Ung thư đại tràng bao gồm ung thư kết tràng, ung thư trực tràng và ung thư ống hậu môn, trong đó ung thư trực tràng là thường gặp nhất. Các con đường di căn của ung thư đại tràng bao gồm:
Lan rộng tại chỗ (lan rộng cục bộ): Ban đầu, khối u lan trong thành ruột. Sau khi xâm lấn lớp cơ, rất dễ xảy ra di căn qua đường máu, đồng thời còn có thể xâm lấn vào các cơ quan xung quanh ruột như bàng quang, tử cung, tuyến tiền liệt, ruột non, dạ dày, gan, tụy…
Di căn qua đường bạch huyết: Áp dụng đối với ung thư kết tràng di căn hạch bạch huyết.
Di căn qua đường máu: Phần lớn di căn đến gan, phổi, xương, não, buồng trứng; rất ít trường hợp di căn đến tuyến thượng thận và thận.
Tế bào ung thư rơi rụng và gieo rắc (trồng) trong phúc mạc và vùng chậu, hình thành các nốt di căn.
Triệu chứng đầu tiên cần chú ý ở ung thư đại tràng là các biểu hiện tại hậu môn. Đa số người bệnh cảm thấy đau sâu trong hậu môn khi đi đại tiện, hoặc có cảm giác bất thường, hoặc cảm thấy khó đi tiêu, thường xuyên có cảm giác đi chưa hết phân, thậm chí thường xuyên buồn đi đại tiện. Ngoài ra, thói quen đi cầu cũng thay đổi: tiêu chảy hoặc táo bón, hoặc tiêu chảy xen kẽ táo bón, đôi khi có cảm giác mót rặn, đau tức ở hậu môn, kèm đau âm ỉ vùng bụng. Bệnh kéo dài sẽ xuất hiện biểu hiện tắc ruột cơ giới không hoàn toàn mạn tính: lúc đầu khó chịu vùng bụng, chướng bụng, sau đó có từng cơn đau bụng, nhu động ruột tăng, táo bón hoặc phân nhỏ dần, rồi cuối cùng ngưng trung tiện và đại tiện. Ở giai đoạn muộn có thể xuất hiện khối u ở bụng, thiếu máu, sốt, cơ thể suy yếu, sụt cân… Về sau, ung thư còn gây xâm lấn tại chỗ, gây đau vùng xương cùng; nếu khối u thủng, có thể dẫn đến viêm phúc mạc cấp và áp xe ổ bụng.
Chẩn đoán:
Khám trực tràng bằng tay qua ngả hậu môn giúp bác sĩ đánh giá tình trạng trực tràng.
Xét nghiệm máu ẩn trong phân có thể được dùng để tầm soát ở những người chưa có triệu chứng.
Dùng ống soi đại tràng sigma (ống soi sigma) có thể quan sát vùng đại tràng trong phạm vi 25 cm tính từ rìa hậu môn.
Với phần đại tràng cách rìa hậu môn trên 25 cm, có thể nội soi đại tràng bằng ống soi sợi quang hoặc chụp X-quang đại tràng với thuốc cản quang (thụt baryt). Đây là phương pháp cần thiết để kiểm tra các khối u ở đoạn giữa đại tràng sigma trở lên.
Xét nghiệm kháng nguyên phôi ung thư (CEA) có thể dùng để hỗ trợ chẩn đoán, theo dõi tái phát, đánh giá hiệu quả điều trị…
Điều trị
Biện pháp điều trị hiệu quả nhất cho ung thư đại tràng là phẫu thuật cắt bỏ khối u. Đối với trường hợp không thể phẫu thuật triệt để, có thể xem xét mổ tạm thời (phẫu thuật giảm nhẹ hoặc giảm triệu chứng). Ở giai đoạn sớm sau mổ, nên phối hợp dùng thuốc Đông y. Với bệnh nhân ung thư đại tràng giai đoạn II, III, sau phẫu thuật cần hóa trị và điều trị Đông y để phòng ngừa tái phát và di căn. Với ung thư trực tràng, có thể lựa chọn xạ trị trước mổ, trong mổ hoặc sau mổ. Trong trường hợp tái phát cục bộ sau mổ hoặc di căn xa (như di căn xương, gan, phổi, não), cũng có thể cân nhắc xạ trị để giảm nhẹ triệu chứng (như đau…) và kéo dài thời gian sống.
Phòng ngừa
Để phòng ngừa ung thư đại tràng, người dân ở đô thị nên kiểm soát lượng chất béo tiêu thụ ở mức khoảng 60 g/ngày. Một người bình thường mỗi ngày nên ăn trên 250 g rau xanh. Polyp tuyến (u tuyến) đại tràng là u lành tính ở ruột, nhưng rất dễ chuyển biến ác tính. Một khi phát hiện ung thư tuyến đại tràng, cần phẫu thuật cắt bỏ kịp thời. Ngoài ra, cần chủ động phòng chống bệnh giun sán (như bệnh sán máu).
Tham khảo
“Ung thư đại tràng” – Các yếu tố gây bệnh và biện pháp phòng ngừa
Nguyên nhân gây ung thư đại tràng là gì
Nguyên nhân gây ung thư đại tràng, giống như các bệnh ác tính khác, vẫn chưa được làm rõ hoàn toàn. Tuy nhiên, người ta đã chú ý đến một số yếu tố liên quan đến việc hình thành ung thư đại tràng. Hiện nay, vai trò của thành phần dinh dưỡng được đánh giá rất quan trọng. Những người thường xuyên ăn nhiều chất béo, nhiều đạm, ít chất xơ có tỷ lệ mắc ung thư đại tràng thường cao hơn. Lý do có thể là thức ăn quá giàu dinh dưỡng nhưng lại ít chất cặn bã, khiến phân khó thoát ra ngoài, thời gian lưu lại trong đường ruột quá lâu, làm các chất gây ung thư trong thực phẩm kích thích niêm mạc ruột trong thời gian dài. Bên cạnh đó, các bệnh viêm đại tràng như viêm loét đại tràng, polyp tuyến đại tràng và yếu tố di truyền cũng liên quan đến nguy cơ mắc bệnh này.
Làm thế nào để phòng ngừa ung thư đại tràng
Phương pháp quan trọng để phòng ngừa ung thư đại tràng là loại bỏ những yếu tố đã biết có khả năng gây ung thư:
Sắp xếp chế độ ăn uống hợp lý, ăn nhiều hoa quả, rau tươi chứa hàm lượng cao carbohydrate và chất xơ thô; hạn chế ăn thực phẩm giàu chất béo, giàu đạm.
Chủ động điều trị các bệnh đại tràng đang mắc phải như viêm loét đại tràng, polyp tuyến đại tràng…
Nếu có các yếu tố nguy cơ cao của ung thư đại tràng (chẳng hạn gia đình có người bị ung thư kết tràng hoặc bị bệnh polyp, có polyp đa phát trong gia đình, viêm loét đại tràng…), nên định kỳ đến bệnh viện để được tư vấn hoặc kiểm tra, nắm rõ tình trạng sức khỏe của bản thân.
Phòng ngừa ung thư đại tràng cần chú ý những vấn đề gì?
Cải thiện thói quen ăn uống. Sắp xếp bữa ăn hằng ngày một cách hợp lý, ăn nhiều trái cây tươi, rau xanh chứa nhiều carbohydrate và chất xơ thô, tăng cường ngũ cốc thô, hạn chế quá nhiều thực phẩm xay xát quá kỹ. Giảm bớt các món ăn từ thịt và thực phẩm giàu đạm. Hạn chế chất béo, nhất là chất béo có nguồn gốc động vật. Bởi vì chế độ ăn nhiều chất béo, giàu protein động vật sẽ kích thích tăng tiết mật, làm lượng muối mật trong ruột tăng. Trong thành phần mật có acid mật và cholesterol, vì thế trong phân cũng có nhiều acid mật và cholesterol hơn. Mặt khác, chế độ ăn này làm vi khuẩn kỵ khí như Clostridium perfringens (một loại vi khuẩn kỵ khí) phát triển mạnh. Loại vi khuẩn này chứa nhiều enzyme 7-?-dehydroxylase, khi tác động vào acid mật và cholesterol sẽ tạo ra các hydrocarbon vòng thơm không bão hòa (chất gây ung thư). Do đó, chế độ ăn giàu chất béo, giàu đạm và ít chất xơ sinh ra nhiều chất gây ung thư, lại tồn tại lâu trong ruột già, tất yếu làm tăng nguy cơ mắc ung thư đại tràng.
Tích cực phòng và điều trị các bệnh lý ở ruột như polyp, viêm đại tràng mạn (bao gồm viêm loét đại tràng), bệnh sán máu, lỵ mạn tính… Với polyp đại tràng, càng cần sớm loại bỏ. Có 5 loại polyp chính: polyp tuyến (u tuyến), polyp chuyển sản (polyp giả), polyp viêm, polyp dị tật phôi (hamartomatous polyp) và các loại khác. Trong đó, polyp tuyến (u tuyến) là tổn thương thật sự có khả năng diễn tiến ác tính (tiền ung thư). Vì vậy, khi phát hiện trong đại tràng có u tuyến, cần điều trị, cắt bỏ và làm xét nghiệm mô bệnh học; hy vọng phát hiện u khi còn lành tính để ngăn ngừa ung thư đại tràng. Nếu không điều trị sớm, đa số sẽ chuyển thành ung thư, tiên lượng xấu. Ngoài ra, cũng cần tích cực điều trị táo bón thường xuyên, chú ý giữ cho đại tiện thông suốt.
Đối với những người thuộc nhóm nguy cơ cao của ung thư đại tràng, như nam giới trên 40 tuổi, người có polyp đại tràng đa phát trong gia đình, người bị viêm loét đại tràng, bệnh nhân sán máu mạn tính, hoặc có tiền sử gia đình mắc ung thư đại tràng, nên định kỳ kiểm tra và để ý các dấu hiệu cảnh báo ung thư đại tràng, cũng như các triệu chứng giai đoạn sớm: thay đổi thói quen đi cầu, tiêu chảy xen kẽ táo bón, đi cầu ra máu hoặc phân đen, hình dạng phân bị dẹt, nhỏ lại…
Ung thư đại tràng liên quan đến những yếu tố nào?
Ung thư đại tràng bao gồm ung thư kết tràng và ung thư trực tràng, là một trong những bệnh ác tính thường gặp. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới cao hơn nữ giới, với tỉ lệ nam:nữ khoảng 1,65:1. Khoảng 75% ca mắc ở độ tuổi 31–60, đỉnh cao phát bệnh ở khoảng 45 tuổi, tuy nhiên không ít trường hợp dưới 30 tuổi cũng có thể mắc (ung thư đại tràng ở người trẻ). Đặc điểm dịch tễ ở nước ta là: tuổi mắc ung thư đại tràng trung bình sớm hơn khoảng 10 năm so với Âu Mỹ; tần suất ung thư đại tràng ở người trẻ cũng cao hơn so với Âu Mỹ; ung thư đại tràng thường gặp ở đoạn dưới của kết tràng. Tại Việt Nam, gần một nửa số ca được chẩn đoán là ung thư trực tràng (tỉ lệ ung thư trực tràng ở nước ta cao hơn so với Âu Mỹ).
