UNG THƯ GAN .肝癌*.
Tài liệu tham khảo
Nguyên nhân gây ung thư gan là gì?
Cho đến nay, nguyên nhân của ung thư gan vẫn chưa rõ ràng; tuy nhiên, các yếu tố dưới đây được cho là có liên quan đến sự phát sinh bệnh:
1/ Mối quan hệ giữa bệnh gan và ung thư gan: Trong lâm sàng, người ta nhận thấy nhiều bệnh nhân ung thư gan từng có tiền sử viêm gan cấp → viêm gan mạn → xơ gan. Về mặt bệnh lý, khoảng 50–80% bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan (nguyên phát) có xơ gan kèm theo. Trong ung thư đường mật (tế bào biểu mô ống mật nội gan), khoảng 18,2–50% trường hợp cũng kèm xơ gan. Những con số này cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa hai bệnh lý: xơ gan có thể dẫn đến tăng sinh quá mức tế bào gan và phát triển thành ung thư gan. Đồng thời, kết quả xét nghiệm kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg) ở bệnh nhân ung thư gan cho thấy tỉ lệ dương tính lên đến 81,82%. Tuy nhiên, mối liên hệ chính xác giữa viêm gan B và ung thư gan vẫn cần nghiên cứu thêm. Dù vậy, có thể khẳng định rằng việc phòng ngừa viêm gan virus và xơ gan là rất quan trọng để giảm tần suất ung thư gan.
2/Nấm mốc (nấm sợi) và độc tố của chúng (aflatoxin): Nhiều thí nghiệm khoa học chứng tỏ rằng cho động vật ăn thực phẩm chứa nấm mốc hoặc độc tố của chúng (như aflatoxin) có thể gây ung thư gan ở động vật. Một số nhà khoa học cho rằng ở vùng Nam châu Phi có khí hậu ẩm ướt, thực phẩm dễ bị mốc; các vùng ít ẩm hơn, thực phẩm ít bị mốc hơn, nên tỉ lệ ung thư gan cũng thấp hơn. Những thực phẩm dễ mốc gồm: gạo, lúa mì, đậu tương, đậu phộng, bắp.
3/ Các yếu tố khác: Ăn quá nhiều thực phẩm chứa hợp chất nitrosamine; bệnh ký sinh trùng (chủ yếu là sán lá gan – Clonorchis sinensis).
Biện pháp phòng ngừa ung thư gan
Để phòng ung thư gan, cần bắt đầu từ những thói quen sinh hoạt hằng ngày. Nếu lưu ý các điểm sau, sẽ mang lại lợi ích đáng kể:
- Bảo quản tốt lương thực (gạo, bắp, đậu, lạc, v.v.), ngăn ẩm mốc. Tuyệt đối không ăn thực phẩm nghi đã nhiễm độc tố aflatoxin.
- Hạn chế ăn các thực phẩm chứa nhiều nitrosamine, như dưa chua, cá muối, dưa muối, xúc xích.
- Tránh nghiện rượu, uống rượu mạnh, rượu kém chất lượng để phòng tổn thương tế bào gan, gây ngộ độc mạn tính.
- Giữ vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng tránh viêm gan virus. Nếu mắc viêm gan virus, cần điều trị tích cực, nghỉ ngơi đúng cách để sớm hồi phục.
- Tích cực phòng ngừa xơ gan; duy trì tinh thần vui vẻ.
- Bổ sung nhiều rau củ quả tươi, cá, thịt, trứng…
Bệnh nhân xơ gan gặp tình trạng nào thì nên nghi ngờ ung thư gan?
Ung thư gan nguyên phát thường phát sinh trên nền xơ gan. Nếu có các biểu hiện sau, cần nghĩ đến khả năng ung thư gan kèm theo:
- Dù đã điều trị tích cực xơ gan, bệnh vẫn tiến triển nhanh và xấu đi rõ rệt.
- Gan phì đại tiến triển.
- Đau vùng gan (hạ sườn phải) mà không có nguyên nhân khác giải thích được.
- Xuất hiện cổ trướng dạng máu.
- Sốt không rõ nguyên nhân, kháng sinh không hiệu quả.
- Nồng độ alpha-fetoprotein (AFP) trong huyết thanh tăng cao liên tục hoặc dần dần.
- Kết quả siêu âm (hoặc xạ hình gan với dược chất phóng xạ) cho thấy tổn thương chiếm chỗ trong gan.
Ung thư gan nguyên phát
Ung thư gan nguyên phát (primary carcinoma of liver) là khối u ác tính xuất phát từ tế bào gan hoặc tế bào biểu mô ống mật trong gan, gọi tắt là ung thư gan. Tỉ lệ mắc bệnh khác nhau tùy quốc gia, vùng miền, khá phổ biến tại nhiều nước châu Á – châu Phi. Ở Trung Quốc, tần suất mắc cao, là một trong những khối u thường gặp, chủ yếu ở độ tuổi trung niên trở lên, nam nhiều hơn nữ. Những năm gần đây, Trung Quốc đạt nhiều tiến bộ trong phòng và điều trị ung thư gan; một số trường hợp khối u có đường kính dưới 1 cm (ung thư gan giai đoạn sớm, “gan nhỏ”) đã được phát hiện và điều trị khả quan. Kỹ thuật đo alpha-fetoprotein (AFP) hỗ trợ chẩn đoán ung thư gan với tỉ lệ dương tính trên 70%.
