Tư liệu tham khảo:
I/ Trung y nhận thức “便秘” (táo bón) như thế nào?
Trung y cho rằng táo bón“便秘” là tình trạng đại tiện bí kết không thông, thời gian đi đại tiện kéo dài hoặc mỗi lần muốn đi đại tiện đều khó khăn, không suôn sẻ. Trong y học cổ đại Trung Quốc, táo bón có rất nhiều cách gọi, như “大便难” (đại tiện nan), “后不利” (hậu bất lợi), “脾约” (tỳ ước), “闭” (bế), “阴结” (âm kết), “阳结” (dương kết), “大便秘” (đại tiện bí), “大便燥结” (đại tiện táo kết), “肠结” (tràng kết), v.v.
Các y gia xưa có nhiều luận述 về nguyên nhân gây táo bón, cho rằng có rất nhiều yếu tố, trong đó táo bón có liên quan đến thận, tỳ, vị, đại trường, phế, khí huyết tân dịch, hàn nhiệt hư thực, v.v. Qua các đời, các y gia đều nhấn mạnh: Trong quá trình vận chuyển và chuyển hóa thủy cốc (thức ăn và nước uống), vị chủ thu nạp và làm nhừ thức ăn, khí của vị đi xuống; tỳ chủ vận hóa, khí của tỳ đi lên; tiểu trường tiếp nhận phần thủy cốc đã được tỳ vị xử lý để phân biệt thanh trọc; Đại trường thì truyền đạo (vận chuyển) phần cặn bã. Do đó, nếu quá trình “làm nhừ” (hủ thục) của vị bị rối loạn và khí không được điều hòa, tỳ mất khả năng vận hóa và khí thanh không được nâng lên, tiểu trường mất chức năng phân biệt, đại trường truyền dẫn bất thường, đều có thể gây ra rối loạn đại tiện. Ngoài ra, thận chủ dịch, phế chủ khí, khi thận hư, phế táo thì cũng có thể gây ra đại tiện bí kết.
Trong các sách y cổ, có rất nhiều luận điểm về vấn đề này:“Đại tiện bí kết, thận bệnh giả dã. Kinh viết, bắc phương hắc thuỷ, nhập thông vu thận, khai khiếu vu nhị âm, cái dĩ thận chủ ngũ dịch. Tân dịch thậm, tắc đại tiện điều hoà” (大便秘结,肾病者也。经曰,北方黑水,入通于肾,开窍于二阴,盖以肾主五液。津液甚,则大便调和。)
(Tạm dịch: “Đại tiện bí kết là bệnh của thận. Kinh có nói, phương Bắc hành Thủy, thông với tạng Thận, mở khiếu ở hai âm, vốn vì Thận chủ năm loại dịch. Tân dịch dồi dào thì đại tiện được điều hòa.” “Nhược cơ bào thất tiết, lao dịch quá độ, tổn thương vị khí cập thực tân nhiệt vị hậu chi vật nhi trợ hoả tà, phujcvu huyết trung, háo tán chân âm, tân dịch khuy thiểu, cố đại tiện táo kết. Nhiên táo kết chi bệnh bất nhất, hữu nhiệt táo, hữu phong táo, hữu dương kết, hữu âm kết, hựu hữu niên lão khí hư, tân dịch bất túc nhi táo kết giả” (若饥饱失节,劳役过度,损伤胃气及食辛热味厚之物而助火邪,伏于血中,耗散真阴,津液亏少,故大便燥结。然燥结之病不一,有热燥,有风燥,有阳结,有阴结,又有年老气虚,津液不足而燥结者。)
(Tạm dịch: “Nếu ăn uống thất thường, lao lực quá độ, tổn thương vị khí, hoặc ăn quá nhiều đồ cay nóng, béo ngậy khiến hỏa tà vượng, ẩn trong huyết, tiêu hao chân âm, tân dịch hao tổn, sinh ra đại tiện táo kết. Nhưng bệnh táo kết có nhiều loại, có nhiệt táo, phong táo, có dương kết, âm kết, lại có người lớn tuổi khí hư, tân dịch không đủ mà dẫn đến táo kết.”) Những luận thuật trên đặc biệt chú trọng đến các yếu tố thận âm suy hư, tân dịch không đủ, vị khí bị tổn thương. Về mặt hàn nhiệt dẫn đến táo bón, cũng có nhiều luận điểm: “Đại tiện bất thông giả, do tam tiêu ngũ tạng bất hoà, lãnh nhiệt chi khí bất điều, nhiệt khí thiên nhập tràng vị, tân dịch kiệt táo, cố lịnh tào phách bĩ kết, ủng tắc bất thông dã” (大便不通者,由三焦五脏不和,冷热之气不调,热气偏入肠胃,津液竭燥,故令糟粕否结,壅塞不通也。)
(Tạm dịch: “Đại tiện không thông là do tam tiêu ngũ tạng bất hòa, khí lạnh khí nóng không điều hoà, khí nóng xâm nhập vào tràng vị, tân dịch khô cạn, khiến cặn bã tích tụ, ứ đọng không thông.”)
“Muộn tục tác bí, đại tiện sáp trệ dã, nhiệt háo kỳ dịch, tắc phấn kiên kết nhi đại tràng táo sáp khẩn liễm cố dã” (闷俗作秘,大便涩滞也,热耗其液,则粪坚结而大肠燥涩紧敛故也。) (Tạm dịch: “‘闷’ mà dân gian gọi là ‘bí’, tức đại tiện khó khan. Nhiệt tiêu hao tân dịch thì phân trở nên khô cứng, đại trường táo, sáp, co rít nên không thông.”) “ Thủ túc lãnh, đại tiện bí, tiểu tiện xích, hoặc đại tiện hắc sắc, mạch trầm nhi hoạt…… thử danh dương chứng tự âm dã” (手足冷,大便秘,小便赤,或大便黑色,脉沉而滑……此名阳证似阴也。) (Tạm dịch: “Tay chân lạnh, đại tiện bí, tiểu tiện đỏ, hoặc đại tiện đen, mạch trầm mà hoạt… đây là dương chứng giống như âm.”)
Đến thời Thanh, các y gia nêu thêm quan điểm táo bón liên quan đến phế táo: “Đại tiện bế kết, nhân dĩ vi đại tràng táo thậm, thuỳ tri thị phế khí táo hồ? Phế táo tắc thanh túc chi khí bất năng hạ hành vu đại tràng” (大便闭结,人以为大肠燥甚,谁知是肺气燥乎? 肺燥则清肃之气不能下行于大肠。) (Tạm dịch: “Đại tiện bí kết, người ta thường cho là đại trường quá táo, nhưng đâu biết nguyên nhân là do phế khí bị táo? Phế táo thì khí thanh túc không thể giáng xuống đại trường.”)
Lại có y gia cho rằng táo bón còn liên quan đến phòng sự (sinh hoạt tình dục), ăn uống, thất tình (tình chí): “ Nguyên kỳ sở do, giai phòng lao quá độ, ẩm thực thất tiết, hoặc tứ ẩm tửu tương, quá thực tân nhiệt, ẩm thực chi hoả khởi vu tỳ vị, dâm dục chi hoả khởi vi mệnh môn, dĩ chí hoả thịnh thuỷ khuy, tân dịch bất sinh, cố truyền đạo thất thường, tiệm thành kết táo chi chứng” ( 原其所由,皆房劳过度,饮食失节,或恣饮酒浆,过食辛热,饮食之火起于脾胃,淫欲之火起于命门,以致火盛水亏,津液不生,故传道失常,渐成结燥之证。) (Tạm dịch: “Xét căn nguyên gây ra, đều do phòng sự quá độ, ăn uống thất thường, hoặc uống rượu vô độ, ăn nhiều đồ cay nóng, khiến hỏa do ăn uống sinh ra từ tỳ vị, hỏa do dục vọng sinh ra từ mệnh môn, dẫn đến hỏa vượng thủy suy, tân dịch không sinh, truyền đạo (đại tiện) rối loạn, dần dần tạo thành chứng táo kết.”)