Nguyên nhân ung thư đại tràng chưa được xác định rõ ràng, nhưng có thể liên quan đến các yếu tố sau:
Yếu tố ăn uống: Tỷ lệ mắc ung thư đại tràng khác nhau đáng kể giữa các quốc gia, vùng miền. Người ta cho rằng chế độ ăn nhiều chất béo, đồng thời thiếu chất xơ là nguyên nhân chính. Ăn nhiều chất béo, nhất là axit béo bão hòa, làm tăng lượng acid mật, cholesterol trong lòng ruột. Dưới tác động của vi khuẩn đường ruột, sản phẩm chuyển hóa của acid mật và cholesterol có thể là chất gây ung thư đại tràng. Ngược lại, chất xơ (như cellulose, pectin, hemicellulose, lignin…) có tác dụng làm loãng bã thức ăn trong ruột, tăng thể tích phân, đẩy nhanh quá trình đào thải phân ra khỏi ruột, nhờ đó giảm bớt thời gian tiếp xúc giữa niêm mạc đại tràng với các chất gây ung thư. Vì vậy, ăn nhiều thực phẩm giàu chất xơ có thể giảm nguy cơ mắc ung thư đại tràng.
Polyp (u) đại tràng: Thống kê cho thấy, tỷ lệ ung thư đại tràng ở người có polyp cao gấp 5 lần so với người không có polyp. Polyp kết tràng chủ yếu gồm u tuyến ống (tubular adenoma) và u tuyến nhú (tức u tuyến dạng nhung mao, còn gọi là villous adenoma). Mặt mô bệnh học cho thấy u tuyến dễ chuyển thành ác tính, nhất là u tuyến nhú, tỷ lệ hóa ác có thể lên đến 40–50%. Trong bệnh đa polyp gia đình (familial adenomatous polyposis), nguy cơ hóa ác còn cao hơn.
Viêm mạn tính đại tràng: Người bị viêm loét đại tràng mạn có tỷ lệ ung thư đại tràng cao hơn 5–10 lần so với người bình thường. Các bệnh lý viêm mạn tính khác ở đại tràng như lỵ trực khuẩn mạn, lỵ amip mạn, bệnh Crohn cũng làm tăng nguy cơ ung thư. Được cho là do quá trình viêm tái đi tái lại dẫn đến tăng sinh niêm mạc, hình thành polyp viêm, lâu dần có thể chuyển thành ung thư, nhưng cần thời gian dài hơn so với polyp tuyến. Với phụ nữ bị ung thư đường sinh dục phải xạ trị, nguy cơ viêm trực tràng, kết tràng do tia xạ cũng có thể dẫn đến ung thư (tuy hiếm gặp). Trong bệnh sán máu mạn, do trứng sán lắng đọng trong thành ruột và tác động của độc tố, niêm mạc ruột viêm mạn, loét, tăng sinh, dễ tạo polyp rồi dẫn đến ung thư.
Yếu tố khác: Các hợp chất nitrosamine có thể là một trong những chất sinh ung thư đại tràng. Nguyên tố vi lượng molypden (Mo) là thành phần không thể thiếu trong hoạt động của enzym khử nitrat. Khi đất đai thiếu hụt molypden, thực vật sẽ tích tụ nhiều nitrat hơn, mà nitrat là tiền chất hình thành nitrosamine. Ngoài ra, các khiếm khuyết miễn dịch tiên phát hay thứ phát cũng có thể là yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
Các hình thái đại thể của ung thư đại tràng
Về mặt đại thể, ung thư đại tràng có các hình thái sau:
Dạng lồi (còn gọi là dạng polyp): Thường gặp nhất, khối u kích thước lớn, mềm, còn gọi là ung thư dạng tủy. Khối u chủ yếu lồi vào trong lòng ruột, có thể dạng cục, dạng polyp hoặc giống hoa súp lơ, bề mặt có thể bị trợt loét, chảy máu. Ranh giới với mô xung quanh tương đối rõ, một số trường hợp có cuống. Thường gặp ở bất kỳ đoạn nào của kết tràng, song hay gặp nhất ở kết tràng phải (đặc biệt là manh tràng).
Dạng loét đơn thuần: Khối u thường nhỏ, hoại tử sớm, tạo vết loét với bờ nhô cao dạng gờ nổi nốt sần, quanh ổ loét không thâm nhiễm quá nhiều, đáy loét có thể ăn sâu đến lớp cơ, thậm chí lan sang cơ quan kế cận, dễ gây chảy máu.
Dạng loét xâm lấn: Trên bề mặt khối u lồi bị hoại tử, tạo vết loét. Khối u thường xâm nhiễm quanh thành ruột, tạo vòng hẹp.
Hai dạng (2) và (3) thường được gọi chung là dạng loét, là loại hay gặp nhất, có thể xuất hiện ở mọi đoạn đại tràng, nhưng dễ gặp hơn ở đoạn kết tràng phía dưới và trực tràng.
Dạng thâm nhiễm lan tỏa (còn gọi là ung thư cứng): Ít gặp. Khối u ăn lan qua các lớp của thành ruột, kèm tăng sinh mô xơ bất thường, làm dày thành ruột và gây hẹp vòng. Thể này dễ gây tắc ruột, thường xuất hiện ở trực tràng, đại tràng sigma hoặc đoạn giáp trực tràng.
Các đường di căn của ung thư đại tràng
Ung thư đại tràng có ba đường di căn chính:
Lan rộng trực tiếp: Tế bào ung thư ăn lan từ thành ruột sang các cơ quan và mô lân cận như bàng quang, tử cung, niệu quản, ruột non, mạc treo ruột, phúc mạc, khoang sau phúc mạc…; có thể hình thành lỗ rò trực tràng – bàng quang hoặc lỗ rò dạ dày – kết tràng. Tế bào ung thư bong ra cũng có thể gieo rắc trên mô lân cận, như vùng túi cùng trực tràng – bàng quang hoặc trực tràng – tử cung, chỗ nối ruột sau phẫu thuật hoặc trên đường rạch da.
Di căn hạch bạch huyết: Trước hết lan đến các hạch bạch huyết cạnh đại tràng, rồi đến hạch quanh mạch mạc treo ruột, hạch ở gốc mạc treo, và ở giai đoạn muộn có thể lan đến hạch bẹn, hạch trước trực tràng, hạch thượng đòn. Sự di căn hạch có thể theo kiểu “nhảy cóc” chứ không nhất thiết nối tiếp liền kề, do vậy trong phẫu thuật, cần nạo bỏ rộng rãi các nhóm hạch liên quan để giảm nguy cơ tái phát sau mổ.
Di căn theo đường máu: Tế bào ung thư dễ theo tĩnh mạch cửa (portal vein) di căn đến gan, hoặc qua tuần hoàn hệ thống (systemic circulation) đến phổi, não, tuyến thượng thận, xương…
Biểu hiện lâm sàng của ung thư đại tràng
Ung thư đại tràng khởi phát âm thầm, giai đoạn đầu ít triệu chứng, khi khối u phát triển lớn và có các biến chứng kèm theo thì triệu chứng mới rõ ràng. Các dấu hiệu chính bao gồm:
Thay đổi thói quen đi cầu và tính chất phân: Thường có đi cầu ra máu kèm nhầy mủ, hoặc kiểu “lỵ” với triệu chứng mót rặn liên tục nếu ung thư nằm ở đoạn cuối đại tràng hoặc trực tràng, do khối u hoại tử, viêm, chảy máu. Đôi khi biểu hiện táo bón kéo dài, phân nhỏ dẹt do lòng ruột hẹp dần (thường ở đại tràng xa). Cũng có trường hợp tiêu chảy kéo dài, phân nhão, hoặc tiêu chảy xen kẽ táo bón, nhưng không có mủ máu rõ, nguyên nhân do u ở đại tràng gần gây viêm loét, rối loạn chức năng ruột.
Đau bụng: Do khối u hoại tử, viêm thứ phát, kích thích nhu động ruột, gây co thắt, nên có thể đau bụng âm ỉ hoặc đau quặn ở nhiều mức độ. Ung thư đại tràng phải (bên phải) thường gây đau âm ỉ vùng hố chậu phải, thượng vị phải hoặc quanh rốn; đau sau ăn do tăng phản xạ dạ dày-ruột. Ung thư đại tràng trái dễ gây tắc ruột bán phần hoặc hoàn toàn, dẫn tới đau quặn bụng, chướng bụng, tăng nhu động ruột. Ở giai đoạn muộn, di căn sau phúc mạc có thể chèn ép đám rối thần kinh thắt lưng cùng, gây đau nhức vùng thắt lưng – xương cùng.
Sờ thấy khối u ở bụng: Khối thường cứng, kích thước khác nhau, bề mặt gồ ghề, giai đoạn đầu có thể di động, về sau có thể cố định, đôi khi ấn đau nếu bội nhiễm. Khối u ở đại tràng phải dễ sờ thấy ở hố chậu phải hoặc mạn sườn phải. Nếu khối u lớn, có thể sờ được quanh rốn (với ung thư kết tràng ngang). Đây thường là dạng ung thư lồi (polyp to) hoặc đã xâm lấn sang cơ quan lân cận.
Tổn thương trực tràng: Khám trực tràng bằng tay có thể sờ thấy khối u cứng, dạng súp lơ, hoặc có ổ loét bờ gồ cao, hoặc lòng ruột bị hẹp vòng cứng, kèm chảy máu, dính mủ nhầy vào găng tay. Khoảng một nửa số ung thư đại tràng nằm ở trực tràng, mà phần lớn ung thư trực tràng có thể phát hiện qua thăm khám trực tràng bằng tay, nên không được bỏ qua phương pháp khám đơn giản này.
Triệu chứng toàn thân: Thiếu máu, sụt cân, sốt nhẹ, vàng da, cổ trướng, hoặc biểu hiện suy kiệt (hội chứng cận ung thư).
KIỂM TRA
Những phương pháp kiểm tra thường dùng cho ung thư đại tràng là gì?
Bệnh này chú trọng chẩn đoán sớm. Ở bệnh nhân trung niên hoặc cao tuổi (đặc biệt là trong gia đình có người bị ung thư hoặc có polyp đại tràng), nếu gần đây xuất hiện tình trạng đi ngoài ra máu không rõ nguyên nhân hoặc thay đổi thói quen đi đại tiện, hoặc thiếu máu do thiếu sắt không rõ nguyên nhân, trước tiên cần nghĩ tới khả năng mắc ung thư đại tràng; tuyệt đối không để lỡ thời điểm kiểm tra.
Xét nghiệm phân:
Xét nghiệm máu ẩn trong phân (FOBT) tuy không đặc hiệu trong chẩn đoán ung thư đại tràng, nhưng phương pháp đơn giản, dễ thực hiện, có thể dùng để sàng lọc trong cộng đồng hoặc cung cấp manh mối chẩn đoán sớm.
