Viêm dạ dày bề mặt mạn tính
Tư liệu tham khảo:
Viêm dạ dày bề mặt mạn tính là gì?
Viêm dạ dày bề mặt mạn tính là tình trạng viêm bề mặt mạn tính của niêm mạc dạ dày, đây là loại viêm dạ dày mạn tính phổ biến nhất, chiếm khoảng 50% đến 85% tổng số ca viêm dạ dày mạn tính khi khám nội soi dạ dày. Độ tuổi khởi phát bệnh cao nhất là từ 31 đến 50 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh ở nam nhiều hơn nữ.
Tổn thương cơ bản của viêm dạ dày bề mặt mạn tính là thoái hóa tế bào biểu mô, tăng sản biểu mô hố và thâm nhiễm tế bào viêm ở lớp đệm, đôi khi có thể thấy chuyển sản ruột của biểu mô bề mặt và biểu mô hố mà không mất các tuyến nội tại. Tổn thương thường rõ ở hang vị, phần lớn lan tỏa, nội soi dạ dày thấy niêm mạc dạ dày sung huyết, phù nề, lốm đốm và trợt hoặc kèm theo dịch nhầy màu trắng vàng. Hiện nay, theo độ sâu của sự xâm nhập của tế bào viêm trong lớp niêm mạc, bệnh được chia thành ba mức độ: nhẹ, trung bình và nặng. Những người xâm nhập 1/3 bề mặt của niêm mạc được coi là nhẹ; những người xâm nhập 1/3 giữa được coi là trung bình; những người xâm nhập hơn 2/3 niêm mạc được coi là nghiêm trọng.
Hầu hết bệnh nhân bị viêm dạ dày bề ngoài đều không có triệu chứng lâm sàng, một số bệnh nhân thường có các triệu chứng như căng tức vùng thượng vị, ợ hơi, trào ngược axit, chán ăn hoặc đau vùng thượng vị không đều, nặng hơn sau khi ăn. Viêm dạ dày bề mặt mạn tính sau khi điều trị có thể khỏi, nếu không điều trị có thể phát triển thêm, các tuyến bên trong bị suy giảm do tổn thương viêm, có thể chuyển thành viêm teo dạ dày.
Nguyên nhân gây viêm dạ dày bề mặt mạn tính là gì?
Các yếu tố gây bệnh của viêm dạ dày bề mặt mạn tính cho đến nay vẫn chưa được hiểu đầy đủ, người ta thấy rằng hầu như bất kỳ yếu tố nào có thể tác động đến cơ thể đều có thể gây ra viêm dạ dày bề mặt mạn tính. Trong số các nguyên nhân rõ ràng hơn là:
1/ Vi khuẩn, vi rút và độc tố: Phổ biến hơn sau khi viêm dạ dày cấp tính, tổn thương niêm mạc dạ dày kéo dài hoặc tái phát, dần dần tiến triển thành viêm dạ dày bề mặt mạn tính.
2/ Nhiễm trùng mạn tính khoang mũi, khoang miệng và hầu họng: Các tổn thương nhiễm trùng mạn tính ở khoang mũi, khoang miệng và hầu họng, chẳng hạn như tràn dịch phế nang, viêm amiđan, viêm xoang và các vi khuẩn khác hoặc độc tố của chúng, có thể gây kích ứng nhiều lần. niêm mạc dạ dày Và gây viêm dạ dày bề mặt mạn tính. Người ta đã phát hiện ra rằng 90% bệnh nhân bị viêm amidan mạn tính đều có những thay đổi viêm mạn tính ở dạ dày.
3/ Hút thuốc lá: Thành phần gây hại chủ yếu trong thuốc lá là nicotin, hút nhiều trong thời gian dài có thể làm giãn cơ vòng môn vị, trào ngược dịch vị tá tràng, co thắt mạch dạ dày, tăng tiết axit dịch vị, từ đó phá hủy hàng rào niêm mạc dạ dày, dẫn đến tổn thương viêm mạn tính. . Theo Eward, viêm niêm mạc dạ dày có thể xảy ra ở 40% những người hút trên 20 điếu thuốc mỗi ngày.
4/ Thuốc: Một số loại thuốc như chế phẩm acid salicylic, corticoid, digitalis, indomethacin, phenylbutazone… có thể gây tổn thương mạn tính niêm mạc dạ dày.
5/ Thức ăn gây kích ứng: uống rượu mạnh, trà đặc, cà phê, thức ăn cay và thô trong thời gian dài, ăn uống không điều độ như đói hoặc no có thể làm hỏng hàng rào bảo vệ niêm mạc dạ dày, gây viêm dạ dày.
6/ Rối loạn chức năng tuần hoàn và trao đổi chất: Tính toàn vẹn về cấu trúc và chức năng của niêm mạc dạ dày và khả năng bảo vệ nó chống lại các yếu tố tổn thương khác nhau có liên quan chặt chẽ đến lưu lượng máu đầy đủ của niêm mạc. Suy tim sung huyết hoặc tăng áp lực tĩnh mạch cửa sẽ khiến dạ dày luôn trong tình trạng ứ đọng máu và thiếu oxy trong thời gian dài, dẫn đến chức năng hàng rào niêm mạc dạ dày bị suy yếu, giảm tiết axit dịch vị, vi khuẩn dễ sinh sôi, dễ gây tổn thương viêm niêm mạc dạ dày. . Trong suy thận mạn tính, urê được bài tiết nhiều hơn qua đường tiêu hóa, còn amoni cacbonat và amoniac được tạo ra thông qua hoạt động của vi khuẩn hoặc men thủy phân đường ruột, gây tổn thương kích ứng niêm mạc dạ dày, dẫn đến xung huyết, phù nề và thậm chí xói mòn niêm mạc dạ dày. niêm mạc dạ dày.
7/ Trào ngược mật hoặc dịch tá tràng: Trào ngược mật là nguyên nhân quan trọng gây viêm dạ dày mạn tính nếu được phát hiện hoặc xác nhận bằng nội soi dạ dày bằng sợi quang. Do rối loạn chức năng cơ thắt môn vị hoặc dịch tá tràng hoặc mật có thể trào ngược vào dạ dày sau khi phẫu thuật dạ dày và làm tổn thương hàng rào niêm mạc dạ dày, thúc đẩy H+ và pepsin khuếch tán ngược vào niêm mạc, gây ra hàng loạt phản ứng bệnh lý, dẫn đến viêm dạ dày mạn tính. .