Thay đổi mô bệnh học
Dạng đại thể: Ung thư gan giai đoạn sớm hoặc “ung thư gan nhỏ” là khối u đường kính ≤3 cm, số lượng không quá 2 nốt. U thường có hình cầu hoặc múi, màu xám trắng, tương đối mềm, cắt ra không có hoại tử hay chảy máu, ranh giới với mô gan xung quanh rõ ràng. Ung thư gan giai đoạn muộn, gan phì đại rõ rệt, có thể nặng trên 2000 g. Khối u có thể khu trú tại một thùy (thường gặp thùy phải) hoặc lan tỏa khắp gan, thường kèm theo xơ gan. Có lúc xơ gan tạo nhiều nốt tái tạo, khó phân biệt với nốt ung thư gan bằng mắt thường. Phân loại đại thể thành 3 thể:
1/Dạng khối lớn (giải phẫu bệnh học gọi là “giống khối u lớn”): Một khối u lớn, có thể to cỡ đầu trẻ con, thường ở thùy phải gan, trung tâm u hay hoại tử chảy máu, xung quanh có thể có các nốt vệ tinh. Xơ gan không kèm hoặc mức độ nhẹ.
2/ Dạng đa nốt (kết tiết): Phổ biến nhất, thường gặp ở gan có xơ gan nặng. U gồm nhiều nốt rải rác, hình tròn hoặc bầu dục, kích cỡ khác nhau, đường kính từ vài mm đến vài cm, có thể hợp lại thành một khối to. Gan nhìn ngoài thường lồi lõm không đều.
3/Dạng thâm nhiễm lan tỏa: Tế bào ung thư phát tán khắp gan, không tạo nốt rõ ràng hoặc tạo nốt rất nhỏ, thường xảy ra trên nền gan xơ, ít gặp.
- Phân loại mô học:
- Ung thư biểu mô tế bào gan (Hepatocellular carcinoma): Thường gặp nhất, xuất phát từ tế bào gan. Nếu biệt hóa tốt, tế bào ung thư giống tế bào gan; biệt hóa kém thì dị dạng nhiều. Cách sắp xếp có thể dạng bè (mô ung thư tạo bè), dạng ống tuyến giả (pseudo glandular), dạng đặc khối, hoặc các biến thể khác. Đôi khi có dạng xơ hóa kèm nhiều tổ chức liên kết. Dạng xơ hóa lớp sợi (fibrolamellar) hoặc dạng vi thể (minute) thường có tiên lượng tốt hơn.
- Ung thư đường mật trong gan (Cholangiocarcinoma): Ít gặp hơn, là ung thư từ biểu mô ống mật nội gan, thường mang cấu trúc tuyến, ít kèm xơ gan. Đôi khi bệnh xảy ra do nhiễm sán lá gan (Clonorchis sinensis).
- Ung thư hỗn hợp: Vừa có cấu trúc tế bào gan, vừa có cấu trúc biểu mô ống mật. Hiếm gặp.
Di căn và lan tràn
Ung thư gan trước hết lan trong gan. Tế bào ung thư thường phát tán theo tĩnh mạch cửa, tạo nhiều ổ di căn rải rác trong gan, có thể xâm nhập về phía gốc tĩnh mạch cửa ngoài gan (portal vein trunk), hình thành sùi lớn gây tắc nghẽn và tăng áp tĩnh mạch cửa. Về sau, tế bào ung thư có thể di căn theo đường bạch huyết đến hạch cửa gan, hạch bụng trên, hạch sau phúc mạc; hoặc theo tĩnh mạch gan đến phổi, thượng thận, não, xương… Đôi lúc ung thư “gieo rắc” lên phúc mạc hoặc buồng trứng.
Liên hệ lâm sàng – bệnh lý
Bệnh nhân thường có tiền sử xơ gan, thể trạng suy sụp, đau vùng gan, gan to dần, vàng da, cổ trướng… Có khi u gan phá hủy bề mặt, gây vỡ tự nhiên, chảy máu trong ổ bụng. Khi khối u chèn ép đường mật trong hoặc ngoài gan, hoặc tổn thương nhu mô gan diện rộng, bệnh nhân có thể vàng da.