Khám trực tràng bằng tay (thăm trực tràng):
Ở Trung Quốc, ung thư đoạn trực tràng thấp (gần hậu môn) chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn so với nước ngoài, tới 77,5% các trường hợp ung thư trực tràng. Vì thế, phần lớn ung thư trực tràng có thể được sờ thấy qua thăm khám trực tràng bằng tay.
Nội soi trực tràng – đại tràng sigma (ống soi đại tràng sigma):
Ở trong nước, 77,7% ung thư đại tràng xảy ra tại trực tràng và đại tràng sigma. Ống soi đại tràng sigma thường dùng có chiều dài 30 cm, có thể trực tiếp phát hiện các khối u nằm ở ống hậu môn, trực tràng và đoạn dưới của đại tràng sigma.
Chụp X-quang baryt (thụt baryt) vào đại tràng:
Với những tổn thương nằm ở đoạn trên đại tràng sigma hoặc cao hơn, cần kiểm tra X-quang thụt baryt. Phương pháp chụp baryt thông thường có thể bỏ sót các khối ung thư kích thước nhỏ. Tốt nhất nên áp dụng kỹ thuật chụp “bơm hơi – baryt kép” (khí – baryt), giúp nâng cao độ chính xác của chẩn đoán X-quang và hiển thị rõ vị trí, phạm vi của khối u.
Nội soi đại tràng bằng ống soi sợi quang:
Có thể quan sát rõ toàn bộ đại tràng và trực tiếp sinh thiết tổn thương nghi ngờ để làm xét nghiệm mô bệnh học, giúp phát hiện sớm và chẩn đoán chắc chắn ung thư đại tràng, kể cả các tổn thương rất nhỏ. Đây là phương tiện kiểm tra quan trọng nhất đối với ung thư đại tràng.
Xét nghiệm kháng nguyên carcino-embryonic (CEA) trong huyết thanh:
Trong huyết thanh bệnh nhân ung thư đại tràng có thể phát hiện chất CEA – một glycoprotein thường thấy ở bệnh nhân u ác tính, nhưng không đặc hiệu riêng cho ung thư đại tràng. Do đó, xét nghiệm CEA không có ý nghĩa chẩn đoán đặc hiệu. Tuy nhiên, nếu định lượng CEA bằng phương pháp phóng xạ miễn dịch, rồi theo dõi diễn biến của nồng độ CEA theo thời gian, sẽ có giá trị trong đánh giá hiệu quả phẫu thuật và phát hiện tái phát sau mổ. Ví dụ, sau khi cắt bỏ hoàn toàn khối u, CEA dần giảm xuống; nếu về sau CEA lại tăng lên, có thể gợi ý tái phát.
Các kiểm tra khác:
Siêu âm trong lòng trực tràng (qua nội soi siêu âm) cho hình ảnh rõ ràng về kích thước, phạm vi, độ sâu xâm lấn của khối u trực tràng cũng như tình trạng mô xung quanh, đồng thời phân biệt được các lớp cấu trúc của thành trực tràng. Phương pháp này đơn giản, nhanh, hữu ích cho việc lựa chọn phương án phẫu thuật và theo dõi sau mổ. Chụp cắt lớp vi tính (CT) có vai trò quan trọng trong đánh giá mức độ xâm lấn ra ngoài ống tiêu hóa và phát hiện di căn hạch bạch huyết hoặc gan. Đối với chẩn đoán tái phát ung thư trực tràng, CT cũng khá chính xác.
Điều trị ung thư đại tràng như thế nào?
Điều then chốt trong điều trị ung thư đại tràng là phát hiện và chẩn đoán sớm.
Phẫu thuật ngoại khoa:
Phương pháp duy nhất giúp chữa triệt để ung thư đại tràng là cắt bỏ khối u ở giai đoạn sớm. Trong quá trình phẫu thuật thăm dò, nếu phát hiện đã có di căn ung thư nhưng đoạn ruột tổn thương vẫn có khả năng bóc tách, về nguyên tắc vẫn nên cắt bỏ khối u để đề phòng tắc ruột về sau; mặt khác, các khối u thường kèm loét, rỉ máu hoặc nhiễm trùng thứ phát, nên cắt bỏ có thể cải thiện tình trạng toàn thân. Nếu ung thư đã di căn rộng, không thể cắt bỏ đoạn ruột tổn thương, thì tiến hành làm hậu môn nhân tạo, nối tắt… nhằm giảm nhẹ triệu chứng.
Điều trị bằng thuốc hóa học (hóa trị):
Sau phẫu thuật cắt bỏ triệt để, vẫn có khoảng 50% bệnh nhân tái phát hoặc di căn, phần lớn do trước mổ không phát hiện được tổn thương di căn tiềm ẩn hoặc không loại bỏ được hết ổ bệnh trong lúc mổ. Vì thế, trước ca mổ mở bụng, có thể tiến hành hóa trị trong lòng ruột hoặc bơm thuốc vào trực tràng (trong ung thư trực tràng) để tiêu diệt, ngăn chặn tế bào ung thư lan rộng. Sau mổ, tiếp tục hóa trị có khả năng nâng cao tỷ lệ sống 5 năm.
5-FU (5-Fluorouracil) là thuốc hàng đầu trong hóa trị ung thư đại tràng, thường tiêm tĩnh mạch với liều 12–15 mg/kg mỗi ngày trong 5 ngày. Sau đó giảm liều xuống còn một nửa, tiêm cách ngày, cho đến khi xuất hiện dấu hiệu độc tính rõ rệt (như nôn mửa, tiêu chảy…), tổng liều đạt 8–10 g thì kết thúc một đợt. Phác đồ này ít tác dụng phụ hơn, có thể điều trị ngoại trú. Với bệnh nhân di căn gan, có thể dùng 5-FU đường uống 150–300 mg/ngày (tổng liều 10–15 g), nhưng hiệu quả kém hơn đường tiêm tĩnh mạch. Hiện nay, phần lớn ý kiến ủng hộ dùng phác đồ đa hóa trị kết hợp, song chưa có phác đồ thống nhất. Một số người đề nghị phác đồ MFC, gồm 5-FU 500 mg + Mitomycin (MMC) 4 mg + Cytarabin (Ara-C) 50 mg, phối hợp sử dụng, tuần đầu và tuần thứ hai dùng 2 lần/tuần tiêm tĩnh mạch, sau đó mỗi tuần 1 lần, tổng cộng 8–10 lần cho một đợt. Độc tính của hóa trị, ngoài phản ứng tiêu hóa, còn có ức chế tủy xương, cần theo dõi sát. Các thuốc hóa trị thường dùng khác gồm ftorafur, UFT, cyclophosphamide, BCNU (carmustine), CCNU (lomustine), MeCCNU (semustine)…
Xạ trị:
Hiệu quả điều trị bằng tia xạ còn hạn chế. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng:
Xạ trị trước mổ có thể làm khối u nhỏ lại, tăng tỷ lệ cắt bỏ được, giảm di căn hạch khu vực, hạn chế tế bào ung thư gieo rắc trong lúc mổ, giảm tái phát tại chỗ;
Xạ trị sau mổ: nếu bệnh nhân đã mổ triệt để nhưng khối u xâm lấn xuyên thành ruột, lan đến hạch bạch huyết, mạch bạch huyết hay mạch máu, hoặc còn sót lại tế bào ung thư tại chỗ mà chưa di căn xa, nên xạ trị sau mổ;
Xạ trị đơn thuần: đối với ung thư trực tràng giai đoạn muộn, đôi khi liều xạ nhỏ có thể giảm chảy máu và giảm đau tạm thời.
Liệu pháp lạnh (đông lạnh):
Sử dụng nitơ lỏng làm chất làm lạnh. Qua ống soi hậu môn, bộc lộ rõ khối u rồi dùng đầu lạnh dạng “đầu đạn” có kích thước phù hợp áp sát vào mô u, có thể tiêu diệt và phá hủy khối u hiệu quả. Ở bệnh nhân giai đoạn trung bình – muộn không còn chỉ định mổ, có thể cân nhắc áp dụng để giảm đau, tránh việc phải làm hậu môn nhân tạo; phối hợp thêm hóa trị có thể đạt kết quả khả quan.
Điều trị triệu chứng và hỗ trợ:
Bao gồm giảm đau và bổ sung dinh dưỡng.
Làm thế nào để phòng ngừa ung thư đại tràng, và tiên lượng ra sao?
Cần tích cực phòng ngừa và điều trị các tổn thương tiền ung thư, như polyp tuyến đại tràng, nhất là bệnh đa polyp đại tràng mang tính gia đình, phải cắt bỏ sớm. Đồng thời, chú trọng phòng chống bệnh sán máu, lỵ, viêm loét đại tràng… Duy trì chế độ ăn phù hợp, tránh ăn quá nhiều chất béo, tăng cường chất xơ, bảo đảm đi tiêu đều đặn. Với nhóm nguy cơ cao (tuổi trung niên trở lên), nên kiểm tra định kỳ: xét nghiệm máu ẩn trong phân, khám trực tràng bằng tay, nội soi đại tràng… nhằm phát hiện sớm ung thư kết tràng – trực tràng.
Theo báo cáo trong nước, ở những bệnh nhân ung thư đại tràng đã được xác nhận qua giải phẫu bệnh nhưng không được điều trị hiệu quả, thời gian sống trung bình tự nhiên chỉ khoảng 9,5 tháng. Tiên lượng phụ thuộc vào khả năng chẩn đoán sớm và phẫu thuật triệt để. Vì ung thư đại tràng giai đoạn đầu thường không có triệu chứng điển hình, đa số bệnh nhân khi chẩn đoán thì đã muộn, khiến tỷ lệ sống 5 năm sau mổ triệt để chỉ khoảng 50,21%. Những yếu tố ảnh hưởng tới tiên lượng gồm:
Mức độ biệt hóa của tế bào ung thư: Ung thư càng kém biệt hóa, tiên lượng càng xấu.
Tuổi phát bệnh: Bệnh nhân trẻ tuổi có tiên lượng kém hơn người cao tuổi.
Mức độ xâm lấn thành ruột và di căn hạch: Ung thư đại tràng giai đoạn sớm nhưng đã di căn hạch, tiên lượng xấu.
Yếu tố khác: Bệnh nhân ung thư đại tràng đã lan rộng quanh ruột, có tắc ruột, hoặc gặp biến chứng chảy máu, thủng, viêm phúc mạc mủ… đều có tiên lượng không tốt, tỷ lệ sống 5 năm thường chỉ bằng khoảng một nửa so với những trường hợp không có các biến chứng đó.
Ung thư đại tràng
Tỷ lệ mắc ung thư đại tràng (carcinoma of large intestine) ở Trung Quốc hiện còn thấp hơn so với các nước phát triển, nhưng gần đây đang có xu hướng tăng do thay đổi trong chế độ ăn. Trong số các ung thư đường tiêu hóa, ung thư đại tràng chỉ đứng sau ung thư dạ dày. Nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời, tỷ lệ sống 5 năm sau mổ có thể lên đến 90%. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc chẩn đoán sớm. Đa số bệnh nhân là người cao tuổi, nhưng tỷ lệ mắc ở người trẻ cũng đang tăng dần. Bệnh nhân thường biểu hiện thiếu máu, gầy sút, tăng số lần đại tiện, thay đổi hình dạng phân, trong phân có máu và dịch nhầy. Đôi khi sờ thấy khối ở bụng hoặc có triệu chứng tắc ruột. Tắc ruột thường gặp ở ung thư đại tràng xuống và ung thư trực tràng; ung thư manh tràng và đại tràng lên thường không gây tắc ruột, có thể do khác nhau về hình thái bệnh lý giữa ung thư đại tràng bên trái và bên phải.