8/ Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori (HP): Năm 1983, hai học giả người Úc Marshall và Warren lần đầu tiên phân lập được vi khuẩn HP từ lớp chất nhầy hang vị dạ dày và tế bào biểu mô của bệnh nhân viêm dạ dày mạn tính. Kể từ đó, nhiều học giả đã tiến hành một số lượng lớn các nghiên cứu thực nghiệm trên bệnh nhân viêm dạ dày mạn tính, HP được nuôi cấy trong niêm mạc dạ dày của 60% đến 90% bệnh nhân viêm dạ dày mạn tính, sau đó phát hiện ra rằng mức độ nhiễm HP có mối tương quan thuận với nhau. với mức độ viêm của niêm mạc dạ dày. Vì vậy, năm 1986, tại cuộc họp lần thứ tám của Hội tiêu hóa thế giới, người ta đã đề xuất nhiễm HP là một trong những nguyên nhân quan trọng gây viêm dạ dày mạn tính. Cơ chế gây bệnh của HP có thể chủ yếu là phá hủy hàng rào niêm mạc dạ dày, làm H+ khuếch tán ngược lại và cuối cùng gây viêm niêm mạc dạ dày.
9/ Yếu tố tâm lý: Do vệ sinh tinh thần không lành mạnh, tinh thần căng thẳng, lo lắng hoặc trầm cảm kéo dài có thể gây mất cân bằng chức năng của các dây thần kinh giao cảm và phó giao cảm trên toàn cơ thể. Đặc biệt khi thần kinh giao cảm ở trạng thái hưng phấn lâu ngày cũng sẽ dẫn đến chức năng vận mạch niêm mạc dạ dày bị rối loạn, dẫn đến lưu lượng máu đến niêm mạc dạ dày giảm, phá hủy chức năng hàng rào niêm mạc dạ dày, hình thành phản ứng viêm mạn tính. của niêm mạc dạ dày theo thời gian.
Mối quan hệ giữa hút thuốc và viêm dạ dày bề mặt mạn tính là gì?
Thành phần gây hại chính của thuốc lá là nicotin, tác hại của nó đối với hệ hô hấp thì ai cũng biết, nhưng tác hại của việc hút thuốc đối với đường tiêu hóa và dạ dày thì còn lâu mới được quan tâm. Vậy hút thuốc lá và viêm dạ dày bề mặt mạn tính có mối quan hệ như thế nào?Đã có báo cáo cho thấy tỷ lệ mắc bệnh viêm dạ dày có mối tương quan thuận với số lượng thuốc hút và số năm hút thuốc, tức là càng hút nhiều thuốc và số năm hút thuốc càng lâu thì số năm càng dài. tỷ lệ viêm dạ dày cao hơn. Và Eward phát hiện ra rằng 40% những người hút hơn 20 điếu thuốc mỗi ngày có thể bị viêm niêm mạc dạ dày. Cơ chế gây viêm dạ dày bề mặt mạn tính do hút thuốc lá là:
1/ Nicotine có thể co thắt và co thắt mạch máu dưới niêm mạc dạ dày, gây thiếu máu cục bộ và thiếu oxy cho niêm mạc, giảm lưu lượng máu đến niêm mạc dạ dày là một trong những yếu tố quan trọng phá hủy tính toàn vẹn của niêm mạc dạ dày.
2/ Nicotin làm giãn cơ vòng môn vị gây rối loạn chức năng vận động và trào ngược dịch mật. Dịch mật trào ngược vào dạ dày có thể làm tổn thương hàng rào niêm mạc dạ dày, gây xói mòn và viêm niêm mạc.
3/ Hút thuốc cũng có thể làm tăng nhu động dạ dày và tiết axit dạ dày, trên cơ sở tổn thương hàng rào niêm mạc dạ dày, axit dạ dày làm tổn thương niêm mạc dạ dày nặng hơn.
4/ Một nghiên cứu gần đây cho thấy hút thuốc có thể ức chế quá trình tổng hợp prostaglandin ở niêm mạc dạ dày. Prostaglandin có thể cải thiện vi tuần hoàn của niêm mạc dạ dày, tăng lưu lượng máu của mô biểu mô niêm mạc dạ dày, giúp bảo vệ sự toàn vẹn của tế bào, thúc đẩy quá trình loại bỏ độc tố, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sửa chữa niêm mạc bị tổn thương và ức chế tiết axit dạ dày. Khi quá trình tổng hợp prostaglandin giảm, các yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày bị suy yếu, dễ làm tổn thương hàng rào niêm mạc dạ dày và gây viêm dạ dày.
Qua những điều trên có thể thấy, hút thuốc lá có thể dẫn đến xuất hiện bệnh viêm dạ dày nông mạn tính, vì vậy bệnh nhân viêm dạ dày nông mạn tính nên tích cực bỏ thuốc lá để bệnh viêm dạ dày mạn tính mau lành và bảo vệ sức khỏe của mình.
Uống rượu có thể gây viêm dạ dày bề mặt mạn tính?
Rượu có thể làm tổn thương niêm mạc dạ dày, do đó người nghiện rượu lâu ngày có thể làm tổn thương niêm mạc dạ dày, gây viêm dạ dày nông mạn tính. Beaumont lần đầu tiên quan sát thấy rằng rượu có thể gây đỏ bừng niêm mạc dạ dày ở bệnh nhân viêm dạ dày. Và Wood cũng quan sát thấy 51 trường hợp nghiện rượu bị viêm dạ dày bề mặt mạn tính bằng sinh thiết mù. Cơ chế gây tổn thương niêm mạc dạ dày của rượu như sau:
1/ Rượu trực tiếp làm tổn thương niêm mạc dạ dày.
2/ Rượu kích thích thành tế bào và thúc đẩy tiết axit dạ dày.
3/ Kích thích giải phóng gastrin làm tăng tiết axit dịch vị.
4/ Tác động trực tiếp lên cơ thắt môn vị, làm cho chức năng đóng mở của môn vị kém dẫn đến trào ngược dịch mật.
Trong những năm gần đây, với sự cải thiện mức sống, sự gia tăng tương đối của việc uống rượu cũng làm tăng viêm dạ dày do rượu kích thích. Vì vậy, để phòng ngừa bệnh viêm dạ dày nông mạn tính phát sinh, uống rượu phải vừa phải, không được uống khi bụng đói, bệnh nhân đã mắc bệnh viêm dạ dày nông mạn tính nên cố gắng kiêng rượu.
Mối quan hệ giữa Helicobacter pylori (HP) và viêm dạ dày bề mặt mạn tính là gì?
