Tài liệu tham khảo:
Hội chứng kéo dài khoảng Q-T là gì?
Hội chứng kéo dài khoảng Q-T là một dạng đặc biệt của tình trạng tái phân cực chậm và ban đầu được cho là một bệnh di truyền. Hội chứng Jervell-Lange-Nielsen kèm theo chứng điếc bẩm sinh được di truyền theo kiểu lặn trên nhiễm sắc thể thường. Hội chứng Romano-Ward không kèm theo điếc bẩm sinh được di truyền theo kiểu trội trên nhiễm sắc thể thường. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, người ta tin rằng căn bệnh này có thể là một bệnh nhiễm trùng do virus mãn tính hoặc một số bệnh thoái hóa không do nhiễm trùng (chủ yếu là ngộ độc), chứ không phải là một bệnh di truyền. Nhiễm trùng do virus mãn tính này có thể lây truyền từ mẹ sang con hoặc giữa anh chị em ruột.
Cơ chế sinh bệnh của hội chứng này hiện được cho là có liên quan đến sự kích thích giao cảm-adrenergic bất thường. Triệu chứng lâm sàng chính của bệnh là ngất xỉu trong thời gian ngắn.
Chẩn đoán bệnh có thể dựa trên các điểm sau:
(1) Ngất xỉu đột ngột, thường liên quan đến sự kích động về mặt cảm xúc hoặc làm việc quá sức.
(2) Có thể bị mất thính lực hoặc điếc.
(3) Có thể có tiền sử gia đình.
(4) Loại trừ hội chứng tái cực chậm thứ phát.
(5) Có những thay đổi đặc trưng trên điện tâm đồ.
Các đặc điểm điện tâm đồ của hội chứng QT kéo dài là gì?
Khoảng Q-T kéo dài và sóng T rộng, có thể có hình khía, hai pha hoặc đảo ngược. Khoảng Q-T và hình thái sóng T có thể thay đổi ở cùng một bệnh nhân vào những thời điểm khác nhau. Sóng u thường lớn hơn. Khoảng cách Q-T có xu hướng ngắn lại theo tuổi tác. Trong lúc ngất, điện tâm đồ cho thấy nhịp tim nhanh trên thất, phần lớn là xoắn đỉnh, và cũng có thể có rung thất hoặc ngừng tim thất. Có thể có sự thay đổi điện thế sóng T và nhịp thất sớm thường xuyên trước và sau cơn đau tim. Tuy nhiên, cũng có những bệnh nhân chỉ bị đau ngực và thay đổi ST-T mà không bị ngất xỉu hoặc loạn nhịp thất khi lên cơn.
Hội chứng Q-T dài là gì và nguyên nhân gây ra hội chứng Q-T dài là gì?
Khoảng Q-T là tổng thời gian khử cực và tái cực của tâm thất, và Q-T thay đổi theo nhịp tim. Khoảng thời gian Q-T tối đa đối với người bình thường là 0,44 giây và những người vượt quá 0,45 giây được định nghĩa là có khoảng thời gian Q-T kéo dài. Xoắn đỉnh là một loại nhịp tim nhanh đặc biệt xảy ra khi khoảng thời gian Q-T kéo dài. Hội chứng Q-T dài được chia thành loại bẩm sinh và mắc phải theo nguyên nhân, và được chia thành loại phụ thuộc khoảng cách dài và phụ thuộc adrenaline theo đặc điểm của cơn xoắn đỉnh. Hầu hết các hội chứng Q-T dài mắc phải đều phụ thuộc vào khoảng thời gian dài, trong khi hầu hết các hội chứng Q-T dài bẩm sinh đều phụ thuộc vào adrenaline.
(1) Các nguyên nhân phổ biến của hội chứng QT dài phụ thuộc gián đoạn bao gồm:
①Thuốc: bao gồm thuốc chống loạn nhịp tim, phenothiazin, thuốc chống trầm cảm ba vòng (tetracyclic), thuốc trừ sâu organophosphorus, erythromycin tiêm tĩnh mạch, v.v.
②Mất cân bằng điện giải: Các nguyên nhân phổ biến bao gồm hạ kali máu, hạ magie máu, v.v.
③Thay đổi tình trạng dinh dưỡng: bao gồm chế độ ăn nhiều protein dạng lỏng và đói (chán ăn tâm thần).
④Nhịp tim chậm nghiêm trọng: bao gồm block nhĩ thất hoàn toàn và hội chứng nút xoang bệnh lý.
⑤Hội chứng Q-T dài phụ thuộc gián đoạn nguyên phát.
(2) Hội chứng Q-T kéo dài phụ thuộc adrenaline: chia thành bốn loại: điển hình, không điển hình, khác và trung gian.
Các tác nhân gây ra hội chứng Q-T dài bao gồm tập thể dục, mệt mỏi, đại tiện, căng thẳng tinh thần, sợ hãi, phấn khích, lo lắng, ác mộng, v.v. Trong cơn đau, có thể có hiện tượng mờ mắt, chóng mặt, đổ mồ hôi, rên rỉ, la hét, mất ý thức, co giật, tiểu không tự chủ và các triệu chứng giống động kinh. Khi bệnh nhân được chẩn đoán mắc chứng kéo dài khoảng Q-T, họ phải được điều trị bằng thuốc để tránh ngất xỉu hoặc thậm chí tử vong.
Trường Xuân Đường