Nguyên nhân
Nghiên cứu cho thấy các yếu tố sau liên quan đến ung thư gan:
- Viêm gan virus: Viêm gan B (HBV) có mối liên hệ chặt chẽ nhất, sau đó đến viêm gan C (HCV). Tỉ lệ dương tính HBsAg ở bệnh nhân ung thư gan lên tới 81,82%; 60–90% ung thư gan ở vùng dịch tễ HBV. Một số báo cáo còn phát hiện gien HBV tích hợp vào DNA tế bào gan ung thư, nên HBV được xem là yếu tố quan trọng của ung thư gan. Mặt khác, HCV cũng có liên quan ung thư gan, tỉ lệ dương tính HCV trong ung thư gan ở Nhật đạt 70%, ở Tây Âu 65–75%.
- Xơ gan: Đây là căn bệnh có mối liên quan mật thiết với ung thư gan. Người ta ước tính sau khoảng 7 năm, xơ gan có thể tiến triển thành ung thư. Thường gặp ở xơ gan do hoại tử, xơ gan sau viêm gan, ít hơn ở xơ gan cửa.
- Nấm mốc và độc tố: Aflatoxin từ nấm mốc (Aspergillus flavus), Penicillium, Mucor… đều có thể gây ung thư gan ở động vật. Vùng có tỷ lệ ung thư gan cao thường có thực phẩm nhiễm nấm mốc nặng.
- Hợp chất nitrosamine: Ví dụ, dimethyl nitrosamine từng được phân lập từ thực phẩm ở Nam Phi – nơi có tỷ lệ ung thư gan cao. Các chất này cũng có thể gây ung thư ở những vị trí khác (như ung thư thực quản).
Ung thư gan nguyên phát
Ung thư gan nguyên phát là ung thư xuất phát từ tế bào gan hoặc ống mật trong gan (gọi tắt “ung thư gan”). Bệnh thường khởi phát kín đáo, giai đoạn sớm ít triệu chứng, đôi khi chỉ phát hiện khi xét nghiệm thấy alpha-fetoprotein (AFP) cao. Triệu chứng điển hình: đau âm ỉ hoặc tức nặng vùng gan, buồn nôn, mệt mỏi, chán ăn, sốt, chảy máu dưới da niêm.
Chẩn đoán:
- Xét nghiệm AFP bằng điện di hay miễn dịch phóng xạ. Nếu AFP ≥ 400 µg/mL kéo dài 4 tuần, loại trừ thai kỳ, bệnh gan tiến triển và u nguyên bào sinh dục, thì có giá trị chẩn đoán cao.
- Siêu âm, CT, xạ hình gan… đánh giá kích thước khối u.
- Chụp động mạch gan qua đùi, MRI v.v. cũng hỗ trợ chẩn đoán.
- Nội soi ổ bụng, sinh thiết qua hướng dẫn CT, siêu âm hoặc chọc hút dịch ổ bụng tìm tế bào ung thư… giúp xác định bản chất u.
Điều trị:
Gồm 2 hướng chính:
- Loại bỏ khối u: phẫu thuật cắt gan, hoặc các phương pháp tương đương (laser, lạnh đông), xạ trị, hóa trị toàn thân, hóa trị qua động mạch gan, nút mạch (TACE), v.v.
- Nâng đỡ cơ thể: dùng thuốc Đông y, điều trị miễn dịch, dinh dưỡng cao v.v.
Phòng ngừa:
- Giữ vệ sinh cá nhân (rửa tay thường xuyên) tránh lây nhiễm viêm gan virus.
- Giữ an toàn thực phẩm, tránh ăn thức ăn mốc, hạn chế thực phẩm ngâm muối, hun khói, không uống nước bẩn.
- Không lạm dụng rượu, thuốc lá.
- Tiêm vắc-xin viêm gan B, tránh lo âu, bực tức, giữ tâm trạng lạc quan…
Nguyên nhân gây ung thư gan?
- Xơ gan và viêm gan
- Độc tố aflatoxin: Thí nghiệm trên động vật khẳng định độc tố này gây ung thư gan trực tiếp.
- Hợp chất nitrosamine
- Bệnh ký sinh trùng (chủ yếu sán lá gan Clonorchis sinensis, ký sinh ở ốc và cá nước ngọt).
- Lạm dụng rượu lâu dài, quá mức.
Viêm gan B, xơ gan có liên quan đến ung thư gan không?
Hiện vẫn tranh cãi về mối quan hệ chính xác giữa viêm gan B (HBV) và ung thư gan nguyên phát. Có quan điểm cho rằng viêm gan B mạn dẫn tới xơ gan, rồi tiến triển thành ung thư gan. Quan điểm khác cho rằng HBV có thể trực tiếp hoặc gián tiếp gây ung thư, kết hợp với các yếu tố môi trường (aflatoxin) cùng một số rối loạn di truyền, nội tiết, miễn dịch, dẫn đến ung thư gan.
2 nguyên nhân chính gây ung thư gan và biện pháp phòng ngừa?