Helicobacter pylori (HP) là một vi khuẩn Helicobacter gram âm, ưa khí, catalase dương tính, có hoạt tính urease, sống chủ yếu trên niêm mạc hang vị và thân dạ dày, hiếm khi tìm thấy trên niêm mạc tâm vị. Năm 1983, các học giả người Úc Narren và Mars-hall lần đầu tiên phân lập được Helicobacter pylori trong mô sinh thiết niêm mạc dạ dày của con người và tin rằng vi khuẩn này có thể là vi khuẩn gây bệnh viêm dạ dày mạn tính và loét dạ dày tá tràng. Từ đó, người ta bắt đầu có hàng loạt nghiên cứu về mối liên quan giữa HP và bệnh viêm dạ dày mạn tính, và hiện nay có rất nhiều bằng chứng ủng hộ HP là mầm bệnh của bệnh viêm dạ dày mạn tính:
1/ Tỷ lệ phát hiện HP ở bệnh nhân viêm dạ dày mạn tính rất cao (50%-80%), trong khi ở niêm mạc dạ dày bình thường rất ít phát hiện (0-6%), và tỷ lệ này cao hơn ở bệnh nhân viêm dạ dày mạn tính hoạt động. (lên đến 90%).
2/ Kháng thể kháng HP trong huyết thanh của bệnh nhân viêm dạ dày mạn tính, đặc biệt là những người bị viêm dạ dày mạn tính hoạt động, tăng đáng kể và có thể phát hiện thấy globulin miễn dịch kháng HP trong dịch vị của họ.
3/ Số lượng HP trên niêm mạc dạ dày tỷ lệ thuận với sự xâm nhập của bạch cầu đa nhân, và lượng nhiễm HP có tương quan thuận đáng kể với mức độ nghiêm trọng và hoạt động của viêm dạ dày, tổn thương biểu mô dạ dày và mức độ của nó, và vị trí xảy ra. HP bám dính nhiều hơn, Thoái hóa tế bào biểu mô, cạn kiệt các hạt mucin nội bào, giảm tế bào chất và tăng tỷ lệ nhân tế bào chất.
4/ Sau khi điều trị kháng HP, tình trạng viêm mô niêm mạc dạ dày được cải thiện đáng kể sau khi loại bỏ HP và tình trạng viêm tái phát ở những người bị nhiễm tái phát.
5/ Các triệu chứng và biến đổi bệnh lý của bệnh viêm dạ dày do uống hỗn dịch HP cho người tình nguyện.
6/ Đã chuẩn bị thành công mô hình động vật gây viêm dạ dày HP, gây nhiễm nhân tạo HP (lợn sữa Gnotobiotic, khỉ Rhesus) thành công, HP có thể định cư trong dạ dày và có thể gây viêm dạ dày mạn tính.
7/ Trong viêm dạ dày tự miễn, viêm dạ dày lympho bào, viêm dạ dày trào ngược dịch mật sau mổ tỷ lệ phát hiện HP rất thấp, điều này cho thấy HP không phải là nhiễm trùng thứ phát của viêm dạ dày.
Tóm lại, HP có thể là mầm bệnh viêm dạ dày, ít nhất là một trong những nguyên nhân gây viêm dạ dày mạn tính. Cơ chế gây bệnh của HP vẫn chưa được làm rõ hoàn toàn và nó có thể liên quan đến các yếu tố sau: ① HP trực tiếp xâm nhập tế bào ký chủ niêm mạc dạ dày và gây tổn thương mô tại chỗ; ② HP có thể sản xuất nhiều loại enzyme và chất chuyển hóa khác nhau, chẳng hạn như urease và các sản phẩm của nó Enzyme phân giải amoniac và superoxide, enzyme phân giải protein, phospholipase A2 và C, v.v., có thể làm tổn thương niêm mạc dạ dày và gây ra các tổn thương viêm nhiễm; ③HP thúc đẩy tiết gastrin, dẫn đến tình trạng axit dạ dày cao, gây tổn thương niêm mạc dạ dày; ④ Nhiễm trùng HP có thể cũng được gây ra bởi miễn dịch Phản ứng gây ra tổn thương mô.
Các biểu hiện lâm sàng của viêm dạ dày nông mạn tính là gì?
Các biểu hiện lâm sàng của viêm dạ dày bề mặt mạn tính thiếu tính đặc hiệu. Các bệnh nhân khác nhau có các biểu hiện lâm sàng khác nhau, một số bệnh nhân có thể không có triệu chứng, đặc điểm, đa số bệnh nhân có thể đau thượng vị, ăn no, chán ăn, ợ hơi. Các biểu hiện lâm sàng có thể có của bệnh này được tóm tắt ở đây.
1/ Triệu chứng thường gặp nhất là đau vùng thượng vị chiếm khoảng 85%. Hầu hết các cơn đau bụng trên ở bệnh nhân viêm dạ dày bề mặt mạn tính là không thường xuyên và không liên quan gì đến chế độ ăn uống (một số bệnh nhân cảm thấy thoải mái khi bụng đói và cảm thấy khó chịu sau bữa ăn). Các triệu chứng thường trầm trọng hơn khi ăn thức ăn lạnh, thức ăn cứng, cay hoặc thức ăn gây kích thích khác, và một số ít có liên quan đến biến đổi khí hậu. Cơn đau vùng thượng vị này không dễ thuyên giảm bằng thuốc chống co thắt và thuốc kháng axit.
2/ Bụng trướng chiếm 70%. Thường do ứ đọng dạ dày, chậm tiêu, khó tiêu.
3/ Ợ hơi, có khoảng 50% bệnh nhân xuất hiện triệu chứng này, khí trong dạ dày tăng lên thông qua thực quản thải ra ngoài, có tác dụng tạm thời làm giảm đầy bụng trên.
4/ Chảy máu nhiều lần cũng là một biểu hiện phổ biến của viêm dạ dày bề mặt mạn tính. Nguyên nhân của chảy máu là một sự thay đổi viêm cấp tính của niêm mạc dạ dày phức tạp do viêm dạ dày bề mặt mạn tính.
5/ Các chứng trạng khác như: Chán ăn, trào ngược axit, buồn nôn và nôn, mệt mỏi, táo bón hoặc tiêu chảy, v.v.
6/ Viêm dạ dày bề mặt mạn tính không có dấu hiệu tích cực điển hình. Có thể có cảm giác đau vùng thượng vị khi khám thực thể, và một số ít bệnh nhân có thể bị sụt cân và thiếu máu.
Tại sao viêm dạ dày nông mạn tính gây buồn nôn và nôn?
