Tài liệu tham khảo:
1/ Lý luận mới của Trung y thông tiện bảo vệ sức khỏe là gì?
Y học cổ truyền Trung Quốc (Trung y) có những ưu thế độc đáo trong việc chăm sóc sức khỏe. Gần đây, lý luận “Thông tắc bất bệnh, bệnh tắc bất thông” (通则不病,病则不通)hễ thông suốt thì không sinh bệnh, một khi có bệnh tức là không thông suốt do Tiến sĩ Khương Lương Đạc (姜良铎) đề xuất đã thu hút sự chú ý rộng rãi trong giới y học Trung Quốc. “Thuyết đường ống sinh học” này được ông xây dựng và từ đó sáng chế ra “Viên nang Bài độc Dưỡng nhan” (排毒养颜胶囊), cho hiệu quả rõ rệt trong điều trị các bệnh táo bón, mụn trứng cá, hội chứng mệt mỏi, béo phì, mỡ máu cao, gan nhiễm mỡ… Công trình này đã được trao Giải Vàng Thành tựu Khoa học Kỹ thuật tại “Đại hội Giao lưu và Triển lãm Nhân tài Khoa học Kỹ thuật Toàn quốc lần thứ ba” do Ủy ban Khoa học Kỹ thuật Nhà nước Trung Quốc tổ chức.
Lý luận “Thông tắc bất bệnh, bệnh tắc bất thông” (通则不病,病则不通) cho rằng cơ thể con người bao gồm rất nhiều hệ thống đường ống, chẳng hạn như hệ thống mạch máu, hệ bạch huyết, hệ tiêu hóa đường ruột… Chỉ khi các “đường ống” này thông suốt thì cơ thể mới khỏe mạnh; trong đó, đường ống dạ dày – ruột (vị tràng) thông suốt là nền tảng cho sự thông suốt của các hệ thống khác. Bệnh tật của con người là biểu hiện rối loạn chức năng của cơ thể; khi mắc bệnh, do khí cơ (dòng khí) trong cơ thể không thông, các đường ống cũng bị ảnh hưởng, dẫn đến ứ trệ. Đó chính là “bệnh tắc bất thông”. Vì vậy, theo quan điểm này, táo bón là sản phẩm của nhiều loại bệnh tật.
Nhờ lý luận “Thông tắc bất bệnh, bệnh tắc bất thông” của BS Khương Lương Đạc mà công tác phòng ngừa và điều trị “táo bón” đã có nền tảng lý thuyết sâu sắc. Do đó, ngay khi ra đời, lý luận này nhanh chóng nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu dưỡng sinh và chăm sóc sức khỏe Trung y. Sản phẩm “Viên nang Bài độc Dưỡng nhan” được bào chế dựa trên lý luận này đã sớm nổi tiếng trong và ngoài nước nhờ hiệu quả lâm sàng tốt.
2/ Làm thế nào để hiểu “thông tắc bất bệnh”?
Theo Tiến sĩ Khương Lương Đạc, trong điều kiện sinh lý bình thường, cơ thể con người có một hệ thống thải độc động, ba chiều và hoàn chỉnh. Hệ thống thải độc này chủ yếu bao gồm tạng phủ, khí huyết và các “đường ống thải độc”. Ở đó, chức năng hoàn thiện của tạng phủ và sự phối hợp nhịp nhàng giữa chúng là một trong những nền tảng vật chất giúp cân bằng “sinh độc nội tại” và “bài độc nội sinh”. Ví dụ như tỳ và vị (lá lách và dạ dày) vừa là nguồn sinh hóa khí huyết, lại vừa thông qua cơ chế “tỳ thăng, vị giáng” mà đẩy cặn bã độc tố ra ngoài. Các “đường ống thải độc” bao gồm ngũ quan cửu khiếu (mắt, tai, mũi, miệng, lưỡi, hậu môn, niệu đạo… ), da lông, kinh lạc huyết mạch… Xét theo y học hiện đại, đó là các đường ống như mạch máu, mạch bạch huyết, đường hô hấp, đường tiêu hóa, niệu đạo, tuyến mồ hôi… Khi các đường ống này thông sướng, độc tố sinh ra từ bên trong hoặc xâm nhập từ bên ngoài đều có thể được hệ thống thải độc đào thải kịp thời, không tích tụ trong cơ thể, không gây hại cho sức khỏe. Chỉ khi độc tố quá mạnh, quá nhiều hoặc chức năng của hệ thống thải độc bị rối loạn, đường ống thải độc kém thông suốt (hay tắc nghẽn) thì độc tố mới lưu lại trong cơ thể và dẫn đến bệnh tật.