- Virus viêm gan B (HBV):
90% bệnh nhân ung thư gan ở Trung Quốc từng bị nhiễm HBV; bệnh nhân ung thư gan có tiền sử viêm gan B cao gấp 10–20 lần so với nhóm đối chứng. Mối liên quan giữa HBV và xơ gan rất lớn: 80% (60–90%) bệnh nhân ung thư gan có xơ gan; phần lớn là xơ gan sau viêm gan.
Biện pháp phòng: Chủ yếu ngăn lây truyền dọc từ mẹ sang con; tiêm phòng vắc-xin viêm gan B cho trẻ sơ sinh và người dễ cảm nhiễm. Gần đây, vai trò của viêm gan C (HCV) cũng ngày càng được chú ý. Cần kiểm soát an toàn truyền máu, tiêm chích, châm cứu, cạo mặt… để phòng lây lan HBV và HCV. Các nhóm nguy cơ cao gồm bệnh nhân lọc máu, ưa chảy máu, vợ/chồng người mang HBsAg, nhân viên y tế tiếp xúc máu…
- Độc tố aflatoxin:
Aflatoxin B1 là chất gây ung thư gan cực mạnh, có thể khởi phát hoặc thúc đẩy ung thư gan, phối hợp với HBV làm tăng nguy cơ ung thư. Vùng Khải Đông (Trung Quốc) – nơi có tỷ lệ ung thư gan cao, dân cư tiêu thụ thực phẩm nhiễm aflatoxin từ bắp, đậu phộng gấp 10–100 lần so với Bắc Kinh.
Biện pháp phòng: Ngăn ngừa mốc thực phẩm, quản lý nghiêm vệ sinh lương thực, loại bỏ hoặc rửa sạch thức ăn mốc, giảm ăn bắp hoặc đậu phộng ở vùng dịch tễ. Có thể uống trà xanh để ức chế AFB1 gây ung thư gan.
Ngoài ra: Nguồn nước ô nhiễm, hóa chất độc, hút thuốc, nitrosamine, thiếu vi lượng, di truyền… đều có thể phối hợp gây ung thư gan. Do đó, cần thực hiện các biện pháp tổng hợp như đảm bảo vệ sinh, cải thiện dinh dưỡng, tăng cường miễn dịch, tránh lạm dụng thuốc, bỏ thói quen xấu.
Triệu chứng sớm của ung thư gan gồm những gì?
- Có tiền sử viêm gan, xơ gan ổn định nhiều năm, đột ngột đau tức vùng gan nhưng không sốt rét rõ ràng.
- Người trên 30 tuổi, sờ thấy khối cứng ở hạ sườn phải, bờ lổn nhổn, tăng dần kích thước mà không có khó chịu rõ rệt.
- Khô miệng, bứt rứt, mất ngủ, chảy máu chân răng hoặc chảy máu mũi, kèm chướng bụng, khó chịu vùng gan.
- Đau nhức khớp toàn thân, nhất là vùng thắt lưng, kèm chán ăn, điều trị thấp khớp không cải thiện, trong khi vùng gan tức nặng, cơ thể gầy mòn.
- Hay bị tiêu chảy, chướng bụng, điều trị viêm ruột không hiệu quả, kèm khó chịu vùng gan, giảm cân.
- Có tiền sử gia đình về u bướu, đặc biệt họ hàng gần có ung thư gan.
Căn cứ chẩn đoán ung thư gan?
- Đau vùng gan: đau dai dẳng âm ỉ hoặc căng tức, có khi lan lên vai phải.
- Triệu chứng đường tiêu hóa: chán ăn, nặng có buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy.
- Triệu chứng toàn thân: Gầy sút nhanh, mệt mỏi.
- Triệu chứng di căn: Phụ thuộc vị trí di căn.
- Khám lâm sàng có thể thấy gan to, chắc, bề mặt gồ ghề, có khi nghe tiếng thổi mạch, một số ca có vàng da, báng bụng.
- Chẩn đoán vị trí: siêu âm, CT, xạ hình gan, chụp mạch gan, MRI… đều phát hiện tổn thương chiếm chỗ.
- Chẩn đoán tính chất (định tính): AFP (+) (alpha-fetoprotein), nếu AFP > 200 µg duy trì trên 8 tuần hoặc AFP > 400 µg duy trì 4 tuần, sau khi loại trừ viêm gan tiến triển và u tế bào mầm, có thể chẩn đoán ung thư gan.
- Xác định bệnh lý: Chọc hút kim nhỏ, sinh thiết gan khẳng định là ung thư gan nguyên phát.
Ung thư gan cần phân biệt với bệnh nào?
- Ung thư gan thứ phát (di căn): Thường diễn tiến chậm, triệu chứng nhẹ hơn, thường nhiều khối ở gan. Nếu u khởi nguồn tiêu hóa có thể AFP dương tính, nhưng đa số là âm tính.
- Xơ gan: Ung thư gan thường phát triển trên nền xơ gan. Nếu bệnh nhân xơ gan có gan to nhanh, cứng, lổn nhổn, hình ảnh “choán chỗ”, nên xét nghiệm AFP nhiều lần, theo dõi sát.
- Bệnh gan tiến triển (active hepatitis): Theo dõi đồng thời AFP và SGPT. Nếu cả hai cùng tăng tương đối song song, hoặc SGPT tăng liên tục gấp nhiều lần bình thường, nghiêng về viêm gan tiến triển. Ngược lại, AFP tăng cao mà SGPT bình thường hoặc giảm, cần nghĩ đến ung thư gan. Siêu âm theo dõi động, có thể kết hợp CT, MRI. Trường hợp nghi ngờ vẫn còn nên chọc kim nhỏ (dưới hướng dẫn siêu âm) để sinh thiết.
- Áp-xe gan: Bệnh diễn tiến cấp, có dấu hiệu nhiễm trùng, gan ấn đau rõ, công thức máu bạch cầu tăng, siêu âm thấy dịch (mức) trong gan.
- Các khối lành tính ở gan: u máu, đa nang gan, nang sán lá… Xét nghiệm AFP, quét máu phóng xạ, siêu âm, CT hỗ trợ chẩn đoán. U tuyến gan thường ở phụ nữ, có tiền sử dùng thuốc tránh thai, không có tiền sử bệnh gan, AFP thường âm tính, xạ hình với 99mTc MPI có thể dương tính mạnh.
- Khối u ngoài gan nhưng gần vùng gan: Như ung thư dạ dày, u sau phúc mạc tại thượng vị (thận, tuyến thượng thận, đại tràng), có thể sờ thấy khối vùng thượng vị. Phân biệt bằng chẩn đoán hình ảnh, AFP. Cần thiết có thể mổ thám sát.
Làm sao phòng ngừa ung thư gan?
- Vắc-xin viêm gan B gần như là vắc-xin chống ung thư gan: Nghiên cứu vắc-xin chống ung thư trực tiếp còn rất khó khăn, nhưng vắc-xin viêm gan B đã góp phần ngăn ngừa ung thư gan, do mối liên hệ chặt giữa HBV và ung thư gan. WHO cho biết 80% ung thư gan liên quan HBV; HBV là chất gây ung thư thứ hai sau thuốc lá. Ước tính nếu toàn bộ trẻ sơ sinh ở châu Phi, Đông Nam Á và Trung Quốc đều được tiêm vắc-xin viêm gan B, mỗi năm sẽ giảm 200.000 ca ung thư gan (tương đương 80%). Từ năm 1991, Trung Quốc bắt đầu tiêm phòng HBV rộng rãi cho trẻ em, cũng là cách phòng ung thư gan quan trọng.
- Kiểm soát viêm gan C: Tại các nước phát triển, tỉ lệ HBsAg ở bệnh nhân ung thư gan thường dưới 50%, nhưng kháng thể HCV lại cao trên 50%. Trong xơ gan do rượu, tỉ lệ kháng HCV có thể đạt 76%. Nhiều nghiên cứu ở Nhật cho thấy số ca ung thư gan âm tính với HBsAg đang tăng lên, mà đa số lại dương tính HCV và có tiền sử truyền máu, nên 57% ung thư gan ở Nhật có liên quan HCV. Tại Đại học Y Bắc Kinh (Trung Quốc), ở những bệnh nhân ung thư gan âm tính HBsAg, 28,5% dương tính kháng HCV, cho thấy HCV cũng là tác nhân gây ung thư gan quan trọng. 80–90% viêm gan C lây qua đường máu và các sản phẩm máu. Kiểm soát nguồn máu, hạn chế truyền máu không cần thiết là biện pháp hiệu quả giảm viêm gan C, ngăn ngừa ung thư gan.
- Phòng chống thức ăn mốc: Aflatoxin độc tính cực mạnh, khả năng gây ung thư vượt nitrosamine 75 lần, có thể gây ung thư gan trên mọi loài động vật thí nghiệm. Dù chưa có kết luận hoàn toàn ở người, giới chuyên môn vẫn xem aflatoxin là chất khởi phát ung thư gan. Do đó, cần bảo quản thực phẩm tránh ẩm mốc, thức ăn nghi ngờ mốc phải bỏ.
- Các yếu tố khác: Nguồn nước ô nhiễm, thuốc độc, hút thuốc, nitrosamine, thiếu vi lượng, di truyền… đều phối hợp làm ung thư gan. Vì vậy, các biện pháp vệ sinh, dinh dưỡng hợp lý, nâng cao miễn dịch, tránh lạm dụng thuốc, thay đổi thói quen xấu… góp phần phòng ung thư gan.
Tại sao gan khô (bột gan) phòng ngừa ung thư gan hiệu quả?