Bệnh nhân viêm dạ dày nông mạn tính thường có cảm giác buồn nôn và nôn, nguyên nhân chủ yếu là do khi viêm nhiễm lan đến vùng lân cận của ống môn vị dạ dày, có thể gây rối loạn chức năng của ống môn vị, khi các sóng nhu động của dạ dày đẩy thức ăn xuống môn vị, ống môn vị sẽ bị đẩy ra ngoài. không mở để thức ăn đi qua, đến tá tràng nhưng vẫn bịt kín làm tăng áp lực trong hang vị, kích thích theo phản xạ trung tâm nôn, làm cho người bệnh có cảm giác buồn nôn, trường hợp nặng thì nôn. Ngoài ra, thường có một số bệnh nhân bị viêm dạ dày nông mạn tính kết hợp với viêm họng mạn tính, viêm thực quản mạn tính, các dây thần kinh ngoại biên ở các bộ phận này rất dồi dào, dễ bị kích thích gây cảm giác buồn nôn. Buồn nôn và nôn do viêm dạ dày bề mặt mạn tính có thể được điều trị bằng metoclopramide đường uống, modinline, cisapride và các loại thuốc khác.
Đau thượng vị có phải do viêm dạ dày bề mặt không?
Viêm dạ dày bề mặt mạn tính thường có biểu hiện lâm sàng chủ yếu là đau bụng trên nhưng thiếu tính đặc hiệu, vì vậy chẩn đoán viêm dạ dày bề mặt mạn tính không nên chỉ dựa vào các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng mà phải được xác định bằng nội soi dạ dày và sinh thiết mô. Trên thực tế, nhiều bệnh lâm sàng có thể gây đau bụng trên và viêm dạ dày nông mạn tính nên được phân biệt với các bệnh sau:
1/ Loét dạ dày, tá tràng: Đau vùng thượng vị có tính thời vụ, nhịp điệu, chu kỳ nhất định, cơn đau thường liên quan đến ăn uống. Đau do loét dạ dày chủ yếu xảy ra nửa giờ sau bữa ăn và giảm dần sau 1 đến 2 giờ. Đau khi đói và giảm sau khi ăn phần lớn là viêm loét tá tràng, thường kèm theo trào ngược axit, ợ hơi và các triệu chứng khó tiêu khác.
2/ Ung thư dạ dày: Đau bụng không đều và dai dẳng theo tiến triển của bệnh, khó thuyên giảm. Đồng thời, bệnh nhân có thể gặp phải các triệu chứng như chán ăn, sụt cân, thiếu máu, nôn mửa, đi ngoài phân đen, khối u ở bụng, thậm chí là loạn sản. Tuổi khởi phát là hơn 40 tuổi.
3/ Bệnh tuyến tụy: Viêm tuyến tụy mạn tính có thể có đau âm ỉ hoặc âm ỉ ở vùng bụng trên, có khi lan xuống eo lưng , hoặc đau dữ dội khởi phát cấp tính, theo tiến triển của bệnh, cơn đau bụng có thể tăng dần, ngoài ra viêm tuỵ mạn tính còn có thể có các biểu hiện như rối loạn chức năng tiêu hóa, phân có dầu mỡ, tiểu đường là biểu hiện khác của chức năng nội tiết trong ngoài bị suy giảm. Đau bụng trong ung thư tuyến tụy là cơn đau quặn từng cơn hoặc dai dẳng, tăng dần hoặc đau âm ỉ ở vùng bụng trên, quanh rốn hoặc bụng trên bên phải, chủ yếu lan xuống eo lưng, khi nằm hoặc cúi người về phía trước thì cơn đau giảm đi. Vàng da phổ biến hơn trong ung thư đầu tụy, và cũng có thể có hốc hác, cổ trướng và viêm tĩnh mạch huyết khối. Siêu âm B, chụp mật tụy ngược dòng và chụp CT có thể xác nhận chẩn đoán.
4/ Bệnh gan: Đau bụng do viêm gan có thể là đau âm ỉ, đau như dao đâm, đau tức ở hạ sườn phải hoặc hạ sườn phải, phần lớn là đau từng cơn. Cơn đau không có quan hệ rõ ràng với ăn uống, dễ dàng xuất hiện sau khi mệt mỏi, sờ thấy bụng có gan to, đau. Cơn đau do ung thư gan thường tăng dần, lúc đầu ngắt quãng, sau đó kéo dài dai dẳng. Áp xe gan thường có biểu hiện đau căng chướng dai dẳng, có thể giới hạn ở một bộ phận nào đó, có điểm đau rõ, có thể kèm theo các triệu chứng toàn thân như sốt, tăng bạch cầu. Kiểm tra siêu âm B và sinh thiết gan có thể xác nhận chẩn đoán.
5/ Rối loạn đường mật: Bệnh nhân viêm túi mật và sỏi mật thường có biểu hiện đau bụng trên bên phải mạn tính hoặc đau chướng, ợ hơi… sau khi ăn nhiều dầu mỡ gây ra hoặc nặng thêm, một số bệnh nhân có cảm giác đau khu trú hoặc sờ thấy vùng túi mật. .Túi mật to, hay vàng da. Siêu âm B và chụp đường mật có thể giúp ích cho chẩn đoán.
6/ Các bệnh khác: Trong giai đoạn đầu của viêm ruột thừa cấp tính, có thể đau bụng trên, vài giờ sau chuyển thành đau bụng dưới bên phải. Cơn đau thắt ngực không điển hình và nhồi máu cơ tim đôi khi có thể gây đau vùng thượng vị ở người cao tuổi dễ chẩn đoán nhầm.
Từ những điều trên có thể thấy rằng đau vùng thượng vị có thể xuất hiện trong nhiều quá trình bệnh, vì vậy viêm dạ dày bề ngoài không được chẩn đoán mù quáng dựa trên cơn đau vùng thượng vị.
Chẩn đoán xác định chỉ có thể được thực hiện sau khi phân tích toàn diện các triệu chứng và kiểm tra phụ trợ liên quan để không trì hoãn việc điều trị.
Hình ảnh nội soi dạ dày của viêm dạ dày bề mặt mạn tính là gì?
Nội soi dạ dày là phương pháp chẩn đoán quan trọng và đáng tin cậy nhất đối với viêm dạ dày bề mặt mạn tính. Bề ngoài dạ dày của nó có những điểm sau:
1/ Ban đỏ sung huyết: Là biểu hiện chủ yếu của viêm dạ dày bề mặt mạn tính, do xung huyết các mao mạch trên bề mặt niêm mạc dạ dày. Các màng nhầy bị tắc nghẽn và không bị tắc nghẽn đan xen và xuất hiện lốm đốm hoặc sọc, và sung huyết sọc thường được tìm thấy ở các nếp gấp và chỗ nâng lên. Rìa của ban đỏ không rõ ràng nhưng có thể dễ dàng phân biệt với màu đỏ cam của niêm mạc dạ dày bình thường xung quanh. Hồng ban sung huyết phần lớn phân bố hạn chế, nhưng cũng có những ban phân bố lan tỏa.