Họ cũng đưa ra các nguyên nhân như “虫积” (trùng tích), “七情气闭” (thất tình khí bế), “痰滞不通” (đàm trệ bất thông), “药石毒” (dược thạch độc), “脏寒” (tạng hàn), “血液枯” (huyết dịch khô) đều có thể dẫn đến táo bón, làm phong phú thêm học thuyết về bệnh nhân của táo bón.
II/ Việc điều trị táo bón trong Trung y
Đông y cũng có nghiên cứu khá sâu về điều trị táo bón. Trong điều trị, nhấn mạnh rằng không thể lạm dụng phương pháp công hạ (dùng thuốc tẩy, nhuận tràng mạnh) một cách tùy tiện:“…Đại để trị bệnh tất cứu kỳ nguyên, bất khả nhất khái dụng Ba đậu, Khiên ngưu chi loại hạ chi, tổn kỳ tân dịch, táo kết dũ thậm” (…大抵治病必究其源,不可一概用巴豆、牵牛之类下之,损其津液,燥结愈甚。)” (Tạm dịch: “…Nói chung, chữa bệnh nhất định phải tìm căn nguyên, không thể nhất loạt mà dùng các loại thuốc xổ mạnh như ba đậu, khiên ngưu, nếu không sẽ làm tổn thương tân dịch, khiến táo kết càng nghiêm trọng.”)
“Như vọng dĩ tuấn lợi dược trục chi, tắc tân dịch tẩu, khí nhi háo, tuy tiệm thông nhi tức bí hĩ” ( 如妄以峻利药逐之,则津液走,气血耗,虽暂通而即秘矣.) (Tạm dịch: “Nếu tùy tiện dùng thuốc tẩy mạnh để trục đi, tân dịch sẽ hao, khí huyết cũng suy, dù thông tạm thời nhưng lại tái bí ngay.”)
Danh y triều Minh Lý Trung Tử (李中梓) nêu rõ tác hại của việc lạm dụng thuốc công hạ:
“Mỗi kiến giang hồ phương sĩ, khinh dụng Tiêu hoàng giả thập thương tứ ngũ, khinh dụng Ba đậu giả thập thương thất bát, bất giả bất cẩn dã, hoặc cửu nhi dũ kết, hoặc biến vi phế nuy thổ nùng huyết, hoặc ẩm thực bất tiến nhi tử” (每见江湖方士,轻用硝黄者十伤四五,轻用巴豆者十伤七八,不可不谨也,或久而愈结,或变为肺痿吐脓血,或饮食不进而死.) (Tạm dịch: “Tôi thường thấy những người lang bạt giang hồ, hễ dùng tiêu hoàng (lưu hoàng) bừa bãi thì mười người đã hại bốn, năm, còn dùng ba đậu bừa bãi thì mười người đã hại bảy, tám. Thật không thể không cẩn thận. Có người dùng lâu khiến bệnh càng bí kết, có người lại biến chứng thành phế uy (ung phổi) ho ra mủ và máu, có người không ăn uống được mà mất.”)
Do đó, trị bệnh nhất định phải cầu gốc (trị tận gốc). Ngoài việc dùng thuốc, các y gia đời Thanh còn coi trọng sử dụng phương pháp Đạo dẫn (tập luyện vận khí, điều thân) để điều trị táo bón. Trong “保生秘要” (Bảo Sinh Bí Yếu) viết: “Dĩ thiệt đính thượng ngạc, thủ huyền ung, tĩnh niệm nhi dịch tự sinh, hậu mãn khẩu, xích long giảo động, tần thấu tần thôn, sở giáng trực hạ đan điền, hựu thủ tĩnh yết số nhật, đại tràng tự nhuận, hành hậu công hiệu” (以舌顶上腭,守悬雍,静念而液自生,俟满口,赤龙搅动,频漱频吞,所降直下丹田,又守静咽数日,大肠自润,行后功效.)
(Tạm dịch: “Lấy lưỡi chống vòm miệng trên, giữ cho cuống lưỡi (huyền hầu) yên tĩnh, thầm niệm thì dịch miệng tự sinh. Đợi đầy miệng, dùng lưỡi khuấy, liên tục súc rồi nuốt, dẫn chất lỏng đi thẳng xuống đan điền, lại giữ sự tĩnh và nuốt như vậy vài ngày, đại trường sẽ tự nhuận, sau đó đại tiện dễ dàng.”)
III/ Trung y rất coi trọng ảnh hưởng của táo bón đối với cơ thể
Ngay từ thời Hán, các y gia đã nêu lý luận “phủ khí bất thông dẫn đến suy yếu”: “ Dục đắc trường sinh, tràng trung thường thanh, dục đắc bất tử, tràng trung vô chỉ” (欲得长生,肠中常清,欲得不死,肠中无滓.) “ Ngũ vị nhập khẩu, tức nhập vị, lưu độc bất tán, tích tụ ký cửu, chí thương xung hoà, chư bệnh sinh yên” (五味入口,即入胃,留毒不散,积聚既久,致伤冲和,诸病生焉.) (Tạm dịch: “Muốn được trường sinh, ruột luôn phải sạch; muốn không chết, ruột không được có cặn bã.” và “Ngũ vị nhập miệng thì vào dạ dày, độc tố lưu lại không tán, tích tụ lâu ngày, gây tổn thương trung khí và hòa khí, sinh ra trăm bệnh.”) Những câu trên cho thấy việc giữ cho đại tiện thông suốt sẽ giúp dưỡng sinh, kéo dài tuổi thọ. Do đó, một khi mắc táo bón, cần kịp thời tìm ra nguyên nhân và chữa trị, để tránh hậu họa về sau.
Trung y phân loại táo bón như thế nào?
Trong y học cổ đại Trung Quốc, cách phân loại táo bón có nhiều loại. Ví dụ, Thương Hàn Luận (伤寒论) chia táo bón thành “阴结” (âm kết), “阳结” (dương kết), “脾约” (tỳ ước), “津竭” (tân kiệt), v.v.; Các y gia hậu thế lại phân thành phong bí, khí bí, thấp bí, hàn bí, nhiệt bí, lãnh bí, hư bí, nhiệt táo, phong táo, v.v. Về sau do tên gọi quá nhiều, người ta lại quy về hai loại âm kết và dương kết: có hỏa thì gọi là dương kết, không có hỏa thì gọi là âm kết.
Trong nội khoa Đông y hiện đại, táo bón thường được chia thành nhiệt bí, lãnh bí (hàn bí), khí bí, hư bí (bao gồm khí hư bí, huyết hư bí, khí huyết lưỡng hư bí).
1/ Thế nào là nhiệt bí?
Nhiệt bí là do tích nhiệt ở vị trường, tức táo nhiệt uất kết bên trong, tiêu hao tân dịch, khiến đại trường mất sự nhuận trơn, phân trở nên khô kết, dẫn đến táo bón.
Nhiệt bí thường gặp ở người thể trạng dương thịnh, người thích uống rượu, ưa ăn đồ cay nóng, hoặc người vừa trải qua bệnh nhiệt.