Tổn thương
Vị trí: Hay gặp nhất ở trực tràng, sau đó là đại tràng sigma; hai vị trí này chiếm hơn 2/3 số ca ung thư đại tràng. Tiếp theo lần lượt là manh tràng, đại tràng lên, đại tràng xuống, đại tràng ngang. Có ý kiến cho rằng số ca ung thư gia tăng ở phần xa của đại tràng (gần hậu môn) còn liên quan đến việc hiện nay thường sử dụng ống soi trực tràng – đại tràng sigma để chẩn đoán. Một số ít bệnh nhân có khối u nhiều ổ, thường là do polyp đa phát hóa ác.
Hình ảnh đại thể (chia làm 4 loại chính):
Dạng lồi (隆起型): U nhô vào lòng ruột, gồm 2 kiểu phụ là dạng polyp lồi và dạng khối tròn có hình đĩa lõm. Dưới kính hiển vi thường là ung thư tuyến biệt hóa cao (adenocarcinoma).
Dạng loét (溃疡型): Bề mặt khối u loét sâu rõ rệt, chia thành 2 kiểu phụ: loét giới hạn (hình “miệng núi lửa”) và loét thâm nhiễm. Kiểu loét giới hạn có bờ sùi nhô lên như miệng núi lửa, ranh giới tương đối rõ; còn loét thâm nhiễm thì phần đáy loét rộng, xâm lấn sâu vào thành ruột, ranh giới với mô lành không rõ.
Dạng thâm nhiễm (浸润型): U lan tỏa vào lớp sâu của thành ruột, thường gây dày thành ruột, thu hẹp lòng ruột thành vòng, đôi khi gọi là “hình nhẫn” (vòng hẹp).
Dạng keo (胶样型): Bề ngoài cắt ra có chất nhầy trong suốt như thạch. Dưới kính hiển vi có thể là ung thư tuyến nhầy (mucinous carcinoma) hoặc ung thư tế bào nhẫn xâm lấn lan tỏa. Thể này ít gặp, hay xuất hiện ở trực tràng, gặp nhiều ở người trẻ và tiên lượng xấu.
Ung thư đại tràng bên trái thường thuộc dạng thâm nhiễm, dễ gây tắc ruột. Ung thư bên phải thường thuộc dạng polyp lồi và thường không dẫn đến tắc.
Phân loại mô bệnh học: Thông thường chia thành:
Ung thư tuyến nhú (papillary adenocarcinoma)
Ung thư tuyến (tubular adenocarcinoma), theo độ biệt hóa cao – vừa – kém
Ung thư tuyến nhầy (mucinous adenocarcinoma)
Ung thư tế bào nhẫn (signet-ring cell carcinoma)
Ung thư chưa biệt hóa (undifferentiated carcinoma)
Ung thư tuyến – vảy (adenosquamous carcinoma)
Ung thư vảy (squamous cell carcinoma), thường xảy ra ở đoạn gần hậu môn có biểu mô vảy, ít gặp.
Các tế bào ung thư đại tràng thường sản sinh một glycoprotein gọi là CEA (carcino-embryonic antigen), cũng thấy trong ung thư đường tiêu hóa khác và trong mô ruột phôi thai bình thường. Ở người bình thường, huyết thanh cũng có thể có một lượng rất nhỏ CEA, nên không thể dựa vào xét nghiệm CEA để chẩn đoán xác định. Tuy nhiên, theo dõi nồng độ CEA giúp đánh giá diễn biến bệnh: nếu sau mổ cắt u, CEA hạ rồi về sau tăng lại, gợi ý khối u tái phát hoặc di căn.
Phân giai đoạn (theo Dukes):
A: Khối u xâm lấn đến lớp niêm mạc dưới hoặc lớp cơ nhưng chưa xuyên cơ, chưa di căn hạch.
B: Khối u xâm lấn ra ngoài thành ruột đến mô xung quanh, nhưng chưa di căn hạch.
C: Ngoài tổn thương như trên, đã di căn hạch.
A nếu phẫu thuật sớm có thể khỏi. Ở giai đoạn B, tỷ lệ sống 5 năm sau mổ là 70%. Giai đoạn C giảm xuống 30%. Phân loại Dukes cổ điển không bao hàm ung thư đại tràng giai đoạn rất sớm (A1) và giai đoạn có di căn xa (D). Về sau, người ta chia nhỏ A thành A1 (ung thư rất sớm) và thêm D (di căn xa).
Hướng xâm lấn và di căn:
Tại chỗ: Do ung thư đại tràng biệt hóa tốt thường tiến triển chậm; trong khi lớp cơ vòng, cơ dọc có thể cản bớt sự xâm lấn. Trước khi khối u xâm nhập đến lớp cơ, hiếm khi có di căn hạch hay tĩnh mạch. Nếu đã xâm lấn thanh mạc, có thể lan sang các cơ quan lân cận (tuyến tiền liệt, bàng quang, phúc mạc…).
Qua đường bạch huyết: Ở giai đoạn sớm, khối u có thể lan theo các khoảng gian bào quanh dây thần kinh ruột và tới các hạch quanh đại tràng. Hạch bạch huyết đại tràng chia bốn nhóm (trên, cạnh, trung gian, gốc), đều có thể bị di căn. Ung thư trực tràng trước hết đến hạch cạnh trực tràng, rồi lan đến vùng chậu, quanh hậu môn.
Qua đường máu: Ở giai đoạn muộn, có thể di căn gan, phổi, xương… Khối u ở đại tràng phải thường di căn gan phải, còn u đại tràng trái có thể di căn cả hai thùy gan.
Nguyên nhân
Yếu tố di truyền: Có các báo cáo về ung thư đại tràng có tính gia đình, hoặc bệnh đa polyp đại tràng gia đình liên quan tới một đột biến gen đơn lẻ. Gần đây, người ta phát hiện gen ức chế khối u (anti-oncogene) p53 trên nhiễm sắc thể số 17 và gen MSH2 trên nhiễm sắc thể số 2 đều có vai trò quan trọng; khi bị đột biến mất chức năng, tế bào ruột không được kiểm soát, tăng sinh quá mức và ác tính. Trong polyp đại tràng chưa hóa ác, thường không thấy đột biến p53.
Yếu tố môi trường (đặc biệt là ăn uống): Ăn quá nhiều dinh dưỡng, ít chất xơ, thiếu cặn bã sẽ kéo dài thời gian phân lưu lại trong đại tràng, tăng tiếp xúc niêm mạc với chất gây ung thư. Khẩu phần giàu mỡ làm tăng acid mật, steroid trung tính và vi khuẩn yếm khí (chứa β-glucuronidase, 7α-dehydroxylase, cholesterol-dehydrogenase…), chuyển hóa acid mật và các steroid thành chất tiền ung thư hoặc chất gây ung thư (ví dụ hydrocarbon thơm đa vòng).
TÓM TẮT NGẮN GỌN
Chẩn đoán sớm là then chốt: Ở người trung niên/cao tuổi, đặc biệt có tiền sử gia đình bị ung thư hoặc polyp đại tràng, nếu có triệu chứng đi ngoài ra máu, thay đổi thói quen đại tiện hoặc thiếu máu thiếu sắt không rõ nguyên nhân, cần nghĩ đến ung thư đại tràng và kiểm tra kịp thời.
Phương pháp kiểm tra chủ yếu:
Xét nghiệm máu ẩn trong phân (sàng lọc), thăm trực tràng bằng tay (phát hiện ung thư trực tràng thấp), nội soi đại tràng sigma, chụp X-quang baryt (kết hợp bơm hơi), nội soi đại tràng toàn bộ (là phương pháp quan trọng nhất), đo CEA (theo dõi sau mổ).
Hình ảnh học hỗ trợ (siêu âm trực tràng, CT) đánh giá xâm lấn và di căn.
Điều trị:
Phẫu thuật cắt bỏ khối u là cách duy nhất có thể chữa triệt để, nhất là nếu phát hiện sớm. Trường hợp không cắt được hết thì có thể mổ tạm (hậu môn nhân tạo…).
Hóa trị (5-FU là thuốc chính) hỗ trợ trước/ sau mổ, diệt ổ di căn tiềm ẩn, giảm nguy cơ tái phát.
Xạ trị: Xạ trước/sau mổ (ung thư trực tràng) để giảm kích thước u, hạn chế tái phát tại chỗ; xạ trị giảm đau, cầm máu cho giai đoạn muộn.
Liệu pháp lạnh, điều trị triệu chứng (giảm đau, dinh dưỡng) bổ sung khi cần.
Phòng ngừa:
Kiểm soát các bệnh tiền ung thư (polyp tuyến, đặc biệt đa polyp gia đình), bệnh sán máu, viêm loét đại tràng…
Chế độ ăn giảm mỡ, tăng chất xơ, ngừa táo bón.
Tầm soát định kỳ (FOBT, nội soi…) ở nhóm nguy cơ cao giúp phát hiện sớm, cải thiện tiên lượng.
Tiên lượng:
Tùy thuộc giai đoạn bệnh (A, B, C, D). Giai đoạn sớm tỷ lệ sống cao, nếu đã di căn xa hoặc có biến chứng (tắc ruột, chảy máu, thủng…) tiên lượng xấu hơn.
Phẫu thuật triệt để ở giai đoạn A, B cho kết quả sống 5 năm khá cao (70%–90%), trong khi C khoảng 30%.
Nhìn chung, ung thư đại tràng có khả năng chữa khỏi nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Ngược lại, chẩn đoán muộn sẽ làm giảm đáng kể hiệu quả điều trị và tiên lượng sống.
NGUYÊN NHÂN GÂY UNG THƯ ĐẠI TRÀNG LÀ GÌ?
Ung thư đại tràng là khối u ác tính đường tiêu hóa thường gặp, chỉ đứng sau ung thư dạ dày và ung thư thực quản. Bệnh thường gặp ở nhóm tuổi 50–70, chỉ khoảng 5% số ca dưới 30 tuổi, tỷ lệ nam mắc nhiều hơn nữ. Nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa rõ, nhưng chủ yếu liên quan đến yếu tố ăn uống, các bệnh tiền ung thư và một số bệnh lý khác.
Yếu tố ăn uống:
Thiếu hụt chất xơ không hấp thu được trong thức ăn khiến thời gian lưu giữ phân trong ruột quá lâu, làm cho các chất gây ung thư trong phân tiếp xúc với thành ruột lâu hơn, tăng nguy cơ hấp thu. Ngược lại, chế độ ăn giàu chất xơ có khả năng hút nước, tăng khối lượng phân, giúp giảm nồng độ chất gây ung thư, rút ngắn thời gian lưu lại của phân, đồng thời “hấp phụ” (hút bám) chất gây hại rồi tống ra ngoài, từ đó giảm nguy cơ ung thư đại tràng.