2/ Phù nề: Niêm mạc dạ dày sưng và ẩm, tăng phản xạ ánh sáng, nếp gấp niêm mạc dày và mềm, hố nhỏ dạ dày rõ ràng.
3/ Màu đỏ và trắng xen kẽ: Khi ban đỏ sung huyết và phù nề niêm mạc giao nhau, có thể xuất hiện màu đỏ và trắng, nhưng màng nhầy ở phần trắng hơi nhô lên và màu đỏ sung huyết là màu chủ đạo.
4/ Tăng chất nhầy: các đốm nhầy màu trắng ngà hoặc vàng nhạt dính bám trên bề mặt niêm mạc dạ dày, chủ yếu bao gồm các mô niêm mạc bị tổn thương, dịch tiết viêm và chất nhầy, không dễ bị nước rửa trôi, chỉ có các đốm nhầy. xuất hiện khi tình trạng viêm rõ ràng .
5/ Xuất huyết dưới niêm mạc: Xuất huyết ở niêm mạc dạ dày có thể xuất hiện lốm đốm, loang lổ hoặc hình sợi dây, có thể là vết chảy máu tươi màu đỏ tươi hoặc vết chảy máu cũ màu nâu.
6/ Xói mòn: lớp niêm mạc dạ dày bị viêm tróc ra, tạo thành những vùng xói mòn cục bộ hoặc diện rộng, bề mặt xói mòn thường được bao phủ bởi những đốm nhầy dính.
Dưới nội soi, viêm dạ dày bề mặt mạn tính có thể được chia thành ba loại: ① Loại đơn thuần; ② Loại xuất huyết; ③ Loại ăn mòn. Những người có bốn mục đầu tiên ở trên là loại đơn giản; những người có mục thứ năm ở trên, được bao phủ bởi các mảng chảy máu nhỏ hoặc lan tỏa là loại xuất huyết; những người có mục thứ sáu ở trên là loại ăn mòn.
Sự hiểu biết về viêm dạ dày bề mặt mạn tính trong y học Trung Quốc là gì?
Trung y không có tên bệnh viêm dạ dày bề mặt mạn tính, nhưng các mô tả tương tự như viêm dạ dày bề mặt mạn tính nằm rải rác trong các tài liệu của các triều đại khác nhau như “Vị quản thống” (胃脘痛) đau vùng thượng vị, “Phúc trướng” (腹胀) trướng bụng, “Tào tạp” (嘈杂)nôn nao , “Bĩ mãn” (痞满) bĩ đầy, “Ẩu thổ” (呕吐) nôn mửa. và nhiều thứ khác Trong các chương, chẳng hạn như {Linh khu · Tà khí tạng phủ bệnh hình} nói: “Vị bệnh giả, phúc trướng, vị quản đương tâm nhi thống” (胃病者,腹胀,胃脘当心而痛), Người bị bệnh dạ dày, đầy bụng, đau vùng thượng vị. {Tố vấn Kinh mạch thiên} viết “Thực tắc ẩu, vị quản thống, phúc trướng, thiện ý” (食则呕,胃脘痛,腹胀,善噫) Ăn vào thì nôn mửa, đau dạ dày, bụng trướng, hay ợ hơi, “Vị trướng giả phúc mãn, vị quản thống, tỵ văn tiêu xú, phương vu thực, đại tiện nan” (胃胀者腹满,胃脘痛,鼻闻焦臭,妨于食,大便难) Dạ dày trướng đầy bụng, đau dạ dày, mũi ngửi mùi hôi khét, khó ăn, đsị tiện khó khăn. Trương Cảnh Nhạc viết: “Cố phàm bệnh thôn toan giả, đa kiến ẩm thực bất khoái, tự thực hữu bất khoái, tất tiệm chí trung mãn, bĩ cách, tiết tả đẳng chứng” (故凡病吞酸者,多见饮食不快,自食有不快,必渐至中满、痞膈、泄泻等症) Phàm bị bệnh nuốt chua, thường thấy ăn uống không ngon, tự ăn uống không vui, tất sẽ xuất hiện các chứng như đầy bụng, bế tắc, tiết tả… Tra cứu y văn, xem xét nguồn gốc, không khó để thấy rằng các y gia của các thời đại trước đây đều cho rằng đối với bệnh viêm dạ dày bề mặt mạn tính có liên quan với các phương diện như ăn uống không tiết độ, tinh thần căng thẳng, cảm thụ lục dâm và tỳ vị hư nhược. Như {Tố vấn · Tí luận} viết: “Ẩm thực tự bội, vị tràng nãi thương” (饮食自倍,肠胃乃伤) ăn uống nhiều quá, tổn thương vị tràng. {Tạp bệnh quảng yếu Hung tí tâm thống} “Ẩm thực quá đa, bất năng khắc hoá, thương hồ vị quản, bệnh căn thường tại, lược thương ẩm thực tức muộn muộn tác thống” (饮食过多,不能克化,伤乎胃脘,病根常在,略伤饮食即闷闷作痛。) Ăn uống quá nhiều, không thể tiêu hoá nên tổn thương dạ dày, gốc bệnh thường xuyên ở đó, ăn một chút là là phiền muộn gây đau. {Thọ Thế Bảo Nguyên · Tâm Vị Thống} “Vị quản thống giả, đa thị túng tứ khẩu phúc, hỉ hảo tân lạt, tứ ẩm nhiệt tửu tiễn, phục thực hàn lương sinh lãnh, triêu thương mộ tổn, nhật tíc nguyệt thâm, tự uất thành tích; Tự tích thành đàm, đàm hoả tiễn ngao, huyết diệc vọng hành, đàm huyết tương tạp, phương ngại thăng giáng, cố vị quản đông thống.” (胃脘痛者,多是纵恣口腹,喜好辛辣,恣饮热酒煎,复食寒凉生冷,朝伤暮损,日积月深,自郁成积;自积成痰,痰火煎熬,血亦妄行,痰血相杂,妨碍升降,故胃脘疼痛。)Bệnh đau dạ dày thường do miệng bụng phóng túng, thích thực phẩm cay, uống rượu nóng, lại ăn thực phẩm sống lạnh, sáng chiều tổn thương, tích luỹ theo ngày tháng, tự uất thành tích, tực tích lại thành đàm, đàm hoả nung nấu, huyết cũng bị ảnh hưởng, đàm huyết lẫn vào nhau, trở ngại thăng giáng nên dạ dày bị đau. {Tố vấn · Lục Nguyên Chính Ký Đại Luận}viết: “Mộc uất chi phát, dân bệnh vị quản đương tâm nhi thống, thượng chi lưỡng hiếp, cách yết bất thông, ẩm thực bất hạ.” (木郁之发,民病胃脘当心而痛,上支两胁,膈咽不通,食饮不下。) Chứng mộc uất phát tác, người bệnh đau ở dạ dày, cơ hoành và cổ họng không thông, ăn uống không được.
Trung y nhận thức như thế nào về nguyên nhân và cơ chế bệnh của chứng viêm dạ dày bề mặt (thiển biểu) mạn tính?
Viêm dạ dày bề mặt mạn tính có nhiều nguyên nhân gây bệnh, cơ chế bệnh rất phức tạp, trong đó nguyên nhân và cơ chế bệnh có các điểm sau:
1/ Ăn uống không điều độ: Tỳ vị đều là căn bản của hậu thiên, có nhiệm vụ tiếp nhận, phân giải nước và ngũ cốc, vận chuyển chất tinh vi của thuỷ cốc. Vì vậy, ăn uống không đúng cách, mất điều độ dễ làm tổn thương tỳ vị. Ăn quá nhiều thì đói no không đều, nghẽn tắc đình trệ tỳ vị; Hoặc ăn quá nhiều thực phẩm sống lạnh, hàn lãnh tích tụ trong dạ dày, tổn thương dương của trung tiêu, khí huyết bị ngưng trệ; Hoặc ăn quá nhiều thực phẩm béo ngọt, rượu mạnh, sữa đặc, tạo thành thấp nhiệt gây trở ngại đều có thể khiến tỳ vị thụ nạp chuyển hoá thăng giáng thất thường, từ đó phát tác các chứng như đau dạ dày, trướng bụng, ẩu thổ. Như {Tố vấn Tí luận}: “Ẩm thực tự bội, tràng vị nãi thương” (饮食自倍,肠胃乃伤。) Ăn quá nhiều thì tổn hại vị tràng, hoặc ăn nhiều thực phẩm sống lạnh, hoặc thực phẩm cay nóng, rượu mạnh, hoặc người hư yếu ăn quá nhiều nên không thể tiêu hoá; Sau khi ăn uống không điều hoà cộng thêm lao lực, đều là những nguyên nhân gây tổn hại dạ dày.
2/ Thất tình không điều hoà: Cảm xúc quá độ, kéo dài quá lâu, đều có thể dẫn đến âm dương mất thăng bằng, khí huyết bất hoà, công năng tạng phủ rối loạn. Ưu tư buồn giận, tình chí không thông sướng, can uất khí trệ, hoành nghịch xâm phạm vị (dạ dày), khí huyết nghẽn tắc không lưu thông, xuất hiện chứng can vị bất hoà. Can khí uất trệ lâu ngày, hoá thành hoả, hoả ảnh hưởng đến âm của vị, có thể xuất hiện vị quản đau rát âm ỉ, miệng họng khô, phân khô là những chứng trạng của vị âm không đầy đủ; Vì khí huyết luôn nương tựa nhau, khí trệ lâu ngày sẽ sản sinh huyết ứ, nghẹt tắc lạc mạch, có thể xuất hiện chứng đau dạ dày do ứ huyết, đồng thời có thể thổ ra máu, đại tiện ra máu. Như trong {Lâm chứng chỉ nam y án ·Vị quản thống}: “Túc bệnh trung khí vị thống, kim bão thực động nộ thống phát, ẩu huyết, thị can mộc xâm phạm vị thổ, trọc khí thượng cứ, trướng thống bất hưu, nghịch loạn bất dĩ——phu thống tắc bất thông.” (宿病中气胃痛,今饱食动怒痛发、呕血,是肝木侵犯胃土,浊气上踞,胀痛不休,逆乱不已……夫痛则不通。) Đau dạ dày là bệnh đã lâu (cũ), nay ăn no lại tức giận mà phát đau, nôn ra máu, là can mộc xâm phạm vị thổ, trọc khí chiếm cứ, đau trướng không ngừng, nghịch loạn không thôi—–mà đau vì không thông.
3/ Lục nhân (sáu nguyên nhân gây bệnh): Phong, hàn, thử, thấp, táo, hoả đều có thể xâm phạm tỳ vị, tổn thương đến công năng mà phát bệnh này, nhất là 3 nguyên nhân gồm: Hàn, thấp và táo (Lạnh, ẩm thấp và khô táo). Khi cảm thụ hàn tà (bị lạnh) hoặc ăn thực phẩm sống lạnh, có thể hàn tà xâm phạm dạ dày, dương của trung tiêu không phấn chấn mà xuất hiện các chứng trạng như đau dạ dày, thích ấm áp, lợm giọng nôn mửa, như trong {Tố vấn Cử thống luận}: “Hàn khí khách vu vị tràng, quyết nghịch thượng xuất, cố thống nhi ẩu dã.” (寒气客于胃肠,厥逆上出,故痛而呕也) Khí lạnh xâm phạm dạ dày và ruột, nghịch lên trên mà xuất ra ngoài, vì thế nên đau và ẩu thổ; Tính của thấp tà dính và nhầy, làm cho tỳ vị bị đình trệ, nghẽn tắc khí nên có thể xuất hiện trướng bụng, bĩ đầy; Táo tà xâm nhập, thiêu đốt âm chua dạ dày, có thể xuất hiện dạ dày đau âm ỉ, miệng khô, táo bón là những chứng trạng của dạ dày nóng và âm hư tổn.
4/ Tỳ vị hư nhược: Tố chất tỳ vị hư nhược, hoặc nội thương do mệt nhọc, hoặc người giafthaan thể bạc nhược, trung khí hư tổn đã lâu; Hoặc no đói thất thường, hoặc ăn thực phẩm sống lạnh và cứng, hoặc ăn nhiều thực phẩm béo ngọt không tiết độ, hoặc khi bị bệnh dùng thuốc hàn lương để khắc phạt bệnh, tổn háo nặng nề khí của tỳ vị; Hoặc sau khi bệnh vị khí chưa hồi phục, đều có thể dẫn đến các chứng trạng như chán ăn, tỳ vị suy yếu, đau dạ dày, khó thở bĩ đầy, ăn ít, yếu sức.
Các loại thành dược dùng điều trị chứng viêm bề mặt dạ dày mạn tính gồm có những loại nào?