Các nhà khoa học Nhật Bản phát hiện “gan khô” không chỉ giúp động vật thí nghiệm khỏe hơn mà còn ngăn ngừa ung thư gan. Thậm chí sử dụng chất gây ung thư mạnh cũng không thể gây ung thư gan ở chúng. Đại học Michigan (Mỹ) thông báo họ tách được một chất từ gan gọi là “cytochrome P-450”, có thể hỗ trợ khử các chất độc hại, thuốc, rượu và có khả năng ngăn ngừa ung thư. Dù sao, gan chứa nhiều vitamin, vi lượng và dinh dưỡng khác – đó cũng là lý do tốt cho sức khỏe.
Cách chọn thuốc Đông y điều trị ung thư gan
- Thể khí trệ huyết ứ
Phương thuốc: Sinh giả Thạch 15g, Thái Tử Sâm 15g, Mạch Môn 15g, Sinh miết Giáp 15g, Tử Đan Sâm 15g, Bồ Công Anh 15g, Sinh Sơn Dược 12g, Tiên Linh Tì 10g, Bát Nguyệt Trát 10g, Hàng Bạch Thược 10g, Tiêu Tam Tiên 10g, Bạch Truật sao 10g, Trư Linh phiến 30g, Long quy 30g, Bạch Mao Căn 30g, Tam Thất 3g (hòa riêng).
Chỉ định: Ung thư gan nguyên phát, khí huyết ứ trệ, thấp nhiệt trung trệ, bệnh ảnh hưởng cả Can lẫn Tỳ, chính hư tà thực.
Cách dùng: Sắc uống mỗi ngày 1 thang, gia giảm tùy chứng (đinh lịch tử, đại táo, tang bạch bì, lộ lộ thông…).
- Thể Tỳ Vị khí hư
Phương thuốc: Đảng Sâm, Thần Khúc, Giáng Hương, Sơn Tra (mỗi vị 15g), Ô Dược 9g, Bạch Truật 9g, Phục Linh, Xa Tiền Tử, Địa thoa La, Bát Nguyệt Trát (mỗi vị 30g), Mạch Nha, Trầm Hương Khúc (mỗi vị 12g).
-
- Chỉ định: Ung thư gan thể hư.
- Cách dùng: Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
- Thể Can Lạc ứ trở
Phương thuốc: Bạch Truật, Ích Mẫu Thảo, Vương Bất Lưu Hành, Bán Chi Liên (mỗi vị 60g), Hoàng Kỳ, Phục Linh, Đại Phúc Bì, Xa Tiền Tử (mỗi vị 30g), Đảng Sâm, Sinh Mạch Nha (mỗi vị 20g), Trạch Lan, Tây Thảo, Bạch Thược, Huyền Hồ, Kê Nội Kim (mỗi vị 15g), Sa Nhân, Trần Bì, Cam Thảo (mỗi vị 10g).
Chỉ định: Ung thư gan nguyên phát giai đoạn muộn, đau vùng hạ sườn phải, cổ trướng, gầy sút, mặt nhợt, lưỡi tím, mạch Huyền Sác., thuộc can lạc ứ trở, thấp nhiệt uẩn tích.
Cách dùng: Sắc uống mỗi ngày 1 thang, gia giảm tùy chứng.
- Thể Can ứ hỏa thịnh
Phương thuốc: Chế Mã Tiền Tử 25g, Ngũ Linh Chi 30g, Minh Phàn 30g, Nga Truật 30g, Quảng Uất Kim 30g, Can Tất 12g, Hỏa Tiêu (Diêm Tiêu) 36g, Chỉ Xác 60g, Tiên Hạc Thảo 90g, Đinh Hương 50g, Địa Miết Trùng 50g, Tri thù 80g.
Chỉ định: Ung thư gan nguyên phát.
Cách dùng: Nghiền bột mịn, bảo quản kín. Mỗi lần uống 3g, ngày 2 lần, nước ấm. Có thể phối hợp thêm thang thuốc (Đan Sâm, Tam Lăng, Nga Truật, Trùng Lâu, Nhất Chi Hoàng Hoa, Bát Nguyệt Trát, Uất Kim, Bình Địa Mộc, Nhân Trần, Sa La Tử, Bán Chi Liên, Tứ Quý Thanh, Hoàng Liên, Can Thiềm bì…).
Các loại cháo phòng – chữa ung thư gan?
- Cháo gan dê – rau chân vịt
Thành phần: Gan dê 200g, rau chân vịt (rau bina) 50g, gạo tẻ 100–150g.
Cách nấu: Rửa sạch gan dê, cắt lát; Rửa rau, cắt khúc; Cho vào nồi cùng gạo nấu cháo. Mỗi ngày 1thang, ăn sáng – tối.
- Cháo gan gà
Thành phần: Gan gà 200g, 1 quả trứng gà, 100g gạo.
Cách nấu: Gan gà rửa sạch, cắt lát; Đập trứng, trộn cùng gan rồi nấu với gạo thành cháo, mỗi ngày 1 lần.
- Cháo Tử thảo (紫草) – Ý dĩ
Thành phần: Tử thảo 10g, Bạch Thược 15g, Ý dĩ (hạt bo bo) 50g, ít đường trắng.