Bệnh sán máu (Schistosomiasis):
Ở vùng lưu hành bệnh sán máu, tỷ lệ ung thư đại tràng tăng cao. Người ta cho rằng trứng sán lắng đọng lâu dài ở niêm mạc đại tràng gây viêm loét, xơ hóa và viêm mạn tính tái đi tái lại, trên nền đó dễ phát sinh ung thư đại tràng.
Viêm đại tràng mạn:
Mối liên quan giữa viêm đại tràng mạn và ung thư đại tràng rất mật thiết. Theo một số báo cáo, người mắc viêm đại tràng mạn có nguy cơ bị ung thư đại tràng cao gấp 6,9 lần người bình thường, trong đó khoảng 10%–20% bệnh nhân có thể chuyển thành ung thư.
Viêm loét đại tràng xuất huyết (Ulcerative Colitis):
Bệnh này có nguy cơ ác tính hóa (hoá ung thư) cao hơn nhiều. Trong số bệnh nhân bị bệnh trên 10 năm, có khoảng 50% tiến triển thành ung thư.
Polyp tuyến đại tràng và ung thư đại tràng:
Polyp tuyến (adenomatous polyp) có liên quan chặt chẽ đến ung thư đại tràng, đặc biệt là bệnh đa polyp gia đình (familial adenomatous polyposis – FAP). Đây là bệnh di truyền trội trên nhiễm sắc thể; khoảng 40%–50% con cháu của người bệnh có thể phát bệnh. Từ 8–10 tuổi, polyp tuyến đã bắt đầu hình thành, nếu không điều trị, 100% sẽ ung thư hóa trước tuổi 40.
Táo bón:
Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng gây ung thư đại tràng.
Hút thuốc lá nhiều:
Có mối liên quan giữa hút thuốc lá số lượng lớn với ung thư đại tràng.
NHỮNG NHÓM NGUY CƠ CAO MẮC UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Người trên 30–40 tuổi có triệu chứng ở đường tiêu hóa dưới.
Người có polyp tuyến, viêm loét đại tràng mạn, u hạt do sán máu (Schistosoma japonicum).
Người có tiền sử gia đình bị ung thư, hoặc mắc bệnh đa polyp gia đình, viêm loét đại tràng mạn.
Người từng xạ trị ở khung chậu.
Người đã cắt bỏ túi mật hoặc ruột thừa.
CÁC DẤU HIỆU CẢNH BÁO SỚM UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Phân lẫn máu tươi nhưng không thể giải thích được bằng bệnh trĩ.
Đi ngoài nhiều lần, phân có máu và nhầy mủ, cảm giác mót rặn, điều trị như lỵ không thuyên giảm.
Thay đổi thói quen đại tiện (tăng số lần đi cầu, đi cầu ra nhầy), táo bón hoặc tiêu chảy, hoặc xen kẽ cả hai kéo dài trên 3 tuần.
Hình dạng phân thay đổi: phân nhỏ, dẹt hoặc có rãnh.
Thiếu máu, đồng thời xét nghiệm phân nhiều lần thấy có máu ẩn.
Khó chịu, âm ỉ đau hoặc trướng ở vùng bụng dưới, sờ thấy khối u bụng (20,1% trường hợp khi sờ được u ở đại tràng vẫn còn ở giai đoạn I), sụt cân.
Tắc ruột.
BIỂU HIỆN LÂM SÀNG CỦA UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Khối u ở bụng do bướu to dần.
Tiêu chảy xen kẽ táo bón, thường kèm cảm giác mót rặn (đi không hết phân), sa, tức nặng hậu môn, muốn đi tiêu nhưng chỉ ra ít nhầy, có thể 20–30 lần/ngày. Phân lẫn máu mủ hoặc ra máu nhiều.
Có thể tắc ruột khi khối u lớn gây hẹp lòng ruột hoặc bít tắc.
Giai đoạn muộn: thiếu máu, cổ trướng, chán ăn, biểu hiện suy kiệt điển hình (hội chứng ung thư tiến triển).
CÁC ĐƯỜNG LAN TRUYỀN (DI CĂN) CỦA UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Xâm lấn trực tiếp:
Khối u lan rộng quanh thành ruột, vừa xâm lấn dọc theo lòng ruột, vừa phá vỡ lớp thành ruột từ trong ra ngoài, cũng có thể xâm phạm các cơ quan lân cận như tá tràng, gan, túi mật, dạ dày, bàng quang, tử cung, tuyến tiền liệt…
Gieo rắc (trồng) trong ổ bụng:
Khi tế bào ung thư xâm lấn đến thanh mạc, chúng có thể bong ra vào xoang bụng và gieo rắc tại đó, gây ra cổ trướng máu.
Di căn hạch bạch huyết:
Ung thư đại tràng sau khi xâm lấn đến lớp cơ niêm có nguy cơ di căn hạch. Tế bào khối u vào hệ bạch huyết, lan dần lên các hạch. Ung thư ống hậu môn (anal canal) có thể gây phì đại hạch bẹn.
Di căn qua đường máu:
Rất thường gặp. Tế bào ung thư vào tĩnh mạch, rồi qua tĩnh mạch mạc treo đến tĩnh mạch cửa, nên gan là nơi di căn hàng đầu.
QUAN ĐIỂM ĐÔNG Y VỀ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Trong y học cổ truyền, không có danh mục bệnh “ung thư đại tràng” đúng nghĩa, nhưng các bệnh “tràng tham”, “phần giáp (phận giáp)”, “tạng độc tiện huyết”, “khóa hậu môn (tỏa giang trĩ)”… có triệu chứng tương tự. Đông y cho rằng căn nguyên là lo buồn giận dữ, ăn uống thất thường, mắc bệnh lỵ mạn tính, làm tổn thương chức năng tỳ, khí trệ huyết ứ, kết tụ độc tà, thấp nhiệt ứ đọng ở đại tràng, đọng lại mà thành khối.
CẦN PHÂN BIỆT UNG THƯ ĐẠI TRÀNG VỚI NHỮNG BỆNH GÌ?
Bệnh trĩ: Ung thư trực tràng hay bị chẩn đoán nhầm là trĩ. Thông thường, trĩ nội ra máu tươi không đau, máu không trộn lẫn vào phân. Còn ung thư đại tràng thường kèm nhầy mủ và kích thích đại tràng. Khám trực tràng bằng tay, nội soi trực tràng giúp phân biệt.
Lỵ amip (amip mạn tính): Giai đoạn mạn tính, ổ loét có thể có hạt thịt sùi, xơ hóa quanh ruột, dễ nhầm với khối u. Cần sinh thiết để xác định.
Lao ruột (hay gặp ở hồi manh tràng): Bệnh nhân thường trẻ, có tiền sử lao cơ quan khác. Thể lao ruột tăng sinh có nhiều hạt lao và mô xơ, làm dày cứng thành ruột, giống ung thư manh tràng. Chụp baryt (hoặc nội soi) có thể thấy “hiện tượng kích thích” hoặc “tổn thương nhảy cóc”. Sinh thiết xác định chẩn đoán.
Crohn’s disease (viêm ruột cục bộ): Thường gặp ở người trẻ, có đau bụng, tiêu chảy, sốt, gầy sút, thiếu máu, chán ăn, buồn nôn, nôn, khối bụng, rò. Xét nghiệm X-quang, nội soi đại tràng sẽ giúp chẩn đoán phân biệt.
Lỵ trực khuẩn mạn (dysentery): Bệnh nhân có đau bụng, tiêu chảy, ít máu mủ, mót rặn nhẹ. Làm cấy phân, thụt baryt, nội soi để chẩn đoán.
Viêm loét đại tràng mạn (Ulcerative Colitis): Giống lỵ mạn, nhưng tái phát nhiều lần, cấy phân âm tính, nội soi sigma thấy niêm mạc dạng hạt, mất nét mạch máu, loét nhỏ hình bầu dục phủ giả mạc vàng trắng, nặng có ổ loét lớn không đều.
Khác: Viêm hạch bạch huyết hoa liễu, lạc nội mạc tử cung tại trực tràng, viêm túi thừa đại tràng… cần dựa vào triệu chứng, xét nghiệm X-quang, nội soi kết hợp để chẩn đoán.
BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Xây dựng thói quen và lối sống lành mạnh:
Hạn chế ăn nhiều chất béo bão hòa, tăng cường thức ăn giàu chất xơ (các loại cám, ngũ cốc nguyên hạt, rau củ quả…). Ăn rau xanh, trái cây tươi, nhất là các loại giàu vitamin A, C.
Phòng chống bệnh sán máu.
Ngăn ngừa các tổn thương tiền ung thư:
Cắt bỏ polyp tuyến đại tràng, nhất là với bệnh đa polyp gia đình. Tích cực điều trị viêm đại tràng mạn.
Bổ sung canxi đường uống đối với người có tiền sử gia đình ung thư đại tràng hoặc nguy cơ cao, có thể giảm tỷ lệ mắc bệnh. Dùng các chất dự phòng hóa học như vitamin A, E, β-caroten, 4-HPR, liều cao vitamin C (ngừa hình thành polyp).
THÓI QUEN ĂN UỐNG GÂY UNG THƯ KẾT TRÀNG VÀ CÁCH PHÒNG NGỪA
Các yếu tố ăn uống gây ung thư kết tràng:
Tỷ lệ ung thư kết tràng tăng tỷ lệ thuận với lượng mỡ và đạm động vật tiêu thụ.
Chế độ ăn “phương Tây” giàu protein và chất béo, lại ít chất xơ, khiến phân ít, thời gian ở ruột dài, nồng độ chất gây ung thư cao, tiếp xúc niêm mạc ruột lâu.
Cách phòng ngừa:
Ăn nhiều rau quả giàu chất xơ (rau xanh, trái cây…) để đi tiêu thông suốt, giảm thời gian tiếp xúc.
Giảm chất béo, thịt động vật để hạn chế sản phẩm chuyển hóa gây ung thư.
TẠI SAO ĂN NHIỀU THỊT BÒ CÓ THỂ DẪN ĐẾN UNG THƯ RUỘT, VÀ ĂN THẾ NÀO CHO AN TOÀN?
Thịt bò chứa chất propionaldehyde (viết tắt “丙醛”) – một chất gây ung thư mạnh, nhưng không phải vì thế mà không dám ăn. Thực ra, thịt heo, thịt dê, thịt gà cũng có chất này, nhưng hàm lượng thấp hơn.
Lưu ý: Giữ thịt bò tươi, tránh để lâu vì hàm lượng chất gây ung thư tăng theo thời gian; không ăn quá nhiều (tối đa 2–3 lần/tuần); không ăn thịt bò bệnh.
NGỒI LÂU MỘT CHỖ CÓ NGUY CƠ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG KHÔNG?