Biểu hiện lâm sàng chủ yếu của bệnh này là vị quản đầy trướng phiền muộn, đau hoặc lợm giọng, ẩu thổ, ợ hơi, nôn nao, miệng ứa nước chua, phàm các loại thành dược (thuốc chế sẵn) mà có các công năng như kiện tỳ, hoà vị, hành khí, tiêu bĩ (bế tắc), giải uất, trừ đầy bụng , thì đều có thể sử dụng điều trị bệnh viêm dạ dày bề mặt mạn tính; Hiện nay trên lâm sàng điều trị bệnh này thường dùng các loại sau:
1/ Bảo hoà hoàn
Thành phần: Thần khúc, Sơn tra, pháp Bán hạ, Trần bì, Liên kiều, Lai bặc tử.
Công năng: Tiêu thực tích, trừ thực trệ, hoà vị kiện tỳ.
Chủ trị: Thực phẩm đình trệ trong dạ dày khiến không ăn được, bụng trướng, ợ chua, ợ hơi.
2/ Việt cúc hoàn
Thành phần: Hương phụ, Xuyên khung, Chi tử, Thương truật, Thần khúc.
Công năng: Lý khí khoan trung, giải uất tiêu trướng.
Chủ trị: Ngực dạ dày bế tắc phiền muộn, phúc trung trướng mãn, ợ hơi nuốt chua.
3/Hương sa lục quân hoàn
Thành phần: Mộc hương, Sa nhân, Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Cam thảo, Bán hạ, Trần bì.
Công năng: Kiện tỳ hoà vị, Lý khí chỉ thống..
Chủ trị: Hung quản trướng muộn, ẩu thổ tiết tả.
4/ Hương sa dưỡng vị hoàn
Thành phần: Sa nhân, Mộc hương, Bạch truật, Phục linh, Chỉ thực, Đạu khấu nhân, Hậu phác, Hương phụ, Trần bì, Bán hạ, Cam thảo, Thổ Hoắc hương.
Công năng: Kiện tỳ hoà vị, lý khí tiêu trệ.
Chủ trị: Ăn kém, yếu sức, đau dạ dày, trướng bụng, ợ hơi, ợ chua.
5/ Thư can hoàn
Thành phần: Sài hồ, Hậu phác, Xuyên khung, Hương phụ, Chỉ xác, Trầm hương, Sa nhân, Mộc hương.
Công năng: Sơ can giải uất, hoà vị chỉ thống.
Chủ trị: Hai bên sườn đau trướng, bụng trướng, ợ hơi, lợm giọng.
6/ Khí trệ vị thống xung tễ
Thành phần: Sài hồ, Chỉ xác, Cam thảo, Hương phụ.
Công năng: Sơ can hành khí, hoà vị chỉ thống.
Chủ trị: Ngực bĩ trương do can uất khí trệ, đau dạ dày.
7/ Lương phụ hoàn
Thành phần: Cao lương khương, Hương phụ.
Công năng: Ôn trung khứ hàn, hành khí chỉ thống.
Chủ trị: Dạ dày và bụng đau lạnh do trung tiêu hư hàn, ,thích ấm nóng.
8/ Ôn vị thư giao nang
Thành phần: Đảng sâm, Bạch truật, Sơn tra, Hoàng kỳ, Nhục thung dung.
Công năng: Phù chính cố bản, ôn vị dưỡng vị, hành khí giảm đau, trợ dương noãn (ấm) thổ.
Chủ trị: Trị dạ dày viêm teo mạn tính, viêm dạ dày mạn tính dẫn đến đau lạnh ở dạ dày, trướng hơi, ợ hơi, ăn kém, ghét lạnh.
9/ Âm hư vị thống xung tễ
Thành phần: Bắc Sa sâm, Mạch đông, Xuyên luyện tử, Cam thảo
Công năng: Dưỡng âm ích vị, hoãn trung chỉ thống.
Chủ trị:Dùng cho vị âm không đầy đủ làm cho dạ đày đau rát âm ỉ, miệng lưỡi khô, chán ăn nôn khan.
10/ Dưỡng vị thư xung tễ
Thành phần: Đảng sâm, Hoàng tinh, Vân sâm, Ô mai, Bạch truật, Thố ti tử.
Công năng: Phù chính cố bản, tư âm dưỡng vị, điều lý trung tiêu, hành khí tiêu đạo.
Chủ trị: Viêm teo dạ dày mạn tính, viêm dạ dày mạn tính dẫn đến dạ dày nóng rát, lòng bàn tay bàn chân nóng, miệng khô đắng, ăn kém.
11/ Vị nãi an giao nang
Thành phần: Hoàng kỳ, Tam thất hợp thành Ngưu hoàng, trân châu tầng phấn..
Công năng: Bổ khí kiện tỳ, ninh tâm an thần, hành khí hoạt huyết, tiêu viêm sinh cơ.
Chủ trị: Loét dạ dày, hành tá tràng, viêm dạ dày mạn tính.
12/ Vị khang linh giao nang
Thành phần: Gồm 8 vị thuốc như Bạch thược, Cam thảo, Huyền hồ, Tam thất, Bạch cập, Phục linh, Hải phiêu tiêu, Điên gia tẩm cao.
Công năng: Nhu can hoà vị, tán ứ cầm máu, hoãn cấp chỉ thống, trừ hủ nát sinh ra cái mới.
Chủ trị: Viêm dạ dày mạn tính, loét dạ dày, xuất huyết dạ dày và loét hành tá tràng.
13/ Tam cửu vị thái
Thành phần: Tam nha khổ, Cửu lý hương, Bạch thược. Sinh địa, Mộc hương.
Công năng: Tiêu viêm giảm đau, lý khí kiện tỳ.
Chủ trị: Các loại viêm dạ dày mạn tính như Viêm bề mặt dạ dày, dạ dày viên lở loét, dạ dày viêm teo.
14/ Hầu cô khuẩn phiến
Thành phần: Hầu đầu khuẩn.
Công năng: Tiêu viêm giảm đau.
Chủ trị: Viêm dạ dày mạn, loét dạ dày, hành tá tràng, ung thư dạ dày, ưng thư thực đạo.
Ngoài ra, còn có các loại như Vị tô xung tễ, Thư can hoà vị hoàn, Mộc hương thuận khí hoàn, Bổ trung ích khí hoàn là những thành dược được sử dụng điều trị bệnh này, lâm sàng nên tuỳ chứng để tuyển chọn sử dụng.
Biện chứng luận trị viêm dạ dày bề mặt mạn tính được tiến hành như thế nào?
Viêm dạ dày nề mặt mạn tính có thể điều trị dựa trên biện chứng luận trị theo 7 thể: Thực phẩm ứ trệ trong dạ dày, can vị khí trệ, tỳ vị thấp nhiệt, tỳ vị hư nhược, tỳ vị hư hàn, vị nhiệt âm khuy, vị lạc ứ trở.