Đường tiêu hóa (vị tràng) là hệ thống đường ống lớn nhất của cơ thể, đồng thời cũng là ống dẫn bài độc quan trọng nhất. Tình trạng đại tiện không thông (táo bón) phản ánh sự tắc nghẽn trong ống tiêu hóa và rối loạn cơ chế thải độc. Từ góc độ chăm sóc sức khỏe, nếu mỗi ngày ta có thể đại tiện “nhiều” hơn một chút sẽ giúp cơ thể tránh được nhiều bệnh tật, bài tiết càng thông suốt thì càng có lợi cho việc kéo dài tuổi thọ.
3/ Làm thế nào để hiểu “bệnh tắc bất thông”?
Tiến sĩ Khương Lương Đạc phân chia trạng thái sinh lý – bệnh lý của cơ thể thành bốn loại:
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), “khỏe mạnh” là trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tinh thần và xã hội, không chỉ là không có bệnh hoặc cơ thể không suy nhược. “Cận bệnh” và “tiền bệnh tật” đều là giai đoạn trung gian giữa khỏe mạnh và ốm bệnh, nhưng mức độ nặng nhẹ khác nhau.
Sự phát sinh và phát triển bệnh tật có liên quan trực tiếp đến việc “có hay không” tồn lưu độc tố trong cơ thể. Việc độc tố tích tụ và lưu lại trong cơ thể sẽ phá vỡ trạng thái khỏe mạnh, khiến cơ thể dần chuyển sang trạng thái bệnh lý. Tính chất và lượng độc tố tồn đọng, cũng như tình trạng chức năng của cơ thể, sẽ quyết định mức độ bệnh nặng hay nhẹ. Do đó, khi nghiên cứu bệnh tật, không thể không xem xét trước hết tình trạng độc tố tồn đọng. Về mặt sinh lý, ở một cơ thể khỏe mạnh, độc tố sẽ không tích tụ, không chỉ vì độc tố bên ngoài không xâm nhập hay độc tố bên trong không phát sinh, mà quan trọng hơn là do hệ thống thải độc (đặc biệt là “đường ống thải độc”) hoạt động thông suốt.
Bởi đường ống thải độc là bộ phận then chốt của hệ thống thải độc, nếu đường ống thải độc thông suốt, các chất thải chuyển hóa và những chất có hại tồn đọng mỗi ngày đều có thể bài xuất kịp thời, không gây ứ đọng độc tố và tổn hại sức khỏe. Từ quan điểm này, “bất thông tắc bệnh” chính là cơ chế bệnh sinh chung của nhiều loại bệnh khác nhau. Quan điểm này cũng là tiền đề cơ bản cho việc biện chứng luận trị (chẩn đoán và điều trị) trong Trung y.
Táo bón là biểu hiện rõ rệt nhất của sự tắc nghẽn đường tiêu hóa đột xuất, sự xuất hiện của táo bón phản ánh tình trạng rối loạn chức năng cơ thể, tức “bệnh tắc bất thông”. Điều chỉnh lại toàn bộ cơ thể, khai thông “đường ống”, đào thải độc tố thì bệnh tật cũng sẽ dần được giải quyết.
Châm cứu trị táo bón
Tài liệu tham khảo: Trung y với bệnh táo bón
I/ Táo bón có thể điều trị bằng châm cứu không, và cơ chế điều trị là gì?
Châm cứu có thể điều trị táo bón. Từ thời Hoàng Đế Nội Kinh, trong thiên “Linh Khu – Tạp bệnh” đã có ghi chép: “Bụng đầy trướng, đại tiện không lợi… châm túc thiếu âm.”, “Bụng đầy, ăn không tiêu, bụng kêu ùng ục, không đại tiện được thì châm túc thái âm.”, “Đau tim, bụng chướng, lạnh run, đại tiện không lợi, châm túc thái âm.” Sau đó, trong các sách cổ về châm cứu như “Châm cứu Giáp Ất Kinh”, “Châm cứu Đại Thành”, v.v. đều có ghi chép và tích lũy nhiều kinh nghiệm quý báu về chữa táo bón.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của táo bón chủ yếu có bốn phương diện: 1/ Tích nhiệt ở trường vị (tích nhiệt ở dạ dày – ruột). 2/ Khí cơ uất trệ (khí huyết không thông). 3/ Khí huyết, tân dịch (dịch thể) hao tổn hư suy. 4/ Âm hàn ngưng trệ.
Tùy theo bệnh nhân thuộc nguyên nhân nào mà lựa chọn huyệt vị và thủ pháp châm cứu phù hợp, giúp thông phủ tả nhiệt, thuận khí đạo trệ, ích khí dưỡng huyết, tư âm nhuận tràng, ôn dương khai kết… Chẳng hạn, châm tả huyệt Thiên Khu để sơ tiết khí dương minh, thông tích đạo trệ; châm huyệt Đại Trường Du với thủ pháp tả hoặc bình bổ bình tả nhằm điều chỉnh khí cơ Đại Tràng, nhuận táo thông tiện; châm Hợp Cốc, Khúc Trì để thanh tả thực nhiệt Đại Trường; châm bổ huyệt Chiếu Hải để tư âm sinh tân v.v.
II/ Đối với người bệnh táo bón do nhiệt (“nhiệt bí”), nên châm cứu huyệt nào và dùng thủ pháp gì?
Táo bón do nhiệt chủ yếu do nhiệt kết phủ thực (nhiệt tích tụ, gây bế tắc ở đại tràng), vì vậy phép trị cần thông phủ tả nhiệt. Bài châm cứu thường chọn huyệt Thiên Khu, Đại Trường Du, Đại Hoành, Nội Đình. Nếu kèm sốt, thêm huyệt Khúc Trì, Hợp Cốc; nếu nhiệt thịnh thương tân (nhiệt nặng gây hao tổn tân dịch) thì thêm Chiếu Hải. Thiên Khu là Mộ huyệt của Đại tràng, châm vào giúp sơ tiết khí dương minh, thông tích đạo trệ. Kết hợp với Đại Trường Du (huyệt Bối du của Đại tràng), điều chỉnh khí cơ Đại Tràng, nhuận táo thông tiện. Đại Hoành nằm trên đường kinh Đại tràng, cũng là giao hội của kinh Tỳ và mạch Âm Duy, phối hợp Thiên Khu trị chứng đau bụng quanh rốn, phối hợp Đại Trường Du để trục uế thông kết. Thêm Nội Đình (huỵệt Dinh/Du của kinh Vị) để thanh thực nhiệt dương minh. Người bệnh có sốt, do chính nhiệt từ dương minh gây ra, châm tả Hợp Cốc và Khúc Trì (đều thuộc kinh Thủ Dương Minh), giúp thanh tả thực nhiệt Đại tràng. Đồng thời châm bổ Chiếu Hải (kinh Thận) để tư âm sinh tân. Các huyệt phối hợp với nhau nhằm tả hỏa thông tiện, hành khí đạo trệ.