Cách nấu: Sắc tử thảo và bạch thược lấy nước, bỏ bã, cho Ý dĩ vào nấu cháo, thêm đường. Ngày 1 thang, ăn sáng – tối.
Các bài thuốc dân gian trị cổ trướng do ung thư gan
- Cách 1: Vỏ bưởi (hoặc quýt), đốt thành tro, tán bột; mỗi lần 9g, ngày 3 lần, uống với nước nóng.
- Cách 2: Chữa đầy bụng: một bát đậu đỏ, một nắm rễ cỏ tranh (Bạch mao căn) nấu nước, bỏ bã, ăn hạt đậu cho đến khi bụng xẹp.
- Cách 3: Lọc lấy phần cặn lắng của huyết heo (ít mặn), phơi khô tán bột, mỗi lần 9g pha rượu hoàng tửu. Hoặc hạt củ cải (la bốc tử) 50g hơi rang, cho 1 bát nước nấu sôi 3 lần uống; hoặc bí đao non (cùng hạt) đốt tồn tính, nghiền bột, uống 3g với rượu ấm hoặc nước sôi.
- Cách 4: Chọn quả dưa hấu, khoét nắp trên, bỏ 1/3 ruột, nhét đầy tỏi, đậy nắp vỏ, cho vào nồi sạch, đậy vung nấu chín, rồi ăn hết cả thịt dưa và tỏi, kèm nước.
- Cách 5: Bụng trướng to, ấn vào nổi gợn lại ngay, dùng bong bóng heo làm sạch, nhồi hạt Sa nhân sao khô liên tục, tán bột. Mỗi lần 3g, uống với nước cơm.
Bệnh nhân ung thư gan nên chọn thực phẩm ra sao?
Bệnh nhân ung thư gan nên “biện chứng – chọn thức ăn”:
- Gan lách to: Nên ăn hải đới (tảo biển), ba ba, cá chạch, hạt bo bo…
- Có cổ trướng: Nên dùng đậu đỏ, mận, trứng chim cút, các loại rong biển (tảo biển, rau câu, hải đới), cua xanh, ngao, cá hố, cá trắm cỏ, cá chép, thịt vịt, thịt chó…
- Vàng da: Gùng sam biển, khoai lang, cỏ nến, củ ấu, cá chép, cá linh, cá chạch, cua, ốc, trai, kim châm, mứt quất, quất tươi… Nếu chướng đau nên ăn quất, mứt cam, Phật thủ, dâu tằm, sơn tra, từ cô, dưa chuột…
- Hôn mê gan: Nên ăn đậu đao, sò hến, hải mã, ý dĩ, ngưu bàng, xà khâu…
Món canh (thang) bổ dưỡng cho bệnh nhân ung thư gan
- Canh nấm hương – đậu đen – cá chạch – thịt nạc
Bắc cô (nấm hương) 80g, đậu đen 80g, cá chạch 500g, gừng 2 lát, thịt nạc 120g, chút muối.
Cách làm: Trước hết, sát muối cá chạch để loại nhớt, rửa bằng nước nóng, moi ruột, cắt bỏ đầu, rửa sạch, rồi chiên vàng sơ. Nấm hương ngâm nở, bỏ cuống; đậu đen rang cho nứt vỏ; gừng, thịt rửa sạch. Cho tất cả vào nồi (nồi đất), đổ nước sôi to lửa, sau đó lửa vừa chừng 3 giờ, nêm muối.
Công dụng: Bồi bổ gan tỳ, dưỡng âm giải độc, lợi niệu trừ thấp. Thích hợp cho ung thư gan, cơ thể suy nhược, tay chân nóng, miệng đắng, chán ăn…
- Canh nấm đầu khỉ – bí đao – ốc bươu (hoặc ốc đồng) – thịt nạc
- Nấm đầu khỉ 80g, bí đao 500g, ốc bươu 300g, Bạch truật 120g, thịt nạc 120g, vỏ quýt 1 miếng, gừng 1 lát, muối vừa đủ.
- Cách làm: Nấm ngâm nở, bí đao rửa giữ vỏ hạt, ốc ngâm 24 giờ cho nhả bùn, rồi đập lỗ đuôi. Bạch truật, thịt lợn, vỏ quýt, gừng rửa sạch. Tất cả cho vào nồi, đổ nước đun to lửa, rồi hạ lửa nấu 3 giờ, nêm muối.
- Công dụng: Thanh can giải độc, kiện tỳ khai vị, lợi niệu tiêu báng. Hợp cho ung thư gan có u vùng gan, bụng chướng, tiểu kém. Chú ý: Người tiểu đêm nhiều, không nên dùng nhiều.
- Canh Điền thất – hạt khiếm thực – ba ba
- Điền thất 20g, khiếm thực 80g, vỏ quýt 1 miếng, ba ba 1 con, thịt nạc 120g, muối vừa đủ.