Theo nghiên cứu ở Đại học California (Mỹ), người ngồi bàn giấy nhiều năm, ít vận động là một yếu tố nguy cơ gây ung thư đại tràng. Trong khảo sát 2.900 nam giới ở Los Angeles, thấy rằng cường độ hoạt động thể lực càng cao, nguy cơ mắc ung thư đại tràng càng thấp; những người ít vận động có nguy cơ cao gấp 1,6 lần. Do đó, những ai làm việc văn phòng cần duy trì hoạt động thể lực thường xuyên để giữ sức khỏe.
BỔ SUNG CANXI TRONG CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CÓ NGĂN ĐƯỢC UNG THƯ RUỘT KHÔNG?
Các nghiên cứu cho thấy canxi có thể ức chế sự tăng sinh của tế bào ung thư ruột, nếu bổ sung 2–3 tháng thì tế bào có xu hướng trở về bình thường. Kết quả ở những người có tiền sử gia đình ung thư kết tràng hoặc dấu hiệu sớm ung thư đại – trực tràng, khi được bổ sung canxi, sau 2–3 tháng, tốc độ phân bào trở lại mức bình thường. Liều canxi 1,25 g/ngày có thể đảo ngược tình trạng tăng sinh bất thường. Cơ chế có thể do canxi liên kết với acid béo, acid mật, trực tiếp ức chế sự tăng sinh tế bào ung thư. Đồng thời, một số khảo sát dịch tễ cũng cho thấy vùng dùng nước “mềm” (hàm lượng canxi thấp) có tỷ lệ ung thư đại trực tràng hơi cao hơn vùng dùng nước “cứng” (nhiều canxi).
TỎI CÓ PHÒNG CHỐNG ĐƯỢC UNG THƯ KẾT TRÀNG KHÔNG?
Nghiên cứu trên chuột thí nghiệm cho thấy hợp chất “tỏi hôi” (allicin) có thể giảm 75% nguy cơ ung thư kết tràng ở chuột được gây ung thư bằng hóa chất. Nếu chứng minh được hiệu quả tương tự ở người, tỏi có thể trở thành “vũ khí” quan trọng trong phòng chống ung thư.
PHƯƠNG PHÁP “BA KẾT HỢP” TRỊ UNG THƯ KẾT TRÀNG: RAU – QUẢ – THUỐC
Ở Mỹ, nghiên cứu dịch tễ cho thấy ăn nhiều rau quả ít bị ung thư kết tràng, dùng aspirin lâu dài cũng giảm 50% nguy cơ. Ngược lại, ăn ít rau quả mà lại không dùng aspirin thì nguy cơ mắc ung thư kết tràng tăng nhiều lần so với nhóm ăn nhiều rau quả và dùng aspirin.
Cơ chế: Rau quả giàu chất chống oxy hóa; còn aspirin ức chế tổng hợp prostaglandin, góp phần kháng ung thư.
Tuy nhiên, cần lưu ý tác dụng phụ của aspirin.
Khuyến nghị: Tập thể dục thường xuyên, tăng rau quả – giảm thịt mỡ, có thể dùng aspirin liều thấp như biện pháp “bổ sung” cho người ít ăn rau. Người trên 50 tuổi nên kiểm tra phân ẩn máu và khám trực tràng hằng năm, nội soi 3–5 năm/lần.
C ÁCH CHỌN DÙNG ĐÔNG DƯỢC ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Phương thuốc
Dùng trong (sắc uống):
Chích hoàng kỳ, sinh bạch thược, đảng sâm: mỗi thứ 15g
Đương quy, diên hồ sách: mỗi thứ 12g
Xuyên luyện tử, bán hạ: mỗi thứ 9g
Trần bì, chích cam thảo, mộc hương: mỗi thứ 6g
Giáng hương (绛香): 3g
Dùng ngoài (đắp):
Nhũ hương, hồng hoa: mỗi thứ 6g
Xích thược, đào nhân, sinh hương phụ: mỗi thứ 12g
A ngùy (阿魏): 4,5g
Tất cả tán mịn.
Chỉ định
Dành cho ung thư kết tràng (kết tràng đại tràng). Triệu chứng: đau bụng, đi tiêu không trôi chảy, phân lỏng không thành khuôn, người gầy, da vàng tái; lưỡi gầy teo, mạch huyền hoạt. Thuộc thể khí trệ huyết ứ, ứ độc kết tụ, tà nhiệt thịnh, chính khí suy kiệt.
Cách dùng
Thuốc trong: Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang.
Thuốc ngoài: Dùng bột thuốc trộn với mật ong thành dạng hồ, đắp chỗ đau, cố định bằng gạc, mỗi 24 giờ thay một lần.
Phương thuốc
Đảng sâm, thạch hộc, mạch môn, bá tử nhân, phục thần, tang phiêu tiêu, phúc bồn tử, thỏ ty tử, bổ cốt chỉ: mỗi thứ 9g
Hoàng kỳ, dạ giao đằng: mỗi thứ 15g
Trần bì, can khương chế bán hạ: mỗi thứ 6g
Sa nhân: 1,5g
Chỉ định
Ung thư kết tràng sau mổ, di căn hạch bạch huyết. Biểu hiện: đi tiêu ra máu, đầy ngực buồn nôn, chướng bụng ăn kém, phân lỏng nát, ra mồ hôi trộm, khát nhiều, họng nhiều đàm dính, người gầy yếu, sốt âm ỉ.
Cách dùng
Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang.
Phương thuốc
Thái tử sâm, thạch hộc, con gián (tán chế) (蟑螂), cốc nha, mạch nha: mỗi thứ 12g
Tiêu bạch truật (bạch truật sao cháy), phục linh: mỗi thứ 9g
Chích cam thảo, xuyên liên (hoặc hoàng liên Tứ Xuyên): mỗi thứ 3g
Ngải mộc hương: 4,5g
Bạch hoa xà thiệt thảo: 30g
Long khổi (long cù, rồng đen): 18g
Phật thủ: 6g
Chỉ định
Sau phẫu thuật ung thư kết tràng. Đi tiêu nhiều lần, phân lỏng, chán ăn mệt mỏi, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch hư tế.
Cách dùng
Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang.
Phương thuốc
Bát giác kim bàn, sinh sơn tra: mỗi thứ 12g
Thạch kiến xuyên, sơn từ cô, bát nguyệt sá, hoàng kỳ, kê huyết đằng: mỗi thứ 30g
Bại tương thảo, đảng sâm, đan sâm: mỗi thứ 15g
Đại hoàng: 6g
Chỉ xác: 10g
Chỉ định
Ung thư trực tràng giai đoạn muộn.
Cách dùng
Sắc nước uống, mỗi ngày 1 thang, 30 ngày là 1 liệu trình.
DANH Y & BÀI THUỐC CHỮA UNG THƯ ĐẠI TRÀNG NỔI TIẾNG
Giáo sư Thiệu Mộng Dương (Bệnh viện Ung thư Hà Nam) chia sẻ 2 bài thuốc
Bài thuốc 1: Hoàng bạch long đằng thang (黄白龙藤汤)
Phương thuốc:
Hoàng bá 10g, bạch anh (白英) 30g, long đởm (long cô, tức long huy) 30g, bạch đầu ông 20g, bạch truật 10g, thương truật 10g, sinh ý dĩ nhân 30g, hậu phác 10g, vân linh 10g, nguyên hồ (diên hồ sách) 10g, bại tương thảo 30g, xuyên luyện tử 10g, xuyên hoàng liên 3g (hòa tan), đằng lê căn (藤梨根) 30g.
Công năng: Kiện tỳ trừ thấp, thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết bài nùng.
Chỉ định: Ung thư kết tràng, trực tràng.
Cách dùng: Mỗi ngày 1 thang, sắc hai lần (nước đầu, nước hai), uống chia 2 lần.
Chú ý: Kiêng đồ chua cay. Liệu trình điều trị 2–3 tháng.
Bài thuốc 2: Hồng đằng mã liên thang (红藤马莲汤)
Phương thuốc:
Hồng đằng 30g, đằng lê căn 30g, mã xỉ hiện (mã đề) 30g, thổ phục linh 30g, bán chi liên 30g, bạch anh (白英) 30g, hài nhi trà (孩儿茶) 10g, bại tương thảo 30g, mã vĩ liên 20g, mộc hương 10g, hậu phác 10g, tam lăng 10g, bồng nga truật 10g, xuyên luyện tử 10g.
Công năng: Thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết tiêu sưng, trị lỵ liền loét, tiêu ung tán kết.
Chỉ định: Mỗi ngày 1 thang, sắc 2 lần, chia 2 lần uống.
Cách dùng: Sau khi uống, nếu có buồn nôn, nôn, đầy bụng, kém ăn, có thể chia thuốc sắc làm 2 phần uống, giảm bớt tác dụng phụ.
Giáo sư Vương Tự Ngao (Đại học Trung y Chiết Giang) giới thiệu 2 bài thuốc
Bài thuốc 1
Phương thuốc:
Hoè giác, ngân hoa: mỗi thứ 12g
Bạch hoa xà thiệt thảo, sinh ý dĩ nhân, đằng lê căn, thổ phục linh: mỗi thứ 30g
“Mao nhân sâm” (một vị thảo dược), 60g
Vô hoa quả 15g
Trắc bách diệp, khổ sâm, sinh địa: mỗi thứ 9g
Chỉ định: Ung thư trực tràng giai đoạn muộn có đi ngoài ra máu, phân dẹt, có nhầy mủ, đau bụng buồn nôn, chán ăn, miệng khô đắng, rêu trắng nhớt, lưỡi sẫm tím, thuộc thể thấp tà hạ chú, ứ độc kết ở ruột.
Công năng: Giải độc lợi thấp, khử ứ thông tiện.
Cách dùng: Sắc uống ngày 1 thang, gia giảm theo chứng.
Bài thuốc 2
Phương thuốc:
Thái tử sâm 12g, khương bán hạ, đương quy: mỗi thứ 6g
Bạch truật sao, phục linh, khổ sâm: mỗi thứ 9g
Sinh ý dĩ nhân, đằng lê căn: mỗi thứ 30g
Vô hoa quả 15g
Mao nhân sâm 60g
Công năng: Dưỡng âm bổ huyết, kiện tỳ dưỡng sinh.
Chỉ định: Ung thư trực tràng giai đoạn muộn, sau phẫu thuật hao tổn khí huyết, tỳ vị hư nhược.
Cách dùng: Sắc uống ngày 1 thang.
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĂN UỐNG CHỐNG XUẤT HUYẾT Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ RUỘT
Bài 1
Phương thuốc: Kim châm (hoàng hoa thái) 30g, mộc nhĩ 15g, huyết dư thán (than bã máu) 6g.
Chỉ định: Ung thư ruột xuất huyết.
Cách dùng: Nấu kim châm và mộc nhĩ lấy khoảng 1 bát nước, sau đó cho huyết dư thán vào, mỗi ngày 1 thang.
Bài 2
Phương thuốc: Mộc nhĩ đen 30g, táo đỏ 30 quả.
Chỉ định: Ung thư ruột xuất huyết.
Cách dùng: Sắc nước uống ấm, mỗi ngày 1 thang.