2/ Thế nào là khí bí?
Khí bí là do khí cơ uất trệ, chức năng thông giáng bị rối loạn, khiến cặn bã bị ứ đọng, không thể đi xuống, dẫn đến táo bón.
Khí bí thường xuất hiện ở người hay lo âu, nghĩ ngợi quá mức, tình chí không thông, hoặc người ngồi lâu ít vận động.
Khí bí và nhiệt bí đều thuộc loại thực chứng táo bón.
3/ Thế nào là lãnh bí (hàn bí)?
Lãnh bí (hay hàn bí) là do dương khí suy yếu, sinh nội hàn, khiến dương khí không thông, đường ruột không đủ lực chuyển vận, phân khó đào thải, sinh táo bón.
Lãnh bí thường gặp ở người già yếu hoặc người bệnh lâu ngày.
4/ Thế nào là “hư bí”? Phân loại ra sao?
“Hư bí” tức táo bón do hư chứng, nguyên nhân là do lao tổn, ăn uống không điều độ, hoặc phụ nữ sau sinh, người sau bệnh, cũng như người lớn tuổi thể chất hư nhược, khí huyết đều suy. Khí hư thì đại trường truyền tống yếu; huyết hư thì tân dịch không đủ tư nhuận đại trường, dẫn đến phân khó bài xuất, gây bí kết.
Hư bí chia làm khí hư bí, huyết hư bí và khí huyết lưỡng hư bí.
Trung y cho rằng cơ chế bệnh lý cơ bản của táo bón là gì?
Thức ăn sau khi vào dạ dày, thông qua quá trình vận hóa của tỳ vị, hấp thu tinh hoa, phần cặn bã dư lại sẽ được đại trường thải ra ngoài, tức là đại tiện. Nếu chức năng truyền dẫn của đại trường rối loạn, phân lưu lại quá lâu, khô hoặc cứng, sẽ hình thành bệnh táo bón.
Y học cổ truyền cho rằng, mặc dù biến đổi bệnh lý chủ yếu của táo bón thuộc về đại trường truyền đạo thất thường, nhưng có liên quan đến sự mất cân bằng chức năng của tỳ, vị, can, thận. Ví dụ, dương minh vị nhiệt quá thịnh, nhiệt hun đốt tân dịch, làm mất phần dịch, đại tràng khô; tỳ khí bất túc, khí hư không đủ sức đẩy; can khí uất kết, khí cơ ách tắc khiến “khí bị tắc thì vật không thông”, hoặc can khí uất lâu ngày hóa hỏa, hỏa tà thương tân, cũng làm đại tràng mất nhuận; thận khai khiếu ở nhị âm, ưa ẩm ghét táo, lại chủ ngũ dịch, nếu thận âm bất túc khiến tràng phu mất tư nhuận; thận dương bất túc khiến âm hàn ngưng trệ, tân dịch không thông. Vì vậy, chức năng bốn tạng tỳ, vị, can, thận bị rối loạn đều có thể gây táo bón.
Táo bón có thể tóm lược ở bốn khía cạnh: hàn, nhiệt, hư, thực. Người tích nhiệt ở vị tràng thuộc nhiệt bí; người khí cơ uất trệ, tích trệ thức ăn, phủ khí không thông thuộc thực bí; người khí huyết khuy hư thì thuộc hư bí; còn âm hàn ngưng trệ, dịch không lưu thông gọi là lãnh bí hoặc hàn bí. Trong bốn loại này, lấy hư và thực làm cương lĩnh. Nhiệt bí, khí bí thuộc thực chứng; hư bí, lãnh bí thuộc hư chứng. Giữa hàn nhiệt và hư thực thường có thể đan xen hoặc chuyển hóa cho nhau. Ví dụ, nhiệt bí nếu chữa hoặc không chữa đúng cách, lâu ngày không khỏi, sẽ hao tổn tân dịch, tổn thương thận âm, đại trường kém nhuận, bệnh từ thực chuyển sang hư. Khí cơ uất trệ lâu ngày có thể hóa hỏa, khiến khí kết kèm nhiệt kết. Người khí huyết hư yếu dễ bị tổn thương do ăn uống hoặc tình chí uất ức, sinh ra chứng hư thực xen lẫn. Lãnh bí do dương hư, âm hàn ngưng trệ, nếu ôn táo quá mức làm hao tân dịch, hoặc dương hư liên lụy âm, có thể xuất hiện chứng âm dương lưỡng hư.
Tóm lại, chức năng truyền dẫn của đại trường bị rối loạn là cơ chế chính dẫn đến táo bón
1/ Trung y biện chứng yếu điểm của “Nhiệt bí” là gì?
Sự phát sinh “Nhiệt bí” phần lớn do thể chất vốn dương thịnh hoặc ăn uống nhiều đồ cay nóng, béo ngậy, hay sau khi mắc bệnh nhiệt, dẫn đến táo nhiệt uất kết bên trong, đốt cháy tân dịch, khiến phủ khí không thông, làm ruột tích nhiệt mà mất nhu nhuận. Chủ yếu biểu hiện rõ rệt chứng nội nhiệt: Đại tiện khô cứng, bụng trướng đầy, ấn vào đau, miệng khô, hơi thở hôi, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng khô, mạch hoạt sác. Ngoài ra, có thể kèm một số chứng nội nhiệt khác như tiểu tiện ngắn đỏ, lở loét miệng lưỡi, người nóng bừng, mặt đỏ v.v.
2/ Trung y biện chứng yếu điểm của “Hư bí” là gì?
Bệnh nhân do lao nhọc quá độ, lớn tuổi tân dịch suy giảm, hoặc sau bệnh nặng, sau sinh, mất máu nhiều, dẫn đến khí huyết hư nhược. Khí hư thì truyền tống yếu, huyết hư thì đại tràng mất nuôi dưỡng, nên đại tiện bí kết hoặc khó khăn khi đi ngoài. Vì vậy, “hư bí” cần phân ra hai phương diện: “khí hư bí” và “huyết hư bí”.
* Biện chứng yếu điểm của khí hư bí và triệu chứng là: Bệnh nhân dù có cảm giác muốn đi đại tiện, nhưng mỗi khi vào nhà vệ sinh lại rặn yếu, rặn nhiều thì vã mồ hôi, hụt hơi. Lưỡi nhạt, mềm, rêu mỏng, mạch hư, kèm sắc mặt trắng nhợt, tinh thần mệt mỏi, ngại nói, sau khi đi ngoài thấy kiệt sức — đây đều là chứng khí hư. Có lúc còn xuất hiện cảm giác sa tức ở hậu môn, nặng thì sa trực tràng, v.v…, thuộc khí hư hạ hãm.
* Biện chứng yếu điểm của huyết hư tiện bí và triệu chứng là đại tiện bí kết thành “cục như hạt dẻ”, do huyết hư, thấy sắc mặt vàng úa không tươi, môi móng lưỡi nhợt, mạch nhỏ, kèm hoa mắt chóng mặt, hồi hộp đánh trống ngực… — đây đều là chứng huyết hư. Nếu huyết hư kiêm thêm âm hư, có thể thấy miệng khô ít nước bọt, năm lòng (ngực, lòng bàn tay, bàn chân) nóng, bức rứt — dấu hiệu âm hư nội nhiệt.
3/ Trung y biện chứng yếu điểm của “lãnh bí” (hàn bí) là gì?
