Tài liệu tham khảo:
Hội chứng sa van hai lá là gì?
Hội chứng sa van hai lá là một nhóm các hội chứng trong đó các lá van hai lá quá dài do nhiều lý do khác nhau, khiến chúng phồng hoàn toàn vào tâm nhĩ trái khi tâm thất trái co lại, do đó gây ra tình trạng hở van hai lá. Còn được gọi là “hội chứng tiếng thổi tâm thu muộn giữa tâm thu”.
Trên lâm sàng, có nhiều bệnh lý có thể gây ra hội chứng này như loạn sản mô liên kết, bệnh tim bẩm sinh, bệnh cơ tim nguyên phát, suy cơ nhú, bệnh thấp tim, chấn thương tim và sau phẫu thuật van tim.
Các biểu hiện lâm sàng thường gặp bao gồm hồi hộp, tức ngực, chóng mặt, mệt mỏi, mất ngủ, v.v. Trong quá trình khám tim, có thể nghe thấy tiếng tách không tống máu ở đỉnh hoặc ở giữa đỉnh, thường là ở giữa cơn co thắt, trong khi có thể nghe thấy tiếng thổi trào ngược ở cuối cơn co thắt. Trong một số trường hợp, có thể không có tiếng thổi tim, được gọi là sa van hai lá “im lặng”. Có thể kèm theo nhiều chứng loạn nhịp tim hoặc rối loạn dẫn truyền. Tử vong đột ngột có thể xảy ra ở 1% bệnh nhân.
Biểu hiện điện tâm đồ của hội chứng sa van hai lá là gì?
Khoảng một phần ba số bệnh nhân mắc hội chứng sa van hai lá có bất thường trên điện tâm đồ, chủ yếu là những thay đổi ở đoạn S-T và sóng T. Khoảng Q-T kéo dài, sóng U rõ, loạn nhịp tim và rối loạn dẫn truyền.
(1) Sóng T: Khoảng 1/3 số bệnh nhân có sóng T phẳng, hai pha hoặc đảo ngược ở các chuyển đạo II, III và aVF. Ở một số bệnh nhân, nó có thể được mở rộng sang các dây dẫn ngực trái hoặc phải. Bệnh nhân bị đau ngực dễ bị chẩn đoán nhầm là mắc bệnh tim mạch vành. Xét nghiệm propranolol có thể cải thiện sự thay đổi đoạn ST-T và sóng T ở 80% bệnh nhân. Điều này giúp phân biệt với tình trạng thiếu máu cục bộ đoạn S-T và những thay đổi sóng T.
(2) Đoạn S-T: Có thể thấy rõ đoạn S-T bị đè ép sau khi tập thể dục.
(3) Sự kéo dài khoảng Q-T không phổ biến nhưng là một đặc điểm đặc trưng và có thể liên quan đến tử vong đột ngột.
(4) Biên độ sóng U tăng lên và có thể đạt tới khoảng 50% sóng T.
(5) Nhịp tim nhanh thất là phổ biến nhất, tiếp theo là nhịp tim nhanh thất, nhịp tim nhanh trên thất, nhịp tim nhanh nhĩ và rung nhĩ. Trong một số trường hợp, có thể xảy ra rung thất hoặc nhịp tim chậm.
(6) Thỉnh thoảng, rối loạn dẫn truyền xảy ra: Block nhĩ thất độ một phổ biến hơn, trong khi block nhĩ thất độ hai và độ ba ít phổ biến hơn và block nhánh thậm chí còn hiếm hơn. Hội chứng kích thích sớm đôi khi được nhìn thấy.
Biểu hiện lâm sàng của hội chứng sa van hai lá là gì?
Hội chứng sa van hai lá là tình trạng van hai lá sa vào tâm nhĩ trái trong thời kỳ tâm thu, có hoặc không có tình trạng trào ngược van hai lá.
Hầu hết bệnh nhân mắc hội chứng sa van hai lá đều không có triệu chứng lâm sàng. Khoảng 60% bệnh nhân thường cảm thấy mệt mỏi và khó thở khi mới mắc bệnh. Triệu chứng điển hình là đau ngực, có thể xảy ra ở bất kỳ vị trí nào ở phía trước ngực. Mức độ đau khác nhau. Trong những trường hợp nghiêm trọng, người bệnh có cảm giác như bị dao cắt và không liên quan rõ ràng đến tình trạng mệt mỏi hay căng thẳng thần kinh. Dùng nitroglycerin không làm giảm đau ngực, nhưng uống propranolol thường có tác dụng. Các cơn đau có thể thoáng qua hoặc kéo dài trong nhiều giờ và người bệnh thường có thể tiếp tục di chuyển trong khi đau. Khoảng 50% bệnh nhân bị hồi hộp, nhưng kết quả theo dõi điện tâm đồ lại ít liên quan đến chứng loạn nhịp tim. 33% bệnh nhân khác bị chóng mặt và một số có thể bị ngất. Ngoài ra, các triệu chứng thần kinh như lo âu, thay đổi tính cách và bất thường về tâm thần có thể xảy ra.
Hình thể bệnh nhân thường yếu, đôi khi vòm miệng cao, dị dạng lồng ngực như lồng ngực hình phễu, lưng thẳng (gù ngực bình thường biến mất) và vẹo cột sống. Xung động đỉnh thường bình thường, nhưng xung động có thể là xung động kép. Trong quá trình nghe tim, có thể nghe thấy tiếng thổi tâm thu và tiếng lách cách tâm thu giữa (cuối) ở rìa dưới bên trái xương ức hoặc ở đỉnh tim. Một số bệnh nhân không có tiếng lách cách hay tiếng thổi tim, được gọi là sa van hai lá “im lặng”.
Trường Xuân Đường