn uống… Ở trường học, nhà trẻ mẫu giáo, nếu đồ ăn/nước bị phân bệnh nhân nhiễm bẩn, dễ bùng dịch.
Viêm gan B lây qua nhiều con đường hơn A:
Viêm gan B: Khởi phát từ từ, ít thấy vàng da, GPT tăng, kéo dài 1–8 tháng. HBsAg(+) trong huyết thanh xác định viêm gan B. Bệnh diễn biến lâu, một số chuyển thành mạn.
Đánh giá kết quả “2 cặp rưỡi” (markers HBV) thế nào
“2 cặp rưỡi” hay “5 markers” là:
1/ HBsAg (kháng nguyên bề mặt),
2/ anti-HBs (kháng thể bề mặt),
3/ HBeAg (kháng nguyên e),
4/ anti-HBe (kháng thể e),
5/ anti-HBc (kháng thể lõi). (Vì HBcAg tồn tại trong nhân tế bào gan, không lưu hành tự do nên không định lượng được.)
Điều trị viêm gan virus thế nào?
Chưa có thuốc “đặc hiệu” diệt virus hoàn toàn, do đó các biện pháp sau rất quan trọng:
1/ Nghỉ ngơi đủ
Giai đoạn cấp phải nằm giường, giúp tế bào gan tái tạo. Khi bắt đầu hết vàng da, có thể tăng hoạt động nhẹ, không quá mệt. Triệu chứng khỏi, men gan gần bình thường, vẫn cần nghỉ ngơi thêm 1 tháng. Trẻ có thể đi học, nhưng trong vòng nửa năm không tham gia thể dục thể thao.
2/ Chế độ ăn hợp lý
Tùy tình trạng bệnh, ăn thức ăn dễ tiêu.
Khuyến khích carbohydrate (cơm, đường, trái cây…), protein (thịt nạc, sữa, trứng, đậu…) và vitamin (rau quả tươi…), nhưng không ăn mỡ nhiều vì trẻ thường sợ mỡ. Khi khỏi, có thể tăng dần lượng ăn.
3/ Điều trị thuốc
Uống vitamin nhóm B, vitamin C. Nếu trẻ không ăn được, có thể truyền tĩnh mạch glucose 10%, kèm vitamin C liều cao. Interferon có hiệu quả với viêm gan B, nhưng giá đắt.
4/ Tránh thuốc hại gan
Như barbiturat, sulfamid, chlorpromazine… Cả “thuốc bổ gan” ngoài thị trường cũng nên thận trọng.
Cách nhìn của Đông y về nguyên nhân và cơ chế viêm gan virus ở trẻ?
Trong y thư cổ không có tên “viêm gan virus trẻ em”, mà xếp vào phạm trù “hoàng đản, hiếp thống”. Theo Đông y, nguyên nhân gồm cả nội – ngoại. Ngoại do cảm ngoại tà, nội do ăn uống thất thường, tỳ vị hư, chính khí bất túc. Mấu chốt gây bệnh là thấp tà. Cụ thể:
1/ Cảm ngoại tà
Mùa hạ – thu, ngoại cảm thấp nhiệt, hoặc “dịch độc” xâm nhập, dần lan vào trung tiêu, làm tỳ vị vận hóa kém, không trừ được thấp nhiệt, hun đốt can đởm, can mất sơ tiết, mật tràn ra da thịt và tiểu tiện, gây hoàng đản.
2/ Ăn uống thất thường
Trẻ không biết tiết chế, ăn nhiều dầu mỡ ngọt béo… gây thương tổn tỳ vị, sinh ra thấp trọc lâu ngày hóa nhiệt, xông lên can đởm, làm dịch mật chảy sai đường ra da thịt.
3/ Tỳ vị hư hàn
Trẻ bẩm thụ dương khí chưa đủ, hoặc ưa đồ lạnh, hoặc dùng thuốc quá đắng lạnh… khiến tổn thương dương khí của tỳ vị, hàn thấp tích trệ trung tiêu, dịch mật không thông, da mắt vàng tối.
Ngoài ra, chính khí hư yếu, thấp tà ngưng đọng, khí cơ bế tắc, sinh khí trệ huyết ứ. Thấp tụ lâu ngày hóa nhiệt, làm hại tân dịch, dẫn đến can – thận âm hư.
Chẩn trị thể “Thấp nhiệt uẩn kết” viêm gan ở trẻ?
Triệu chứng: Thấp nhiệt thiên về nhiệt: Sốt, hoặc gai rét, củng mạc vàng, toàn thân vàng đậm như màu quýt chín, miệng khô tâm phiền, buồn nôn, chán ăn, bụng trướng đau, phân lỏng hay táo, tiểu ít đỏ, lưỡi đỏ rêu vàng nhầy…Thấp nhiệt thiên về thấp: Ủ bệnh, sốt nhẹ, hoặc không sốt, da vàng không tươi, nặng nề mệt mỏi, lưỡi bệu rêu trắng nhầy…Cả thấp và nhiệt: vàng da nặng, phiền muộn bức bối, chán ăn, mạch sác…
Trị pháp: Thanh nhiệt trừ thấp, giải độc thoái hoàng.
Nếu nhiệt nặng hơn thấp: dùng “Nhân trần hao thang” gia vị: Nhân trần, đại hoàng, sơn chi, trạch tả, xa tiền tử, hậu phác… sắc uống.
Nếu thấp nặng hơn nhiệt: dùng “Nhân trần ngũ linh tán” hợp “Bình vị tán” gia giảm: Nhân trần, bạch phục linh, trạch tả, thương truật, hậu phác, trần bì, sơn tra, đại hoàng… sắc uống.
Nếu sốt: Thêm sài hồ, hoàng cầm; buồn nôn, thêm trúc nhự, bán hạ chế; tim phiền bứt rứt, khứ trần bì, thương truật, hậu phác, thêm long đởm thảo, hoàng liên; đau tức hai bên sườn, thêm xuyên khung, uất kim; táo bón, thêm chỉ thực, nguyên minh phấn pha nước uống; vàng da nặng, thêm bản lam căn, bại tương thảo…
Chẩn trị thể “Thấp nhiệt khốn tỳ” viêm gan ở trẻ?
Triệu chứng: Có thể sốt, mệt mỏi, ăn ít, buồn nôn, ngán dầu mỡ, đầy bụng, tiểu ít đỏ, phân sền sệt bết, lưỡi rêu trắng nhầy hoặc vàng nhầy…
Trị pháp: Thanh nhiệt lợi thấp.
Dùng “Cam lộ tiêu độc đan” gia giảm: Nhân trần, hoạt thạch, hoàng cầm, hoắc hương, liên kiều, mộc thông, đậu khấu, bạc hà. Sắc uống ngày 1 thang
Thêm: Nếu tiểu tiện khó, thêm trư linh, trạch tả, xa tiền tử; nôn nhiều thì bớt bạc hà, thêm khương trúc nhự, bán hạ; Đầy bụng, thêm chỉ xác, đại phúc bì; táo bón, thêm đại hoàng; Kém ăn, thêm sơn tra, mạch nha.
Chẩn trị thể “Hàn thấp ngưng trệ” viêm gan ở trẻ?
Triệu chứng: Toàn thân vàng da tối, ăn ít, có thể nôn, đầy bụng, đau tức mạn sườn, sợ lạnh, tứ chi lạnh, nặng nề mỏi mệt, phân lỏng thối, lưỡi nhợt, rêu trắng trơn…
Trị pháp: Ôn dương hóa thấp, lợi mật thoái hoàng.
Dùng “Nhân trần truật phụ thang” gia giảm: Nhân trần, bạch truật, phụ tử, can khương, trạch lan… sắc uống. Nếu khí hư rõ, thêm hoàng kỳ, đảng sâm; đau bụng nhiều, thêm nhục quế.