Do thể chất dương hư bẩm sinh, hoặc sau bệnh khiến dương khí suy yếu, dẫn đến âm hàn nội thịnh, ngưng trệ đường ruột, dương khí không vận hành, tân dịch không phân bố, hình thành “lãnh bí”. Triệu chứng chính: đại tiện khó khăn, phân khô cứng, đau bụng lạnh, tứ chi không ấm, thắt lưng gối lạnh yếu, lưỡi nhợt, rêu mỏng, mạch trầm trì. Điểm cốt lõi để biện chứng là: đại tiện khó, đau lạnh trong bụng, tứ chi lạnh, mạch trầm trì. Các chứng kèm theo như tiểu tiện trong dài, sắc mặt trắng nhợt — dấu hiệu hư hàn. Nếu thuộc “hàn thực đình trệ” (lãnh bí do thực hàn), sẽ thấy đại tiện bí kết, đau bụng đầy trướng, thích ấm, sợ gió lạnh, mạch huyền khẩn có lực, v.v.
4/ Biện chứng yếu điểm của đông y trong chẩn đoán và điều trị táo bón (便秘) là gì?
Cơ chế bệnh (bệnh cơ) của táo bón có liên quan đến phế, can, tỳ, thận. Xét theo hư thực, thực chứng gồm “nhiệt kết” và “khí trệ”; hư chứng có “khí hư”, “âm hư”, “huyết hư”, “dương hư”. Trong điều trị táo bón, tuy lấy “thông” (làm thông) làm chủ đạo, nhưng: Nhưng thuộc nhiệt kết nên kèm theo tả nhiệt, khí trệ nên hành khí dẫn trệ, khí hư nên ích khí nhuận tràng, huyết hư nên dưỡng huyết nhuận táo, dương hư nên dùng phép ôn tràng thông tiện.
Các loại táo bón nêu trên đôi khi đơn nhất, đôi khi kết hợp, vì vậy cần vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp chữa, tùy chứng mà dùng. Chẳng hạn, “khí hư bí” và “huyết hư bí” thường xuất hiện cùng lúc, lúc điều trị cần căn cứ mức độ hư của khí và huyết, phối hợp phương pháp bổ khí, dưỡng huyết, nhuận tràng. Nếu khí hư kiêm dương hư, nên vừa bổ khí, nhuận tràng, vừa gia thêm thuốc ôn dương thông tiện. Huyết hư kèm táo nhiệt, phải dưỡng huyết, nhuận táo, kiêm tả nhiệt thông phủ. Vì thế, chữa táo bón không thể máy móc dùng chung một phương pháp công hạ (thông dưới), mà phải dựa trên nguyên nhân, cơ chế bệnh và chứng hậu lâm sàng khác nhau để chọn cách trị phù hợp.
Ở người già, táo bón phần lớn thuộc hư chứng, thực chứng ít gặp, hoặc khá nhiều là hư trung hữu thực. Do đó, khi lâm sàng cần biện rõ hư thực để dụng dược. Cũng cần đặc biệt chú trọng điều tiết ăn uống và sinh hoạt, hình thành thói quen đại tiện đúng giờ.
6/ “Khổ hàn thông hạ pháp” (苦寒通下法) là gì?
Khi hàn tà hóa nhiệt, tà nhiệt truyền vào phủ dương minh, hoặc bệnh ôn nhiệt nhập trung tiêu, cũng như nhiệt thịnh tổn háo tân dịch, khiến ruột khô kết, đại tiện không thông, ngực bụng đầy tức… Thì dựa theo nguyên tắc “thực giả tả chi” (thực thì tả), “kỳ hạ giả dã nhi kiệt chi” (nó ở dưới thì dẫn ra mà trục hết), có thể dùng “khổ hàn thông hạ pháp” (dùng thuốc vị đắng, tính hàn để thông, xổ). Chủ yếu dùng đại hoàng, mang tiêu, nhị sửu (khiên ngưu, ba đậu) để tẩy nhiệt kết, phối hợp hậu phác, chỉ thực để hành khí, tiêu đầy. Đại diện bài thuốc như: “Đại thừa khí thang”, “Tiểu thừa khí thang”, “Điều vị thừa khí thang”, “Phục phương đại thừa khí thang” v.v.
Pháp này có công dụng: Trục hạ nhiệt kết, thông phủ tiêu trướng, thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết hóa ứ, ứng dụng cho nhiều loại bệnh do dương minh nhiệt kết gây ra:①Dương minh phủ thực chứng: Sốt, đầy tức vùng thượng vị và bụng, sờ vào đau cứng, đại tiện không thông, phiền táo, nói sảng, nặng hơn có thể thần trí mơ hồ, mắt nhìn không linh, tay chân vã mồ hôi, lưỡi rêu vàng khô nứt, hoặc đen khô nứt, mạch trầm thực. ②Nhiệt kết bàng lưu: Đau bụng, sờ bụng thấy cứng rắn, đại tiện ra nước đục hôi thối. ③Nội thực nhiệt chứng gây đau đớn, điên cuồng. ④Các chứng trúng độc, ứ huyết. ⑤Nhiệt thịnh gây đau đầu dữ dội, viêm họng sưng đau, xuất huyết do huyết nhiệt, đều có thể dùng “thượng bệnh hạ thủ”, “phủ đế trừu tân” (釜底抽薪) rút củi đáy nồi để điều trị.
Pháp này chủ trị “lý thực nhiệt chứng”. Nếu có kèm các chứng khác (kiêm chứng) thì có thể phối hợp với những pháp khác. Ví dụ: Khí cơ trở trệ rõ rệt: Có thể phối hợp hành khí (thêm chỉ thực, hậu phác, lai phục tử…) như “Tiểu thừa khí thang”; Tân dịch khô cạn, ruột táo: Phối hợp với phép “Nhuận trường thông tiện” (thêm hỏa ma nhân, hạnh nhân), như “Ma tử nhân hoàn”; Âm dịch hao tổn: Phối hợp “tư âm” (thêm sinh địa, huyền sâm), như “Tăng dịch thừa khí thang”; Chính hư tà thực: Phối hợp “bổ pháp” (thêm đảng sâm, đương quy…), như “Tân gia hoàng long thang”; Nếu nhiệt độc ủng phế: Phối hợp “Thanh nhiệt giải độc” (thêm chi tử, hoàng cầm, liên kiều…), như “Lương cách tán”; Nếu sốt cao, khát nước: Phối hợp với phép “Thanh khí” (thêm thạch cao, tri mẫu…), như “Bạch hổ thừa khí thang”, đều thuộc phạm trù khổ hàn thông hạ pháp.
Pháp này ứng dụng rất rộng. Những năm gần đây, người ta áp dụng để trị các bệnh như tắc ruột cấp đơn thuần, tắc ruột do liệt (mất nhu động), tắc ruột do giun, viêm gan vàng da cấp, lỵ khuẩn cấp, chướng bụng sau mổ, hẹp môn vị, đều thu được hiệu quả tốt. Đó là vì dựa vào nguyên tắc “lục phủ dĩ thông vi dụng” (六腑以通为用)lục phủ lấy “thông” làm công năng, “thông tắc bất thống” (thông thì không đau), giúp bài xuất nhiệt tà, viêm nhiễm, độc tà theo phân ra ngoài.
7/ “Ôn dương thông hạ pháp” (温阳通下法) là gì?
Phương này thích hợp khi trong vị trường có hàn tích, thuộc lý thực, biểu hiện đau bụng, táo bón, tay chân lạnh, đau bụng gặp ấm thì đỡ, hoặc tiêu chảy lâu ngày không dứt, mạch trầm khẩn.