Thủ pháp: Ở các huyệt Thiên Khu, Đại Trường Du, Đại Hoành, Nội Đình, Khúc Trì, Hợp Cốc đều dùng pháp tả, lưu kim ngắt quãng 10 phút. Nếu nhiệt thịnh thương tân thì thêm huyệt Chiếu Hải với pháp bổ.
III/ Đối với bệnh nhân táo bón do khí trệ (“khí bí”), nên châm cứu huyệt nào và dùng thủ pháp gì?
Táo bón do khí trệ là do khí cơ uất trệ, phủ khí không thông. Phép trị chủ yếu là thuận khí, đạo trệ. Bài châm cứu thường chọn huyệt Khí Hải, Thiên Khu, Thái Xung, Chi Câu làm chính. Nếu người bệnh ợ hơi nhiều, thêm Trung Quản, Túc Tam Lý; nếu ho nghịch khí thượng xung, thêm Đản Trung, Liệt Khuyết. Thái Xung (du huyệt của kinh Can) giúp sơ can, giải uất. Dùng Thiên Khu (Mộ huyệt của Đại tràng) phối hợp Khí Hải để điều lý đại tràng, thông phủ khí, trục uế, đạo trệ. Dùng Chi Câu (huyệt Kinh của Tam Tiêu) có tác dụng điều lý Tam Tiêu, điều hòa khí cơ, trục tích thông tiện. Nếu ợ hơi nhiều, thêm Trung Quản giúp hòa vị, giáng trọc; thêm Túc Tam Lý giúp hóa trệ, thông suốt trung tiêu. Nếu ho nghịch lên, thêm Đản Trung để túc phế, giáng khí, phối hợp Liệt Khuyết (lạc huyệt của kinh Phế, thông với Đại tràng) để tuyên phế thông tràng.
Thủ pháp: Các huyệt nói trên đều dùng tả pháp với cường độ kích thích mạnh, lưu kim ngắt quãng 10 phút.
IV/ Đối với bệnh nhân táo bón do hư (“hư bí”), nên châm cứu huyệt nào và dùng thủ pháp gì?
“Hư bí” gồm ba thể chính: Khí hư táo bón, huyết hư táo bón, âm hư táo bón. Việc chọn huyệt và thủ pháp châm cứu cho mỗi thể như sau:
1/ Khí hư táo bón: Nên châm các huyệt Phế Du, Tỳ Du, Khí Hải, Phúc Kết, Thiên Khu, Túc Tam Lý… để ích khí nhuận tràng. Châm Phế Du, Tỳ Du, Khí Hải dùng pháp bổ và thêm cứu (ôn châm bằng ngải), để bổ ích khí phổi – tỳ, kiện vận trung tiêu. Kết hợp châm Phúc Kết, Thiên Khu, Túc Tam Lý dùng pháp tả với kích thích mạnh, giúp vận hóa tỳ vị, thông phủ đạo trệ. Như vậy, trong khi bổ cũng có tả, làm ấm trung tiêu nhưng không để tồn trệ, giúp hạ không tổn chính khí.nNếu có sa trực tràng hoặc sa dạ dày – ruột do khí hư hạ hãm, thêm huyệt Bách Hội, Trường Cường (châm cứu kết hợp) để bổ khí, nâng đỡ tạng phủ.
Thủ pháp: Phế Du, Tỳ Du, Khí Hải dùng pháp bổ, lưu kim 15 phút, trong thời gian lưu kim có thể cứu bằng điếu ngải; Phúc Kết, Thiên Khu, Túc Tam Lý dùng pháp tả với kích thích mạnh, lưu kim ngắt quãng 10 phút. Nếu sa trực tràng, châm Bách Hội, Trường Cường đều dùng bổ pháp và thêm cứu.
2/ Huyết hư táo bón: Nên châm các huyệt Tỳ Du, Cách Du, Thiên Khu, Chi Câu, Túc Tam Lý, Chiếu Hải. Trường hợp huyết hư có nhiệt, thêm Nội Quan, Tam Âm Giao. Trong đó, Tỳ Du phối Túc Tam Lý để kiện tỳ vị, ích khí huyết, khai nguồn sinh hóa. Cách Du là huyệt Hội của huyết, bổ vào giúp sinh và dưỡng huyết; nếu tả thì hoạt huyết khử ứ. Phối hợp Tỳ Du cùng bổ để tăng cường sinh huyết. Bổ Chiếu Hải (kinh Thận) để tư âm, nhuận tràng. Tả Chi Câu, Thiên Khu để thông khí tam tiêu, giải uất tích ở phủ. Phối hợp như vậy, vừa trị gốc (huyết hư) vừa trị ngọn (táo bón), đạt được mục đích dưỡng huyết, nhuận táo, thông phủ, đạo trệ. Nếu huyết hư kèm nhiệt, miệng khô, tâm phiền, thêm bổ Nội Quan, Tam Âm Giao để tư âm, giáng hỏa, thanh nhiệt, trừ phiền.
Thủ pháp: Tỳ Du, Cách Du, Chiếu Hải, Túc Tam Lý dùng pháp bổ, lưu kim 15 phút, có thể thêm ôn cứu bằng ngải. Thiên Khu, Chi Câu dùng pháp tả, lưu kim ngắt quãng 10 phút. Huyết hư có nhiệt thì không dùng ôn cứu, bổ thêm Nội Quan, Tam Âm Giao.
3/ Âm hư táo bón: Nên châm các huyệt Đại Trường Du, Thượng Cự Hư, Liệt Khuyết, Chiếu Hải, Thừa Sơn để tư âm nhuận tràng. Trong đó, Liệt Khuyết phối Chiếu Hải giúp sinh tân dịch, nhuận táo. Tả Đại Trường Du và Thượng Cự Hư để điều lý đường ruột, thông phủ hành trệ. Thêm Thừa Sơn (huyệt kinh nghiệm thông tiện) châm tả với kích thích mạnh để tăng cường hiệu quả trục uế, đạo trệ.
Thủ pháp: Liệt Khuyết, Chiếu Hải dùng pháp bổ, lưu kim 15 phút. Đại Trường Du, Thượng Cự Hư, Thừa Sơn dùng pháp tả với kích thích mạnh.
V/ Đối với người bệnh táo bón do hàn (“lạnh bí”), nên châm cứu huyệt nào và dùng thủ pháp gì?
Táo bón do hàn bí thường do thận dương bất túc, âm hàn kết tụ bên trong, vì vậy cần ôn bổ thận dương, tán hàn. Bài châm cứu thường chọn huyệt Thận Du, Khí Hải, Quan Nguyên, Đại Hoành, Tam Âm Giao. Thận Du, Quan Nguyên châm bổ và thêm cứu, để ôn bổ thận dương, tán hàn. Tam Âm Giao cũng dùng pháp bổ và cứu, nhằm ôn thông dương khí ba kinh âm, giúp khai kết, thông tiện. Khí Hải, Đại Hoành trước bổ sau tả, điều thông khí cơ đường ruột, hành khí đạo trệ. Phối hợp như vậy, vừa có “châm hành dương” vừa có “cứu bổ hỏa”, giúp phục hồi dương khí thận, khôi phục cơ chế khí hóa, làm thông đại tiện và giảm tiểu tiện nhiều lần do hàn dương hư.
Thủ pháp: Thận Du, Khí Hải, Quan Nguyên, Tam Âm Giao dùng pháp bổ, lưu kim và thêm cứu. Khí Hải, Đại Hoành có thể “trước bổ sau tả”, khi lưu kim cũng có thể phối hợp ôn cứu.
VI/. Liệu pháp tiêm huyệt (thủy châm) bao gồm những nội dung gì?
Liệu pháp tiêm huyệt (còn gọi là “thủy châm”) là phương pháp vừa kết hợp châm cứu vừa tiêm thuốc. Thầy thuốc dùng kim tiêm châm sâu vào huyệt, tiến hành thủ pháp “đắc khí” (tìm cảm giác châm), rồi từ từ bơm thuốc vào huyệt. Như vậy, vừa tận dụng tác dụng điều trị của châm cứu và huyệt vị, vừa tăng cường hiệu quả của dược chất.
Hiện nay, các thuốc tiêm thường dùng trong lâm sàng có: Các loại dịch chiết từ thảo dược như Đương quy, Xuyên khung, Hồng hoa, Hoàng kỳ…Vitamin B1, Vitamin B12, Procain hydroclorid, ATP, Coenzym A, các loại kháng sinh…Chỉ cần một lượng thuốc rất nhỏ cũng có thể đạt hiệu quả tương đương tiêm bắp với liều lớn, bởi:Thuốc được đưa trực tiếp vào huyệt vị, qua kinh lạc của Y học cổ truyền, tăng tính đặc hiệu. Giảm được lượng thuốc cần dùng, nâng cao hiệu quả điều trị.
Trong điều trị táo bón, phương pháp này thường chọn huyệt Xích Trạch, Thượng Cự Hư, Thần Môn làm chính. Thuốc tiêm có thể sử dụng nước muối sinh lý hoặc vitamin B1.
Thủ pháp: Theo quy chuẩn vô trùng, châm vào Xích Trạch và Thượng Cự Hư mỗi huyệt bơm 4–6 ml dung dịch (nếu là nước muối sinh lý), Thần Môn khoảng 1–2 ml. Nếu dùng vitamin B1, mỗi huyệt tiêm khoảng 0,5 ml, Mỗi ngày hoặc cách ngày tiêm 1 lần.
VII/ Phương pháp cấy chỉ (埋线法) vào huyệt để chữa táo bón như thế nào?
Chọn các huyệt Thượng Cự Hư, Đại Trường Du, Thiên Khu, có thể phối thêm Túc Tam Lý, Tam Âm Giao cho một số trường hợp. Dùng kim chọc tủy sống số 9, luồn đoạn chỉ catgut y tế (loại 0, dài khoảng 2 cm) vào sâu trong huyệt theo hướng thẳng đứng. Khoảng 15–30 ngày cấy lại một lần, thông thường từ 1 đến 8 lần điều trị.
VIII/ Dùng phương pháp “chôn kim trên da” (皮肤埋针) và “kim hoa mai” (梅花针) trị táo bón ra sao?
Liệu pháp chôn kim trên da (da châm) Thường chọn các huyệt Can Du, Đởm Du, Thông Lý, Quyết Âm Du, Thiên Khu, hoặc huyệt Giáp tích hai bên đốt sống ngực 5–6. Sử dụng loại kim nhỏ dạng hạt lúa mạch (麦粒型) đâm chếch vào dưới da chừng 0,5–1 cm, để đầu kim lộ ra ngoài da rồi dán cố định bằng băng dính trong 2–3 ngày. Trong thời gian lưu kim, mỗi ngày có thể ấn nhẹ vài lần để tăng kích thích. Phương pháp này cần bác sĩ thực hiện.
Liệu pháp kim hoa mai (gõ mai hoa châm)
Thường gõ vùng thắt lưng, vùng xương cùng (cùng cụt) và vùng bụng dưới.
Tập trung gõ mạnh hơn ở những điểm đau ấn hoặc có dải căng cứng dọc hai bên đốt sống ngực 10 đến thắt lưng 2, đặc biệt là vùng xương cùng.
Đây là phương pháp tạo kích thích trực tiếp lên da bằng bộ kim hoa mai (có nhiều mũi kim nhỏ), giúp cải thiện tuần hoàn và điều hòa chức năng tạng phủ, kinh lạc.
Lương y Trường Xuân Nguyễn Nghị dịch