Chẩn trị thể “Nhiệt độc nội hãm” viêm gan ở trẻ?
Triệu chứng: khởi bệnh nhanh, hoàng đản đậm (da mắt vàng sáng như vàng), sốt cao, khát nước, bồn chồn, đầy bụng, phân táo, tiểu đỏ, lưỡi đỏ rêu vàng dầy, mạch huyền sác hoặc hồng đại…
Trị pháp: Thanh nhiệt tả hỏa.
Dùng “Nhân trần hao thang” hợp “Hoàng liên giải độc thang” gia giảm: Nhân trần, sơn chi, liên kiều, xa tiền thảo, hoàng liên, hoàng cầm, bản lam căn… sắc uống.
Chẩn trị thể “Khí trệ huyết ứ” viêm gan ở trẻ?
Triệu chứng: đau nhói vùng mạn sườn, vị trí cố định, sau ăn đầy bụng, da xám tối, gầy sút, sờ thấy khối cứng vùng mạn sườn, có thể có “Tri thù chí” nốt nhện (spider nevus), lòng bàn tay son, lưỡi tím tối, mạch huyền sáp.
Trị pháp: Sơ can lý khí, hoạt huyết hóa ứ.
Dùng “Cách hạ trục ứ thang” gia giảm: Đào nhân, quy vĩ, đan sâm, uất kim, xuyên luyện tử, hương phụ, hồng hoa, xuyên khung, xích thược, miết giáp (sắc trước), ô dược… sắc uống ngày 1 thang phân 3 lần uống.
Chẩn trị thể “Can thận âm hư” viêm gan ở trẻ?
Triệu chứng: miệng khô, thích uống nước, hoa mắt, đánh trống ngực, lưng gối mỏi, nóng lòng bàn tay chân, mất ngủ, đau âm ỉ hạ sườn, phân khô, tiểu vàng, có thể sốt nhẹ kéo dài, lưỡi đỏ ít rêu.
Trị pháp: Tư âm bổ can ích thận.
Dùng “Nhất quán tiễn” gia giảm: Sinh địa, bắc sa sâm, câu kỷ tử, mạch môn, xuyên luyện tử, đương quy, đan sâm, sơn tra, bản lam căn… sắc uống ngày 1 thang phân 3 lần uống..Nếu sốt nhẹ, thêm thanh cao, sài hồ; đau mạn sườn, thêm uất kim, trần bì; Lưng gối yếu, thêm ngưu tất, đỗ trọng, tang ký sinh, xuyên đoạn…
“Hội chứng viêm gan ở trẻ sơ sinh” (Neonatal Hepatitis Syndrome) là gì?
Hội chứng viêm gan ở trẻ sơ sinh đề cập bệnh nhi <1 tuổi (kể cả trẻ mới sinh) do nhiều nguyên nhân, biểu hiện vàng da, gan to, lách to, suy chức năng gan. Các bé thường được nhập viện với chẩn đoán “Hội chứng viêm gan sơ sinh”. Nhưng gần đây, người ta phát hiện nhiều trường hợp tổn thương thực chất ở gan, hoặc ở đường mật trong và/hoặc ngoài gan → ứ mật, bài tiết giảm, biểu hiện tăng bilirubin trực tiếp (conjugated bilirubin >1,5 mg/dL hoặc >20% tổng bilirubin), gan – lách to, rối loạn chức năng gan, kém hấp thu chất béo… Vì một số ca không có tổn thương viêm gan, nên đề xuất đổi tên “Viêm gan sơ sinh” thành “Ứ mật ở trẻ sơ sinh”.
Những nguyên nhân nào gây hội chứng viêm gan sơ sinh?
Nhiều nguyên nhân, chia làm 3 nhóm:
1/ Tổn thương tế bào gan
CMV (virus tế bào khổng lồ) là nguyên nhân chính, ~1/4 ca. Ngoài ra HBV, EBV, nhiễm trùng huyết, toxoplasma… ít gặp. Trẻ sơ sinh nuôi tĩnh mạch cao năng lượng >2 tuần cũng gây bệnh.