Pháp này chủ yếu thường dùng thuốc tân nhiệt (cay nóng), phối hợp lượng thích hợp thuốc tả hạ, như dùng phụ tử, can khương để trừ hàn tà, kết hợp đại hoàng, mang tiêu để tống hạ lý thực. Do lượng thuốc ôn nhiệt nhiều hơn thuốc hàn lương, vẫn giữ tác dụng tả hạ, nhưng giảm tính khổ hàn, đạt mục tiêu “khử tính mà dùng” (去性取用). Sau khi uống thuốc, hàn tích tiêu tán, tích trệ được xua đi, đại tiện thông, phủ khílưu sướng và khỏi bệnh.
Các phương thường dùng có “Đại hoàng phụ tử thang”, “Tam vật cấp bị hoàn”, “Ôn tỳ thang” (gồm đại hoàng, phụ tử, can khương, cam thảo, đảng sâm). Thường ứng dụng trong tắc ruột cấp, chướng bụng sau mổ, tích thực, hẹp môn vị… thuộc thể hàn thực.
Viêm tụy cấp là một loại cấp phúc chứng, biểu hiện đau thượng vị dữ dội, kéo dài, cơ bụng căng, buồn nôn, nôn mửa, sốt…, thuộc chứng nhiệt uất phủ khí không thông. Điều trị lấy phương pháp “Thông lý công hạ, thanh nhiệt giải độc” làm chủ, thường dùng “Đại sài hồ thang” (sài hồ, hoàng cầm, thược dược, bán hạ, sinh khương, chỉ thực, đại táo) hoặc “Thanh di thang” (kinh nghiệm phương của Nam Khai Thiên Tân: sài hồ, hoàng cầm, hồ liên, bạch thược, mộc hương, diên hồ, sinh đại hoàng, mang tiêu).
ĐÔNG Y ĐIỀU TRỊ TÁO BÓN (便秘) THEO TỪNG THỂ LÂM SÀNG
1/ Đông y điều trị “nhiệt bí” (热秘) như thế nào?
“Nhiệt bí” còn gọi là “dương kết” trong y thư cổ. Cơ chế bệnh chủ yếu là tích nhiệt ở vị tràng, khô kiệt tân dịch, khiến ruột mất nhu nhuận, dẫn đến phân khô cứng, khó đào thải.
Phương pháp điều trị: Thanh nhiệt, nhuận tràng. Xử phương: Ma tử nhân hoàn (麻子仁丸), gồm các vị: Ma tử nhân 20g Bạch thược 15g Chỉ thực 10g Sinh đại hoàng (cho vào sau) 10g Hậu phác 10g Hạnh nhân 10g Bạch mật (mật ong trắng) 12g
Trong đó: Chủ dược: Đại hoàng (tả nhiệt), Ma nhân (nhuận tràng, thông tiện). Phụ dược: Hạnh nhân (hạ khí, nhuận tràng), Bạch thược (dưỡng âm), Chỉ thực + Hậu phác (hành khí, phá khí, tiêu đầy). Bạch mật tăng cường tác dụng nhuận tràng, thông tiện. Nếu bệnh nặng, có thể đổi sang dùng dạng thang sắc. Trường hợp đại tiện khô, rắn cứng, có thể gia mang tiêu để nhuyễn kiên, tán kết, tả nhiệt thông tiện. Nếu kèm khô miệng lưỡi, tân dịch hao tổn, có thể gia sinh địa, huyền sâm, thạch hộc để dưỡng âm, sinh tân. Nếu kèm trĩ, chảy máu, gia địa du, hoè hoa để thanh tràng, cầm máu. Nếu kèm uất nộ thương can, mắt đỏ dễ cáu gắt, mạch huyền sác, có thể gia lô hội, chu sa (hơn nữa y thư dẫn “Cách can thông tiện hoàn” 更衣丸) để thanh can thông tiện. Nếu do đàm nhiệt ủng phế làm đại tràng tích nhiệt, bí tiện thì gia hoàng cầm, qua lâu nhân để thanh phế, nhuận tràng, tả nhiệt.
Lưu ý
Không nên dùng lâu các thuốc khổ hàn thanh hạ. Thường khi đã đi cầu thông suốt thì nên ngừng thuốc. Dùng lâu sẽ hao tân dịch.
Trường hợp táo bón do hại âm, có thể phối thêm thuốc dưỡng âm.
Các phương dược kinh điển khác:
“Tứ thuận thanh lương ẩm” (sinh đại hoàng 10g, xích thược 10g, đương quy 10g, bạc hà 10g, cam thảo 6g) trong 《类证治裁·大便不通》.
“Lương cách tán” (凉膈散) (sinh đại hoàng 12g, mang tiêu 8g, chi tử 10g, bạc hà 8g, hoàng cầm 10g, liên kiều 10g, cam thảo 6g) cho trường hợp hoả thịnh.
“Tiểu thừa khí thang” (sinh đại hoàng 12g, chỉ thực 10g, hậu phác 10g).
2/ Trungng y điều trị “khí bí” (气秘) như thế nào?
“Khí bí” có bệnh cơ chủ yếu là khí cơ uất trệ, không thông giáng được, làm cặn bã bị nghẽn tắc lại, khó đi ngoài.
Phương pháp điều trị: Thuận khí, đạo trệ.
Xử phương: Lục Ma thang (六磨汤) (trích trong 《证治准绳》), gồm: Binh lang 18g
Trầm hương 6g Mộc hương 10g Đại hoàng 10g Chỉ thực 12g Ô dược 10g
Trong đó: Binh lang, Chỉ thực: phá khí, hạ khí, (Binh lang còn giúp công hạ). Ô dược, Mộc hương: hành khí. Trầm hương: giáng khí. Đại hoàng: kết hợp để lý khí, thông hạ, dẫn trệ. Nếu khí uất hoá hoả, biểu hiện miệng đắng, họng khô, rêu lưỡi vàng, mạch sác, thêm chi tử, hạ khô thảo để thanh nhiệt tả hoả.
Nếu do thất tình uất kết, buồn bã, thì thêm sài hồ, bạch thược, hợp hoan bì để thư can, giải uất.
Nếu có trùng tích cản trở khí cơ, nên trọng dụng binh lang, gia lôi hoàn, sử quân tử.
Nếu do chấn thương, hoặc sau phẫu thuật gây dính ruột, ngoài lý khí còn cần hoạt huyết hoá ứ: thêm đào nhân, hồng hoa.
Nếu do đàm ẩm ngăn trở khí cơ, thêm táo giáp, cam toại để trục ẩm, thông hạ.
Khí bí do phế khí không giáng
Cần túc giáng phế khí, vì phế đại tràng tương biểu lý. Có thể dùng Tô tử giáng khí thang (trong 《太平惠民和剂局方》), gồm: Tô tử 15g, Bán hạ 10g, Trần bì 10g, Đương quy 10g, Tiền hồ 10g, Hậu phác 8g, Nhục quế 6g, Cam thảo 6g, Sinh khương 6g, Đại táo 5 quả. Khí bí do trúng phong, liệt chi, liệt nửa người
Có thể dùng Sưu phong thuận khí hoàn (trong 《类证治裁》): Sinh đại hoàng 12g, Ma nhân 15g, Uất lý nhân 12g, Sơn thù du 10g, Sơn dược 10g, Xa tiền tử 10g, Ngưu tất 10g, Thỏ ty tử 10g, Phòng phong 10g, Độc hoạt 10g, Binh lang 12g, Chỉ xác 10g.
3/ Trung y điều trị “hư bí” (虚秘) như thế nào?