1/ Loại hình thực phẩm đình trệ trong dạ dày
Chủ chứng: Đau dạ dày, đầy bụng, ợ hơi hôi nuốt chua hoặc nôn ra thức ăn không tiêu, nôn xong hoặc thất khí (trung tiện) thì giảm đau, ăn ít, chán ăn, phân nặng mùi, đii tiện không sảng khoái, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng hoặc dày nhờn, mạch huyền sác có lực.
Trị pháp: Tiêu thực trừ tích trệ, hoà vị giáng nghịch.
Phương dược: Bảo hoà hoàn gia vị: Thần khúc, Sơn tra, Liên kiều, Tần bì, Phục linh, Bán hạ, Lai bặc tử, Hậu phác, Mạch nha.
2/ Loại hình can vị khí trệ
Chủ chứng: Dạ dày đầy trướng, vừa tấn vừa đỡ, nối liền với hai bên sườn, tức ngực và ợ hơi, hay thở dài, mỗi khi bực bội cáu giận thì cơn đau phát tác, ăn uống kém, nôn nao thổ chua, lợm giọng nôn mửa, chất lưỡi ảm đạm. Rêu lưỡi trắng mỏng, mạch huyền.
Trị pháp: Sơ can giải uất, lý khí hoà vị.
Phương dược: Sài hồ sơ can tán gia giảm: Sài hồ, Chỉ xác, Bạch thược, chế Hương phụ, Bồ công anh, Trần bì, Xuyên khung, Huyền hồ, Phật thủ, Cam Thảo.
3/ Loại hình tỳ vị thấp nhiệt
Chủ chứng: Dạ dầy đầy tức, ợ hơi buồn nôn, nôn nao ợ chua, miệng đắng dính, đầu nặng thân thể mỏi mệt, kém ăn kém ngủ, nước tiểu vàng đục, đại tiện không sảng khoái, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng dày hoặc vàng nhầy, mạch nhu sác hoặc hoạt sác.
Trị pháp: Thanh nhiệt lợi thấp, kiện tỳ hoà vị.
Phương dược: Thang Hoắc Phác hạ linh hợp thang Tam nhân gia giảm: Hoắc hương Bội lan Hậu phác Bán hạ Phục linh Rĩ nhân Khấu nhân Hoàng liên Tô cánh Hoạt thạch.
4/ Loại hình Tỳ vị hư nhược
Chủ chứng: Thượng vị đau âm ỉ, đầy trướng khó chịu, nhất là sau khi ăn, ăn ít, đói mà không thèm ăn, thường xuyên ợ hơi, sắc mặt vàng úa, mệt mỏi, phân lúc khô lúc lỏng, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng hoặc nhớt, mạch tế nhược vô lực.
Trị pháp: Kiện tỳ ích khí, điều hòa dạ dày, tiêu thực.
Phương dược: Thang Hương sa lục quân gia giảm: Đảng sâm Bạch truật Phục linh Trần bì Sa nhân Mộc hương Sơn tra Thần khúc Mạch nha Bán hạ Chích Cam thảo.
(5) Loại hình Tỳ vị hư hàn
Chủ chứng: Thượng vị đau âm ỉ, liên miên không ngừng, thích ấm áp và ấn nắn, ăn vào giảm đau, nôn ra nước trong, chán ăn, mệt mỏi, tay chân không nóng, phân lỏng, chất lưỡi nhạt, mạch tế nhược.
Trị pháp: Ôn trung kiện tỳ, ấm dạ dày trừ lạnh.
Phương dược: Thang Hoàng Kỳ Kiến Trung gia giảm: Hoàng kỳ, Quế chi, Thược dược, chích Cam thảo, Di đường, Can khương, Đại táo.
6/ Loại hình vị nhiệt âm khuy (hư yếu)
Chủ chứng: Dạ dày đau rát âm ỉ, khát nước nhiều uống nhiều, miệng họng khô, lòng bàn tay bàn chân nóng, sút cân, ăn ít, phân khô, lưỡi đỏ ít rêu, ít tân dịch, hoặc rêu lưỡi bị bong tróc, mạch tế sác hoặc tế huyền hoặc hư sác vô lực .
Trị pháp: Tư âm dưỡng vị, thanh nhiệt sinh tân (dich).
Phương dược: Thang Sa sâm mạch đông gia giảm: Sa sâm, Mạch đông, Thạch hộc, Hoa phấn, Sơn tra, Sinh địa, Bạch thược, Ô mai, Mạch nha, chích Cam thảo.
(7) Loại hình vị lạc (lạc mạch của dạ dày) bị nghẽn ứ.
Chủ chứng: Đau thượng vị, đau như kim châm, đau nhiều về ban đêm, điểm đau cố định và không thích ấn nắn, hoặc thổ huyết, phân đen, chất lưỡi tím sậm, có điểm ứ, ban ứ, mạch sáp (rít).
Trị pháp: Lý khí hoạt huyết, hoá ứ giảm đau.
Phương dượcĐan sâm ẩm hợp Thất tiếu tán gia giảm: Đan sâm, Đàn hương, Sa nhân, Bồ hoàng, Ngũ linh chi, Huyền hồ, Bạch thược, chích Cam thảo.
Chú thích
*Tào tạp là một tên bệnh của y học Trung quốc, là chỉ về trình trạng dạ dày trống rỗng, tựa như đói mà không đói, tựa như cay mà không cay, tựa như đau mà không phải là đau, không thể gọi tên, là một loại bệnh chứng lúc có lúc không. Vị trí bệnh ở dạ dày, tương quan với can và tỳ. Bệnh cơ có thể khái quát là dạ dày nóng, dạ dày hư yếu và huyết hư.
在儒家裡,七情指的是喜、怒、哀、懼、愛、惡、欲; 在佛家裡,指喜、怒、憂、懼、愛、憎、欲; 在中醫中則指喜、怒、憂、思、悲、恐、驚。
*Thất tình, theo nho gia, thất tình là chỉ về 7 loại cảm xúc gồm: Hỉ (vui), nộ (giận), ai (buồn), cụ (sợ hãi), ái (yêu), ố (ghét), dục (ham muốn).
Theo phật gia là chỉ về: Hỉ (vui mừng) , nộ (giận), Ưu (lo âu), cụ (sợ hãi), ái (yêu), tăng (ghét), dục (ham muốn)
Theo Trung y chỉ về: : Hỉ (vui mừng) , nộ (giận), Ưu (lo âu), tư (mong nhớ), bi (thương cảm), khủng ( hãi), kinh (sợ)
Ly Nguyễn Nghị dịch