MỘT SỐ “KINH NGHIỆM DÂN GIAN” CHO UNG THƯ RUỘT
Dùng quả kiwi tươi 125g, ăn sống, 2 lần/ngày.
Nhân nha đam (hạt “nhựa đắng” của trái khổ qua) còn gọi nhầm là Nha đam hạt, hoặc Hạt “Nha đam chim” hay Áp đan tử (鸦胆子) (đã bóc vỏ) 36 hạt, gói cùng thịt long nhãn hoặc vỏ nang rỗng, mỗi gói 3 hạt. Uống mỗi lần 4 gói, ngày 3 lần.
Lưu ý: Không nên nhai, vì vị rất đắng; một số người có thể buồn nôn, đau bụng, tiêu chảy…
Ốc đồng tươi 15 con, nung cháy đến khi vỏ trắng, thịt khô, tán bột. Mỗi lần 5 con (tương đương 5g bột?), ngày 3 lần, uống cùng rượu vang nóng.
Ốc sên (hoặc ốc tai tượng) tươi 30–50 con, rửa sạch, nấu với 100g thịt nạc, ăn thịt uống nước, ngày 1 thang.
THỰC DƯỠNG BẢO VỆ CƠ THỂ SAU HÓA TRỊ UNG THƯ RUỘT
Vịt nấu nấm hương: Nấm hương, thịt vịt, măng khô, tôm khô… nấu canh, giúp bảo vệ tủy xương.
Óc lợn (tuỷ sống) với bột hoài sơn: Tỷ lệ 1:3, trộn thêm mật ong dùng, bảo vệ tủy xương.
Canh đậu xanh – bách hợp – táo đỏ: Thanh nhiệt, bảo vệ niêm mạc miệng.
Chè ngân nhĩ – băng đường: Ngân nhĩ (mộc nhĩ trắng), táo xanh, sơn tra… giúp ngừa loét miệng.
Ăn con “nê loa” (một loại ốc biển) cũng giúp ngừa tổn thương niêm mạc miệng.
Cá chạch (hoặc cá trạch) + đậu phụ + giấm, bảo vệ gan.
Hải man nấu hoàng hoa: Hải man (cá chình biển) + hoa kim châm (hoàng hoa), bảo vệ gan. Có thể dùng quy (ba ba), giáp ngư (thịt rùa) thay hải man.
Nghêu/ hến xào cá thanh (cá trắm xanh…), giúp phòng ngừa tổn hại gan.
NHỮNG LOẠI CHÁO THUỐC HỮU ÍCH CHO UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Cháo sữa bò – mật ong: Sữa bò tươi 100ml, mật ong vừa đủ, gạo tẻ 100g, nấu cháo, ăn tùy thích.
Cháo bán chi liên: Bán chi liên 15g, bạch hoa xà thiệt thảo 25g, thịt heo băm 50g, lõi bắp cải 50g, gạo tẻ 100g, muối 7g, bột ngọt 2,5g, dầu mè 20g.
MÓN ĂN BÀI THUỐC PHÒNG & TRỊ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Khổ qua xào
Nguyên liệu: Khổ qua 250g, gừng 1 lát, hành 1 cọng.
Cách làm: Khổ qua bỏ ruột, thái sợi; gừng, hành xắt nhỏ. Phi gừng, hành rồi cho khổ qua vào xào sơ, nêm muối. Dùng ăn hoặc ăn kèm cơm.
Mộc nhĩ – Phù trúc hầm thịt thỏ
Nguyên liệu: Mộc nhĩ 15g, phù trúc (tàu hũ ky) 1 thanh, thịt thỏ 350g, gừng 2 lát.
Cách làm: Ngâm mộc nhĩ, cắt phù trúc, thịt thỏ cắt miếng, gừng thái lát. Xào sơ rồi cho nước, hầm lửa nhỏ, nêm nếm.
Đậu xanh – nếp nhồi ruột già heo
Nguyên liệu: Ruột già heo ~ 50cm, đậu xanh nửa cốc, nấm đông cô 3 cái, gạo nếp 1/4 cốc (điều chỉnh tùy độ dài ruột).
Cách làm: Ngâm đậu xanh, gạo nếp 3 giờ, nấm đông cô ngâm mềm rồi băm, ruột già heo rửa với muối. Trộn tất cả, nêm gia vị, nhồi vào ruột, buộc hai đầu, ninh khoảng 2 giờ, cắt khoanh, chế thêm nước xốt.
TRỊ ĐAU BỤNG DO DÍNH RUỘT SAU MỔ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Phương pháp hỏa quán (giác hơi)
Huyệt: Chính huyệt (thận du, đại trường du, vùng vết mổ), phối hợp huyệt túc tam lý.
Cách làm: Dùng cốc giác lửa kích cỡ phù hợp, đặt lên lưng (vùng huyệt), sau đó vùng vết mổ 4–6 lượt, huyệt phối hợp 1–2 lượt. Giữ cốc 10–15 phút, mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần, 2 tuần 1 liệu trình.
Phương pháp dán rốn
A ngùy nhị hương cao
Thành phần: A ngùy, mộc hương, đinh hương (mỗi thứ 1 ít).
Cách làm: Tán mịn, trộn trong cao dán hoặc băng keo y tế, dán lên rốn.
NGOÀI TRỊ LIỆU CHO UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Dùng rễ cây tự nhiên
Tử thảo 200g, hoàng liên, hoàng cầm, hoàng bá: mỗi thứ 100g, sắc bỏ bã, thêm băng phiến 5g. Mỗi ngày sau đại tiện, bơm vào hậu môn vùng khối u, ngày 1 lần hoặc cách ngày 1 lần, liên tục 1 tháng.
Dùng “thuốc đạn”
Đào nhân, hồng hoa, một dược, mộc miết tử, ngũ bội tử: mỗi 15g, nhân quả đào 25g, huyết kiệt, xuyên khung: mỗi 10g. Tán mịn, phi với 300g dầu ăn cho cháy đen, thêm 150g sáp trắng, 5g xạ hương, nguội thì nắn thành thanh dài, bỏ vào hũ, chôn xuống đất 2 đêm. Mỗi lần sau đi cầu, nhét 1 thanh vào hậu môn.
TRỊ TÁO BÓN CHO BỆNH NHÂN UNG THƯ RUỘT BẰNG CHÁO
Cháo Tô tử – Ma nhân
Nguyên liệu: Hạt vừng (ma tử nhân), hạt tía tô (tô tử) mỗi 10–15g, gạo tẻ 60g.
Cách dùng: Nghiền nhỏ 2 loại hạt, hòa nước, lọc bã, nước đó nấu cháo, ăn khi đói.
Cháo Ma nhân
Nguyên liệu: Hạt vừng đen 30g, gạo tẻ 60g.
Cách dùng: Giã nhuyễn, lọc bã lấy nước, nấu cháo, khi chín nêm gia vị (hành, tiêu, muối, đậu, …) vừa ăn.
Cháo Uất lý nhân
Nguyên liệu: Hạt uất lý nhân (một loại hạnh nhân rừng) 10–15g, gạo tẻ 20–100g.
Cách làm: Đập nát hạt, nấu lấy nước hoặc sắc bỏ bã, cho gạo vào nấu cháo, ăn 2 lần/ngày, 3–5 ngày/đợt.
Cháo Khiên ngưu tử
Nguyên liệu: Bột khiên ngưu tử 1g, gạo tẻ 50–100g, gừng tươi 2 lát.
Cách nấu: Nấu gạo thành cháo, khi sôi bỏ bột khiên ngưu tử và gừng vào, đun nhừ. Không nên dùng lâu.
CÁC MÓN CANH “LÀNH” HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ RUỘT
Sơn dược – Liên – Ý dĩ thang
Nguyên liệu: Củ mài, hạt sen bỏ tâm, ý dĩ: mỗi thứ 30g, thêm ít đường trắng.
Cách làm: Tất cả nấu sôi, lửa nhỏ ninh chín, thêm đường.
Công năng: Kiện tỳ, lợi thấp, tiêu ứ, chống ung thư. Phòng và hỗ trợ điều trị ung thư ruột, hợp người tỳ hư, phù thủng, tiêu chảy kéo dài, khí hư, băng lậu…
Canh cá đá (thạch thủ) – ô mai
Công năng: Kiện tỳ, ích vị, sinh tân, tỉnh thần, ngừa ung thư. Dành cho người ung thư ruột tỳ vị hư, tiêu chảy kéo dài.
Ô long trà – ô mai thang
Nguyên liệu: Trà ô long 6g, ô mai 12g, thêm mật ong vừa đủ.
Cách làm: Sắc nước, bỏ bã, thêm mật ong, uống lâu dài.
Công năng: Thanh nhiệt giải độc, lợi niệu, cầm tiêu chảy, kháng ung thư. Dùng cho lỵ, tiêu chảy, ung thư trực tràng.
Bán chi liên – xà thiệt thảo thang
Nguyên liệu: Bán chi liên 50g, bạch hoa xà thiệt thảo 60g, mật ong 15–30g.
Cách làm: Hai vị dược thêm 15 chén nước, đun 2 tiếng, bỏ bã, thêm mật ong, uống nhiều lần, dùng lâu dài.
Công năng: Thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết khử ứ, kháng ung thư. Dành cho bệnh nhân ung thư ruột.
Canh tỏi – tiết ngỗng
Nguyên liệu: Tỏi tươi 100g, tiết ngỗng tươi 250g, dầu muối gia vị.
Cách làm:
Tỏi rửa sạch, băm nhỏ; tiết ngỗng luộc chín, cắt khối.
Phi tỏi với ít dầu, thêm nước, nấu sôi rồi cho tiết ngỗng vào nấu sôi, nêm nếm. Cách ngày dùng 1 lần.
Công năng: Khoan trung tiêu trướng, kiện tỳ bổ huyết, giải độc kháng ung thư. Thích hợp phòng – trị ung thư ruột.
Mã xỉ hiện – mật táo thang
Nguyên liệu: Mã xỉ hiện (rau sam) 500g, tỏi 1 củ, táo ngọt (mật táo) 2 quả, muối.
Cách làm:
Rau sam rửa sạch.
Tỏi bóc vỏ, đập dập.
Táo rửa sạch.
Tất cả cho vào nồi, thêm nước, đun lửa to, sôi thì hạ lửa vừa, nấu 2 giờ, nêm ít muối.
Công năng: Thanh nhiệt giải độc, kiện vị chỉ tả. Hợp cho bệnh kết/ trực tràng, đau hậu môn, phân có mủ máu, tiêu chảy nhiều lần, bụng đau trướng, ăn uống kém.
Hoài sơn – hà thủ ô – mực
Nguyên liệu:
Hoài sơn (sơn dược) 40g, hàn liên thảo (cỏ mực) 40g, mực tươi 1 con (~750g), trần bì 10g, thịt heo 80g, muối.
Cách làm:
Mực bỏ da, nội tạng, rửa sạch, giữ lại xương mực.
Hoài sơn, trần bì, cỏ mực rửa sạch.
Thịt heo rửa sạch.
Nấu nước sôi, cho tất cả vào, đợi sôi rồi hạ lửa, hầm 3 giờ, nêm muối.
Công năng: Kiện tỳ ích vị, giảm đau cầm tiêu chảy, thu liễm chỉ huyết. Hợp với bệnh kết/ trực tràng đau bụng, tiêu chảy mủ máu, sút cân…
Mộc nhĩ – hải sâm hầm ruột heo
Nguyên liệu: Ruột già heo 250g, mộc nhĩ 15g, hải sâm ngâm nở 120g.
Cách làm:
Mộc nhĩ ngâm rửa; hải sâm rửa, thái sợi; ruột già heo xát muối, chần nước sôi, rửa lại, cắt khúc.
Tất cả vào nồi, thêm nước, đun to lửa sôi rồi hạ lửa vừa, nấu 1–2 giờ, nêm nếm.
Công năng: Bổ âm dưỡng huyết, lương huyết chỉ lỵ. Hợp bệnh ung thư ruột thuộc âm huyết hư, nhiệt thương mạch ruột, đại tiện ra máu mủ, đau bụng âm ỉ, miệng khô khát, ăn kém.
Chú ý: Người ung thư ruột thể tỳ hư hàn thấp tiêu chảy nên thận trọng cân nhắc.
Canh hoàng hoa – mộc nhĩ – thịt gà
Nguyên liệu: Hoàng hoa (kim châm) 30g, mộc nhĩ đen 9g, thịt gà 250g.
Cách làm:
Hoàng hoa rửa, mộc nhĩ ngâm nở, gà rửa cắt sợi, ướp gia vị.
Đun sôi hoàng hoa, mộc nhĩ 10 phút, cho thịt gà vào, nấu chín, nêm vừa ăn.
Công năng: Bổ huyết, trừ thấp, cầm lỵ. Hợp bệnh ung thư ruột thuộc huyết hư, thấp ứ, mặt vàng, hoa mắt, đau bụng âm ỉ, phân dính máu mủ…
MÓN ĂN BÀI THUỐC HỖ TRỢ UNG THƯ RUỘT
Đậu đũa xào
Nguyên liệu: Đậu đũa tươi 250g, hành 1 cọng, gừng 1 lát.
Cách làm: Rửa đậu, hành cắt khúc, gừng thái chỉ, xào với ít dầu, nêm muối.
Công năng: Ôn trung kiện tỳ, bổ thận nạp khí. Hợp bệnh ung thư tiêu hóa thể tỳ vị hư hàn (hay ợ, chán ăn, khó tiêu, đầy bụng, nôn nước dãi…) hoặc ung thư tiết niệu thể thận dương bất túc (đau lưng, suyễn, tiêu lỏng…).
Chú ý:
Không nấu chín quá lâu, tránh mất hoạt tính.
Ung thư thể táo nhiệt không thích hợp.
Cá trạch giã nhuyễn nhồi cà tím
Nguyên liệu: Cà tím 3 quả, nấm đông cô 5 cái, thịt cá trạch xay 250g.
Cách làm: Cà tím rửa, rạch khúc để nhét hỗn hợp cá trộn nấm đông cô băm + muối. Đem hấp chín, rưới dầu nóng, thêm ít bột năng làm xốt.
Công năng: Kiện tỳ ích vị, thanh lợi thấp nhiệt. Thích hợp ung thư tiêu hóa thể thấp nhiệt, đau bụng, ăn kém, phân lẫn máu mủ…
Nấm hầu thủ (hầu đầu cốc) chưng gà ác
Nguyên liệu: Nấm hầu thủ tươi 180g, gà ác 1 con (~500g), táo đỏ 5 quả, gừng 2 lát.
Cách làm: Nấm rửa cắt lát, táo đỏ bỏ hạt, gà ác bỏ nội tạng, cắt miếng, cho vào thố, thêm nước, đậy nắp, hấp cách thủy 2 giờ, nêm gia vị.
Công năng: Kiện tỳ dưỡng huyết, bổ can thận, hợp bệnh nhân ung thư ruột thể hư yếu, hoặc trải qua xạ trị, gan thận âm hư, mệt mỏi, kém ăn, khát nước…
Chú ý: Thể thấp nhiệt độc thịnh không nên dùng.
Chưng hấp cá hoàng hoa
Nguyên liệu: Cá hoàng hoa 1 con (~500g), gừng 2 lát, hành 1 cọng.
Cách làm: Cá làm sạch, để ráo, ướp gừng, hấp chín, thêm hành, rưới dầu nóng, nước tương.
Công năng: Ích khí khai vị. Phù hợp ung thư đường tiêu hóa thể vị khí hư, ăn kém.
Đậu xanh – nếp nhồi ruột heo
(Giống với bài “菇豆糯米酿猪肠” đã nêu trên)
Thái tử sâm – vô hoa quả chưng thịt thỏ
Nguyên liệu: Thịt thỏ 150g, thái tử sâm 30g, quả vô hoa (vô hoa quả) 60g.
Cách làm: Thái tử sâm, vô hoa quả rửa sạch, cắt lát; thịt thỏ rửa, chặt miếng. Tất cả cho vào thố, đổ nước, đậy nắp, hấp cách thủy 2 giờ.
Công năng: Ích khí dưỡng huyết, thanh tràng giải độc, hợp ung thư ruột thể tỳ khí hư, nhiệt độc uất kết, mệt mỏi, ăn kém, thi thoảng tiêu chảy…
LUYỆN KHÍ CÔNG PHÒNG & TRỊ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Động tác 1: Nằm ngửa, bụng thả lỏng, tay trái đặt lên rốn, tay phải chồng lên, xoay xoa bụng theo chiều kim đồng hồ 81 vòng, rồi ngược lại 81 vòng, tập trung ý dưới tay, thở nhẹ.
Động tác 2: Vẫn tư thế đó, từ mũi ức xoa vuốt xuống xương mu 81 lần, thở ra thì vuốt xuống, chú ý cảm giác tay chạm bụng.
Động tác 3: Ngồi hoặc đứng, hai bàn tay áp vào vùng thắt lưng cùng, đẩy vuốt xuống khi thở ra (5–10 lần), hít vào thì dừng. Tổng 5–10 nhịp. Mỗi ngày 1–3 lần.
Tùy mức độ táo bón mà điều chỉnh. Tốt nhất làm sau ăn 1 giờ, hoặc sáng sớm, trước khi ngủ.
TẬP LUYỆN THỂ DỤC SAU MỔ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Co chân: Nằm ngửa, đồng thời co hai gối sát bụng rồi duỗi ra, lặp lại 10 lần.
Giơ chân: Nằm ngửa, nâng thẳng hai chân (gối không gập), rồi hạ xuống, 10 lần.
Đạp xe: Nằm ngửa, luân phiên co duỗi hai chân như đạp xe, biên độ lớn, 20–30 giây.
Gập bụng: Nằm ngửa, thót bụng ngồi lên, tay chạm ngón chân, 7–8 lần/lượt.
NGƯỜI THÂN BỆNH NHÂN UNG THƯ RUỘT PHÒNG BỆNH NHƯ THẾ NÀO?
Vì ung thư kết tràng, trực tràng có yếu tố di truyền gia đình, nên các nhà khoa học khuyến cáo gia đình bệnh nhân cần:
Mỗi người mỗi ngày ăn ít nhất 300g rau củ.
Hạn chế thức ăn giàu chất béo toàn phần.
Đảm bảo đi cầu thông suốt.
Phòng và điều trị viêm ruột.
Báo cáo của Viện Nghiên cứu Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ cho thấy: ăn cám lúa mì thường xuyên có thể giảm nguy cơ ung thư ruột, giúp co nhỏ khối u hoặc polyp lành tính ở ruột.
CÁCH ĂN UỐNG (THỰC DƯỠNG) ĐỂ HỖ TRỢ PHÒNG/ĐIỀU TRỊ UNG THƯ ĐẠI TRÀNGChống chảy máu do ung thư ruột: Dùng hoàng hoa (kim châm), mộc nhĩ, than tổ ong y học (huyết dư thán) nấu canh, hoặc mộc nhĩ đen + táo đỏ.
Một số bài thuốc dân gian: Ăn quả kiwi tươi, uống dầu hạt “nhựa dưa hấu” (tương tự á phiện hạt) gói trong viên… (cẩn thận tác dụng phụ).
Hóa trị xong nên ăn gì: Thịt vịt với nấm hương, canh lươn với đậu phụ, ăn các món giúp bảo vệ niêm mạc miệng, bảo vệ gan, nâng cao thể trạng…
Cháo thuốc:
Cháo sữa bò + mật ong, cháo bán chi liên, cháo bạch hoa xà…
Các món canh, soup trị liệu:
Sơn dược (củ mài) nấu với hạt sen, ý dĩ; Canh cá vàng (hoặc cá chim), canh ô mai…; Bán chi liên – bạch hoa xà; Canh tỏi + tiết ngỗng…
Các món ăn bài thuốc (thịt thỏ tiềm, thịt gà tiềm nấm linh chi, khổ qua xào, trạch tả, mướp đắng, món ăn từ mộc nhĩ, hải sâm, hải sản, rau quả…) tùy cơ địa hàn/ nhiệt và giai đoạn bệnh.
LUYỆN KHÍ CÔNG PHÒNG/CHỐNG UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Xoa bóp bụng, day huyệt từ thượng vị xuống hạ vị (81 vòng thuận, 81 vòng ngược), kết hợp hít thở tự nhiên, sau đó xoa vuốt từ mũi ức xuống khớp mu.
Ngồi hoặc đứng, úp hai tay xoa vuốt từ thắt lưng, khớp xương cùng xuống dưới, mỗi hơi thở vuốt 5–10 lần, ngày 1–3 lần. Tốt nhất là sau ăn 1 giờ, hoặc sáng sớm, trước ngủ.
TẬP LUYỆN THỂ CHẤT SAU MỔ UNG THƯ ĐẠI TRÀNG
Gập chân: Nằm ngửa, co hai gối sát bụng rồi duỗi ra, lặp lại 10 lần.
Nâng chân: Nằm ngửa, nâng thẳng hai chân, sau đó hạ xuống, lặp lại 10 lần.
Đạp xe: Nằm ngửa, thay phiên co duỗi hai chân, mô phỏng đạp xe 20–30 giây.
Gập bụng: Nằm ngửa, gập thân lên chạm ngón chân, 7–8 nhịp/lần.
NGƯỜI THÂN BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐẠI TRÀNG CẦN LÀM GÌ ĐỂ TỰ PHÒNG NGỪA?
Vì ung thư kết – trực tràng có yếu tố di truyền, nên người thân của bệnh nhân lưu ý:
Mỗi ngày ăn ít nhất 300 g rau;
Giảm thức ăn chứa nhiều chất béo, nhất là chất béo bão hòa;
Giữ cho đại tiện thông suốt;
Chủ động điều trị các viêm ruột.
Báo cáo của Viện Nghiên cứu Ung thư Quốc gia Mỹ cho biết: ăn thường xuyên cám lúa mì có thể giảm nguy cơ ung thư ruột, do cám giúp cắt giảm khối u hoặc polyp lành tính ở ruột.
Trường Xuân dịch