“Hư bí” thường chia thành khí hư tiện bí, huyết hư tiện bí, âm hư tiện bí.
*3.1. Khí hư tiện bí
Bệnh cơ: Phế, tỳ khí hư, vận hoá kém, đại tràng truyền đạo không đủ lực.
Pháp điều trị: Bổ khí, kiện tỳ.
Thường dùng Hoàng kỳ thang: Hoàng kỳ 30g Trần bì 10g Ma nhân 15g Bạch mật 10g
Trong đó: Hoàng kỳ: Bổ khí phế tỳ (chủ dược). Ma nhân, Bạch mật: Nhuận tràng, thông tiện (phụ dược). Trần bì: Lý khí (tá dược).
Nếu khí hư hạ hãm kèm sa trực tràng, thêm thăng ma, sài hồ, cát cánh, đảng sâm để phối hợp với Hoàng kỳ, nâng khí, cố hãm.
Nếu phế hư, ho lâu, thở ngắn, thêm Sinh mạch tán kèm tử uyển, bạch tiền. Phế là chủ khí, thận là gốc khí, khí hư lâu ngày, dùng bài trên chưa hiệu quả, nên phối hợp bổ thận (ví dụ dùng Đại bổ nguyên tiễn gia vị).
* Huyết hư tiện bí
Bệnh cơ: Huyết hư, đại tràng mất nhu dưỡng, khô táo, khó đi cầu,
Pháp điều trị: Dưỡng huyết, nhuận táo.
Thường dùng Nhuận trường hoàn: Đương quy 15g Sinh địa 15g Ma nhân 15g Đào nhân 10g Chỉ khâu (Chỉ xác/Chỉ thực tùy dùng) 10g
Trong đó: Đương quy, Sinh địa: Bổ huyết, dưỡng âm.
Ma nhân, Đào nhân: Nhuận trường, thông tiện.
Chỉ khâu: Phá khí, dẫn khí đi xuống.
Nếu huyết hư kiêm nhiệt, biểu hiện miệng khô, tâm phiền, rêu lưỡi tróc, mạch tế sác, thêm sinh thủ ô, ngọc trúc, tri mẫu để sinh tân, thanh nhiệt.
Nếu tân dịch đã hồi phục mà vẫn táo bón, có thể dùng Ngũ nhân hoàn để làm trơn ruột.
* Âm hư tiện bí
Bệnh cơ: Âm hư, ruột mất tư nhuận, khô ráo, khó đi cầu.
Pháp điều trị: Tư âm, bổ thận.
Thường dùng Lục vị địa hoàng hoàn: Thục địa 20g Sơn thù 10g Sơn dược 10g Đan bì 10g Phục linh 8g Trạch tả 8g
Có thể gia ma nhân 15g, huyền sâm 15g, ngọc trúc 15g, mật ong 10g để tư âm, nhuận tràng, thông tiện.
Các bài khác như Ích vị thang, Tăng dịch thang (trong 《温病条辨》) cũng thường được chọn.
Trường hợp hư – thực xen lẫn
Lâm sàng hay gặp táo bón do cả nhiệt bí kèm khí hư, có thể dùng Hoàng Long thang gia giảm, dùng mang tiêu, đại hoàng để công hạ, tả nhiệt; kết hợp đảng sâm, đương quy để bổ ích khí huyết.
4/ Điều trị “thấp trệ tiện bí” (湿滞便秘) như thế nào?
Bệnh cơ: Thấp trở ở đại tràng, làm khí cơ không thông, đại tiện có lúc lỏng dính, cảm giác không hết, hoặc mót rặn, cũng có thể khó đi cầu. Phân biệt “thấp nhiệt” và “hàn thấp”.
*Thấp nhiệt
Biểu hiện: Đi cầu khó, mót rặn không xuống, hoặc mót liên tục. Bụng trướng tức, ngực bụng đầy, đại tiện lúc nát lúc táo, ăn uống kém, lưỡi đỏ, rêu nhờn hoặc vàng nhờn, nóng hậu môn hoặc nóng bụng.
Trị pháp: Thanh lợi đại tràng, điều đạt khí cơ.
Thường dùng các vị: Chỉ thực, Hoàng liên, Bạch đầu ông, Hậu phác, Bán hạ, Thương truật, Trạch tả, Cát căn, Phòng phong…Sắc uống.
*Hàn thấp
Biểu hiện: Đi ngoài lỏng dính không thoải mái, kèm đầy trướng bụng, lưỡi nhạt, rêu nhờn, ăn kém, mệt mỏi, ngực tức, có thể phù chân.
Trị pháp: Ôn trục hàn thấp, vận tỳ lợi thấp, điều khí.
Thường dùng các vị: Hậu phác, Chỉ thực, Thương truật, Phục linh, Sa nhân, Tô tử, Can khương, Cát cánh, Đại phúc bì, Bán hạ…Sắc uống.
5/ Trung y điều trị “lãnh bí” (冷秘) như thế nào?
“Lãnh bí” còn gọi là “âm kết”, bệnh cơ do thận dương bất túc, âm hàn sinh bên trong, đọng lại ở tràng vị, âm khí cố kết, dương khí không vận hành, làm ruột không đủ lực chuyển, gây khó đi đại tiện.
Trị pháp: Ôn nhuận, thông tiện. Thường dùng Tế Xuyên tiễn (济川煎): Đương quy 15g Nhục thung dung 20g Ngưu tất 10g Trạch tả 10g Thăng ma 10g Chỉ xác10g.
Trong đó:
Nhục thung dung: ôn dương, bổ thận, nhuận tràng thông tiện (chủ dược).
Đương quy: vị cay ngọt, bổ huyết, dưỡng huyết, nhuận tràng.
Ngưu tất: mạnh gối lưng, dẫn thuốc đi xuống.
Trạch tả: tính giáng, hơi nhuận, phối Ngưu tất để dẫn thuốc xuống.
Chỉ xác: khoan tràng, hạ khí.
Thăng ma: nhẹ, có tác dụng thăng thanh, phối hợp cùng Đương quy, Nhục thung dung để thông tiện, nhuận táo; kết hợp với Trạch tả, Chỉ khâu thì một mặt thăng thanh, một mặt giáng trọc.Người khí hư kèm lãnh bí, có thể thêm Hoàng kỳ.
Người cao tuổi hư lãnh tiện bí, có thể dùng Bán lưu hoàn (trong 《太平惠民和剂局方》): Bán hạ, lưu hoàng. Lưu hoàng tính đại nhiệt, bổ mệnh môn hoả suy, đẩy dương khí để thông đại tràng; Phối bán hạ để giáng trọc, dược tuy đơn giản nhưng công dụng tập trung. Nếu không có sẵn thuốc thành phẩm, có thể thêm 1–2g lưu hoàng vào bài thuốc, hoà uống.
Chứng lãnh bí còn có thể dùng Phụ Quế bát vị hoàn (bài Lục vị kèm Phụ tử, Quế nhục) gia thêm nhục thung dung, đương quy, toả dương. Hoặc Tứ thần hoàn, Lý trung hoàn gia giảm đều được, tuỳ chứng mà vận dụng.
6/ Ma nhân nhuận tràng hoàn (麻仁润肠丸) có thành phần, cách dùng ra sao?
Đây là chế phẩm dựa trên Ma tử nhân hoàn (trong 《伤寒论》), dùng cho tình trạng đại tràng tích nhiệt gây thiếu tân dịch, ruột khô, dẫn đến táo bón.