2/ Tắc nghẽn đường mật trong/ngoài gan
Bao gồm bất sản đường mật trong gan, hội chứng mật quánh (Inspissated bile syndrome), teo đường mật bẩm sinh, nang ống mật chủ…
3/Khiếm khuyết chuyển hóa bẩm sinh
Ví dụ: thiếu α1-antitrypsin, galactosemia, tyrosinemia, di truyền bất dung nạp fructose…
Biểu hiện lâm sàng của hội chứng viêm gan sơ sinh?
Thường khởi phát 1–2 tháng sau sinh. Bệnh ảnh hưởng nhiều cơ quan, biểu hiện phức tạp:
Tổn thương gan: gan to hoặc gan-lách to, vàng da, nước tiểu đậm (vàng bẩn tã), phân nhạt hoặc xám, suy chức năng gan.
Triệu chứng tiêu hóa: ăn kém, tiêu chảy, viêm phổi kèm theo…
Thiếu dinh dưỡng: suy dinh dưỡng, thiếu máu, thiếu vitamin A, D… Do trẻ còn nhỏ, nhu cầu phát triển cao nhưng ứ mật dẫn đến kém hấp thu vitamin tan trong mỡ. Gan hư tổn, giảm chuyển hóa vitamin D. Hạ canxi máu gặp ở 75% ca, co giật tay chân 17,8%. Thiếu vitamin A gây khô mắt, giác mạc. Tử vong thường do các biến chứng.
Điều trị hội chứng viêm gan sơ sinh thế nào?
Hội chứng viêm gan sơ sinh có ảnh hưởng trí tuệ trẻ không?
Viêm gan sơ sinh là hội chứng trẻ 0–1 tháng có vàng da tắc mật, gan-lách to, tổn thương gan. Nguyên nhân:
Triệu chứng thường xuất hiện lúc 1–3 tuần sau đẻ: vàng da sinh lý muộn hoặc tái lại, kéo dài hoặc nặng hơn. Lúc đầu ít triệu chứng, hoặc ăn kém, nôn, tăng cân kém. Phân bình thường, dần nhạt màu hoặc trắng, tiểu vàng đậm, gan to. Trường hợp nặng, vàng da tăng, có thể gây tăng bilirubin máu, dẫn đến nhiễm độc nhân não (kernicterus), phân trắng, gan phình cứng, có thể bị báng bụng, hôn mê gan, xuất huyết…
Khi trẻ 2 tuần tuổi, nếu vẫn vàng da hoặc tăng thêm, hoặc sau giảm lại xuất hiện, kèm ăn kém, nôn, thì phải đưa đi bệnh viện. Bác sĩ sẽ kiểm tra máu, siêu âm gan, xác định căn nguyên. Dựa vào đó, kết hợp bảo vệ gan, thuốc cảm ứng men gan, thuốc đông y… để giảm vàng, ngăn tăng bilirubin hoặc kernicterus. Nếu siêu âm xác định ngoài gan có khối chèn hoặc teo mật, cần mổ sớm, tránh tiến triển thành xơ gan, hôn mê gan.
Hàng rào máu não trẻ nhỏ kém, nếu vàng da nặng lâu ngày không chữa, dễ dẫn đến tăng bilirubin máu, kernicterus, hoặc tắc mật ngoại gan mà không phẫu thuật kịp, dễ xơ gan, hôn mê gan. Cả kernicterus và hôn mê gan đều gây tổn thương não, ảnh hưởng trí tuệ. Vì thế, khi mang thai, lúc sinh và sau sinh cần phòng nhiễm trùng, thực hiện vô trùng sản khoa, người mắc bệnh gan không chăm sóc trẻ, đặc biệt mẹ viêm gan A, B… không nên cho con bú. Cha mẹ cần theo dõi sát màu da. Nếu vàng da bất thường, mau đưa trẻ đi viện để điều trị kịp thời.
Ly Trường Xuân