- Cách làm: Điền thất, khiếm thực rửa sạch, Điền thất đập dập. Vỏ quýt, thịt rửa sạch. Ba ba sống, ngâm nước nóng cho ra hết nước tiểu, cắt bỏ đầu, chân, nội tạng. Cho tất cả vào nồi, đun sôi to lửa rồi hạ lửa 5 giờ, nêm muối.
- Công dụng: Tư bổ gan thận, hoạt huyết tiêu ứ, giảm đau. Dùng cho ung thư gan kèm hạ sườn cứng, miệng đắng, ăn kém… Chú ý: Không dùng cho phụ nữ mang thai.
- Canh Đông trùng hạ thảo – nhau thai (tử hà sa) – cá chạch
- Đông trùng hạ thảo 40g, tử hà sa 1 cái, vỏ quýt 10g, cá chạch 500g, thịt lợn 160g, muối.
- Cách làm: Cá chạch mua sống, sát muối, trần nước nóng, bỏ ruột, đầu, chiên sơ. Đông trùng hạ thảo, vỏ quýt, tử hà sa, thịt lợn rửa sạch. Cho tất cả vào nồi, đun to lửa, rồi hạ lửa 3 giờ, nêm muối.
- Công dụng: Kiện tỳ khai vị, bổ thận dưỡng gan, ích âm điều khí. Dùng cho bệnh nhân ung thư gan: gan to, bụng chướng, tinh thần kém, mệt mỏi, ăn ít, eo lưng đau, thở yếu, gầy sút hoặc phù nhẹ.
- Canh Bán Chi Liên – Xuyên Phá Thạch – cua đinh (rùa nước ngọt)
- Bán Chi Liên 80g, Xuyên Phá Thạch 80g, gừng 1 lát, cua đinh 1 con (khoảng 500g), thịt lợn nạc 120g, muối.
- Cách làm: Mua 1 con cua đinh sống ~500g, cho vào nước sôi để ra hết nước tiểu, lột vỏ, bỏ nội tạng, cắt miếng. Bán Chi Liên, Xuyên Phá Thạch, gừng, thịt rửa sạch. Đun sôi nước, cho tất cả vào, đợi sôi lại, hạ lửa nấu 3 giờ, nêm muối.
- Công dụng: Thanh nhiệt giải độc, tán kết, dưỡng âm bổ gan. Hợp cho ung thư gan có gan to, đau tức, ăn kém, đầy bụng, xuất hiện “nốt sao mạch” ở cổ, mặt…
- Canh Bạch Anh (夜交藤) – Xà Bào (hay Thiền Kiều)? (Nguyên văn là 白英 – 蛇莓 – 龙葵 – 丹参 – 仙鹤草…)
Ở đây ghi: Bạch Anh 40g, Xà Mai 40g, Long Khôi 40g, Đan Sâm 40g, Tiên Hạc Thảo 5g, thịt lợn 250g, táo mật 2 quả, muối.
(Lưu ý: có thể là Bạch Anh (Solanum melongena?) hay dược liệu khác…)
- Cách nấu: Ngâm rửa các dược liệu, thịt heo, táo rửa sạch, đun sôi to lửa, hạ lửa ~2 giờ, nêm muối.
- Công dụng: Thanh nhiệt giải độc, tiêu ứ tán kết. Hợp với gan to, cứng, đau tức vùng gan, đầy bụng, mặt cổ có sao mạch.
Chăm sóc bệnh nhân ung thư gan thế nào?
- Tránh ấn mạnh vào gan, đề phòng vỡ gan gây xuất huyết nội.
- Kiểm soát lượng đạm vừa phải, nếu ăn quá nhiều đạm có nguy cơ hôn mê gan.
- Giai đoạn cuối, cần xoay trở bệnh nhân thường xuyên, ngừa loét tì đè và nhiễm trùng.
- Cố gắng không dùng giảm đau (analgesic) quá sớm, quá liều, để tránh tổn hại thêm cho gan.
- Giữ tinh thần bệnh nhân ổn định, tránh lo âu, nóng giận.
- Giai đoạn muộn, không nên ăn thức ăn nhiều xơ cứng (như cần tây…), phòng nguy cơ gây rách tĩnh mạch thực quản bị giãn, dẫn đến ói máu.
Cách luyện “nằm ngửa điều tức” để phòng – chữa ung thư gan?
Nằm ngửa, thư giãn. Hai tay chồng lên nhau (nội – ngoại Lao Cung) kê dưới đầu, một chân duỗi thẳng, một chân gập 60–90°, mắt khép hờ, nhìn thẳng lên, đầu lưỡi chạm hàm trên, môi khép hờ. Thở tự nhiên, sâu, dài, mảnh, đều, nhịp ~8–10 lần/phút, duy trì 20–50 nhịp thở, rồi đổi chân, làm 3–4 lần. Mỗi ngày 4–6 lần.
Ly Trường Xuân dịch