Thành phần chính: Hỏa ma nhân 200g Khổ hạnh nhân 100g Đại hoàng 200g Chỉ thực (sao) 200g Hậu phác (chế với gừng) 100g Bạch thược (sao) 200g
Cách bào chế:
Trừ hỏa ma nhân, khổ hạnh nhân, bốn vị còn lại (đại hoàng, chỉ thực, hậu phác, bạch thược) tán mịn, rồi trộn cùng nhau (đã tán hỏa ma nhân, khổ hạnh nhân thành bột mịn).
Trộn đều, mỗi 100g bột thêm 30–40g mật luyện và nước, vo thành hoàn, phơi khô. Hoặc thêm 90–100g mật để làm hoàn mật (viên nhỏ hoặc viên to).
Công năng
Nhuận tràng, thông tiện.
Chỉ định
Thích hợp cho người tích nhiệt ở đại tràng, thiếu tân dịch, ruột khô, bụng trướng đầy, đại tiện bí kết.
Cách dùng
Uống mỗi lần 1–2 viên, ngày 2 lần.
Lưu ý
Phụ nữ có thai cấm dùng.
Người khí huyết hư không nên dùng lâu.
7/ Thông u nhuận táo hoàn (通幽润燥丸) có thành phần, cách dùng ra sao?
Bài thuốc này xuất xứ từ “Tỳ Vị Luận” của Kim đại danh y Lý Cao (李杲), về sau được thu vào 《北京市中药成方选集》.
Công thức
Đương quy 24 lạng Chỉ khâu (Chỉ thực / Chỉ xác) 80 lạng Hồng hoa 20 lạng Hậu phác (chế gừng) 80 lạng Uất lý nhân 20 lạng Hoàng cầm (sao) 80 lạng Hỏa ma nhân 20 lạng Thục đại hoàng 80 lạng Sinh địa 20 lạng Thục địa 20 lạng Binh lang (sao) 20 lạng Mộc hương 10 lạng Đào nhân 20 lạng Đại hoàng 40 lạngHạnh nhân 20 lạng Cam thảo 10 lạng
(Tổng 16 vị, trọng lượng 560 lạng. Luyện mật làm hoàn, mỗi hoàn nặng ba tiền.)
Công năng
Thanh nhiệt, nhuận táo, thông u, lợi tiện.
Chỉ định
Thích hợp khi đại tràng nhiệt thịnh, phong nhiệt bí kết, người già hoặc bệnh lâu ngày âm hư gây táo bón.
Cách dùng
Mỗi lần uống 1 hoàn, ngày 2 lần, uống cùng nước ấm.
Cấm kỵ
Phụ nữ có thai không dùng.
Người già yếu, bệnh lâu không nên dùng lâu dài.
Kiêng ăn cay nóng, đồ kích thích hỏa.
Tóm lại, Đông y điều trị táo bón dựa vào biện chứng luận trị, chia ra các thể khác nhau (nhiệt bí, khí bí, hư bí, thấp trệ, lãnh bí…) với các pháp tễ tương ứng. Việc dùng thuốc cần căn cứ nguyên nhân (hàn nhiệt, hư thực, khí trệ, huyết hư, âm hư… ) để chọn pháp trị phù hợp, tránh lạm dụng công hạ khổ hàn lâu dài, đồng thời chú trọng điều chỉnh ăn uống, sinh hoạt, tập luyện để hỗ trợ trị liệu và phòng tái phát.
Thành phần của通便灵 (Thông Tiện Linh) có thành phần chính và cách sử dụng?
Xuất xứ: Dựa trên bài “更衣丸” (Canh Y Hoàn) trong sách Thời Phương Diệu Dụng (时方妙用), bỏ Chu Sa (朱砂), thêm Hổ Phách (琥珀), chế thành Trung thành dược (thuốc đông dược thành phẩm).
Thành phần chính:
芦荟 (Lô hội), 琥珀 (Hổ phách)
Công năng: Thanh nhiệt nhuận tràng, điều Can ích Thận, an thần định tâm, giúp thông suốt Thủy – Hỏa.
Chỉ định: Dùng cho táo bón thói quen, phân khô cứng, hoặc do bí đại tiện nhiều ngày gây trướng đau bụng.
Cách dùng – liều lượng: Uống mỗi lần 1 – 2 viên, ngày 1 – 2 lần.
Lưu ý: Phụ nữ có thai thận trọng. Người già yếu không nên dùng lâu.
新清宁片 (Tân Thanh Ninh Phiến) thành phần chính và cách dùng?
Thành phần chính:
熟大黄 (Thục đại hoàng)
Công năng: Thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết hóa ứ, nhuận hạ (làm mềm, thông tiện).
Chỉ định: Dùng khi bên trong tích thực nhiệt, họng đau, răng đau, mắt đỏ, táo bón, tiêu chảy không hết, các viêm nhiễm gây sốt…
Cách dùng – liều lượng: Uống lúc bụng đói, mỗi lần 5 viên, ngày 3 lần (trẻ em giảm liều). Nếu trị táo bón, có thể uống 5 viên trước khi ngủ.
Lưu ý: Phụ nữ thận trọng khi dùng.
龙胆泻肝丸 (Long Đảm Tả Can Hoàn) có thành phần chính và cách dùng ra sao?
Xuất xứ: Từ sách Lan Thất Bí Tàng (兰室秘藏), là phương chuyên thanh can kinh thấp nhiệt.
Thành phần chính (số lượng ghi theo gam):
龙胆草 (Long đởm thảo) 120g, 柴胡 (Sài hồ) 120g, 黄芩 (Hoàng cầm) 60g, 栀子 (trí – sao) 60g, 当归 (rượu sao) 60g, 生地黄 (Sinh địa) 120g, 泽泻 (Trạch tả) 120g, 关木通 (Quan mộc thông) 60g, 车前子 (Xa tiền tử – muối sao) 60g, 甘草 (mật chích) 60g
Công năng: Thanh tả can đởm thấp nhiệt.
Chỉ định: Trị can đởm thấp nhiệt gây táo bón, hoa mắt chóng mặt, tai ù tai điếc, mắt đỏ, miệng đắng, đau hai mạn sườn, mụn nhọt ở tai mũi, âm hộ sưng ngứa đau, tiểu ngắn đỏ…
Cách dùng – liều lượng: Uống mỗi lần 6g, ngày 2 – 3 lần.
Lưu ý: Phụ nữ thận trọng khi dùng.
牛黄解毒片 (Ngưu Hoàng Giải Độc Phiến) có thành phần chính và cách dùng ra sao?
Thành phần chính (tổng 8 vị):
牛黄 (Ngưu hoàng) 5g, 雄黄 (Hùng hoàng) 50g, 石膏 (Thạch cao) 300g, 冰片 (Băng phiến) 25g, 大黄 (Đại hoàng) 200g, 黄芩 (Hoàng cầm) 150g, 桔梗 (Cát cánh) 100g, 甘草 (Cam thảo) 50g
Quy trình sơ lược: Nghiền mịn, phối hợp, nấu cô, sấy tạo hạt, rồi dập thành 1000 viên (to) hoặc 1500 viên (nhỏ) hoặc bao đường.
Công năng: Thanh nhiệt giải độc, giảm đau.
Chỉ định: Chủ trị đại tiện bí kết, miệng mũi mọc mụn nhọt, mắt đỏ, đau răng, viêm họng…
Cách dùng – liều lượng: Uống mỗi lần 2 viên, ngày 2 lần. Loại viên bao đường thì mỗi lần 3 viên, ngày 2 lần.
Lưu ý: Phụ nữ có thai cấm dùng.
牛黄上清丸 (Ngưu Hoàng Thượng Thanh Hoàn) có thành phần chính và cách dùng ra sao?
Thành phần chính (tổng 19 vị):
大黄 (Đại hoàng) 80g, 黄芩 (Hoàng cầm) 50g, 黄连 (Hoàng liên) 16g, 黄柏 (Hoàng bá) 10g, 菊花 (Cúc hoa) 40g, 白芷 (Bạch chỉ) 16g, 人工牛黄 (Ngưu hoàng nhân tạo) 2g, 荆芥穗 (Kinh giới tuệ) 16g, 川芎 (Xuyên khung) 16g, 栀子 (Chi tử) 50g, 连翘 (Liên kiều) 50g, 赤芍 (Xích thược) 16g, 当归 (Đương quy) 50g, 地黄 (Địa hoàng) 64g, 桔梗 (Cát cánh) 16g, 甘草 (Cam thảo) 10g, 石膏 (Thạch cao) 80g, 冰片 (Băng phiến) 10g, 薄荷 (Bạc hà) 16g
Công năng: Thanh nhiệt tả hỏa, tán phong chỉ thống.
Chỉ định: Thích hợp đầu đau, chóng mặt, mắt đỏ, tai ù, đau họng, nhiệt miệng lở loét, sưng nướu răng, táo bón (phân khô)…
Cách dùng – liều lượng: Mỗi lần 1 viên hoàn lớn, ngày 2 lần.
Lưu ý: Phụ nữ thận trọng khi dùng.
Các đơn vị thuốc đơn lẻ thường dùng trị táo bón
1/ Sinh đại hoàng (生大黄)
Tính vị: khổ (đắng), hàn. Quy kinh Vị, Đại tràng.
Công năng: Tả nhiệt độc, phá tích trệ, hành ứ huyết.Chỉ định: Đại tràng nhiệt kết gây táo bón.
Cách dùng: Mỗi lần ~6g, pha nước sôi uống. Phụ nữ có thai thận trọng.
2/ Phiến hạ diệp (番泻叶)
Tính vị: cam, khổ, hàn, hơi độc nhẹ, quy kinh Đại tràng.
Công năng: Tả nhiệt, dẫn trệ.
Chỉ định: Tích nhiệt đại tràng gây táo bón.
Cách dùng: Mỗi lần 3–6g, pha nước sôi uống. Phụ nữ cấm dùng, người già yếu thận trọng.
Phong mật (蜂蜜)
Tính vị: cam, bình. Quy kinh Tỳ, Đại tràng.
Công năng: Bổ trung, nhuận táo.
Cách dùng: 30g mật ong, pha nước đun sôi để nguội uống.
Sinh thủ ô (生首乌)
Tính vị: khổ, cam, sáp, hơi ấm. Quy kinh Can, Thận.
Công năng: Bổ Can Thận, dưỡng huyết, dùng cho huyết hư gây táo bón.
Cách dùng: 30–60g sắc uống.
Kê huyết đằng (鸡血藤)
Tính vị: cam, khổ, ấm. Quy kinh Tâm, Tỳ.
Công năng: Hoạt huyết, dưỡng huyết, thư cân. Dùng cho huyết hư táo bón.
Cách dùng: 60g sắc uống.
Thảo quyết minh (草决明)
Khương lang (蜣螂 – bọ hung)
Bó xôi (菠菜)
Bạch mật hòa nước, thêm Huyền minh phấn 3 chỉ (~9g), uống khi đói (theo《证治汇补》).
Thành phương (成方) và đơn nghiệm phương (单验方) trị táo bón
(1) Các “thành phương” cổ điển
(2) Đơn nghiệm phương trị táo bón ở người già
Nguyên tắc chọn Trung thành dược (中成药) cho bệnh nhân táo bón
Đông y chia táo bón làm bốn thể chính: nhiệt bí, khí bí, hư bí và lãnh bí (lạnh bí). Trong đó hư bí lại gồm khí hư bí, huyết hư bí và âm hư bí.
Nhiều loại thuốc thành phẩm có công dụng khác nhau, ví dụ:
Vì vậy, khi chọn thuốc thành phẩm, cần dựa vào biện chứng luận trị, chọn đúng theo chứng. Nếu dùng bừa bãi, sai chứng, hiệu quả kém, dễ trì hoãn bệnh và tốn kém vô ích.
Các phương pháp ngoại trị (dùng ngoài) cho táo bón
Phương pháp cạo gió (刮痧) trị táo bón
Cạo gió (guā shā) là biện pháp dân gian, đơn giản, có lịch sử lâu đời. Tác dụng: giải biểu, trừ tà, thông kinh hoạt huyết, hành khí, thanh nhiệt, làm hưng phấn thần kinh, thúc đẩy tuần hoàn, nâng cao chuyển hóa, tăng sức đề kháng.
Các bài tập thể dục hỗ trợ trị táo bón
Đảo ngược cơ thể (倒立疗法) có lợi cho táo bón không?
Nội tạng được treo giữ bởi cơ, dây chằng, phúc mạc. Khi lực nâng đỡ giảm, nội tạng dễ sa xuống, làm giảm nhu động đại tràng. Tư thế trồng chuối (đứng bằng tay), cơ thể đảo ngược sẽ đưa các tạng trở về vị trí, kích thích đại tràng. Lặp lại nhiều lần càng rèn luyện dây chằng, cơ hỗ trợ, khắc phục sa tạng, nhu động ruột mạnh lên, cải thiện táo bón. Đồng thời động tác này giúp cơ bụng khỏe hơn, tăng áp lực khi rặn. Máu từ chân trở về đầu tốt, tăng tuần hoàn, thúc đẩy chuyển hóa, kích thích nhu động ruột.
Hô hấp kiểu bụng (腹式呼吸) có ích cho trị táo bón không?
Người trưởng thành trung bình 1 phút thở 16–20 lần, tức khoảng 26.000 lần/ngày. Thường là thở nông, phổi không sử dụng toàn bộ, khí bẩn trong cơ thể không thoát hết. Cần tập hít thở sâu, nhất là thở bụng (腹式呼吸).
Thở bụng có thể thực hiện mọi lúc mọi nơi, nên tranh thủ tập thường xuyên.
Tác dụng của khí công trong trị táo bón
Cách đơn giản dùng khí công chữa táo bón
Dược lý của Đại Hoàng (大黄)
Đại hoàng là vị thuốc Đông y thường dùng để thông tiện, tả hỏa. Nhiều nghiên cứu hiện đại đã phân tích sâu:
Dược lý của Phiến Hạ Diệp (番泻叶)
Phiến hạ diệp (lá Thảo quyết minh châu Phi) là thuốc nhuận tẩy thường dùng, cách dùng đơn giản, tác dụng đáng tin, độc tính thấp.
Kinh nghiệm trị táo bón của lão Trung y Trương Trạch Sinh (张泽生)
Nhận xét: Bệnh táo bón lâu ngày ở tuổi trung niên – cao niên, cơ thể đã hư, lại dùng nhiều thuốc khổ hàn khiến tỳ vị bị thương tổn, thăng giáng kém. Nên chữa bằng phép “kiện tỳ ích khí, thăng thanh giáng trọc”, dùng Sâm – Kỳ để “lấp chỗ hư mà vẫn dùng”, phối Thăng, Chài, Chỉ khâu để giúp thăng thanh, giáng trọc. Ma nhân hoàn nhuận tràng, thúc đẩy tỳ vị. Các vị hợp lại đạt hiệu quả bền vững, đó mới là trị gốc.
Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch