ĐÔNG Y VỚI BỆNH VIÊM GAN.中医看肝炎*.
ĐÔNG Y VỚI BỆNH VIÊM GAN
Tài liệu tham khảo
- Đông y chẩn trị viêm gan cấp tính như thế nào?
Trước hết, Đông y phân viêm gan cấp thành hai loại lớn: “hoàng đản hình” (có vàng da) và “vô hoàng đản hình” (không vàng da).
- Loại hoàng đản lại phân thành:
- Thấp nhiệt uẩn kết, nhiệt nặng hơn thấp.
- Thấp nhiệt uẩn kết, thấp nặng hơn nhiệt.
- Thấp nhiệt ngang nhau.
- Hàn thấp trở ngại.
Tương ứng chọn các phương:
-
- Nhân trần hao thang
- Nhân trần tứ linh tán
- Ma hoàng liên kiều xích tiểu đậu thang
- Cam lộ tiêu độc đan gia giảm.
- Loại không vàng da thì phân:
- Can khí uất kết
- Can tỳ bất hòa
- Tỳ vị bất hòa
Tương ứng chọn các phương:
-
- Sài hồ sơ can tán
- Tiêu dao tán
- Hương sa lục quân tử thang gia giảm.
Khi dùng thuốc, cần tùy chứng mà gia giảm:
- Nếu buồn nôn, nôn ói, gia bán hạ, trúc nhự, sinh khương, hoắc hương, bội lan v.v.
- Nếu chán ăn, gia chỉ thực, mạch nha, thần khúc, nội kim, sa nhân, thương truật, bạch truật v.v.
- Trường hợp vàng da rõ, phối nhân trần và đại hoàng giúp giảm vàng da rất tốt. Hoặc có thể căn cứ lý luận “huyết ứ”, cho thêm thuốc hoạt huyết hóa ứ như đan sâm, cũng thu được hiệu quả tương đối hài lòng.
Nghiên cứu dược lý hiện đại chứng minh nhóm thuốc Thanh nhiệt giải độc có tác dụng hạ men gan, ví dụ: nhân trần, bản lam căn (rễ củ cải xanh), hổ trượng, liên kiều, tần bì, long đởm thảo, điền cơ hoàng, đại thanh diệp, hoàng cầm, sài hồ v.v., giúp cải thiện lượng oxy cung cấp trong gan, duy trì cân bằng nội môi, từ đó kháng viêm ở tế bào gan, giúp chức năng gan phục hồi sớm.
- Thuốc Đông y có hại cho gan không?
Một số vị thuốc Đông y vẫn có độc tính với gan. Hiện đã phát hiện/ xác nhận một số dược liệu tổn hại gan: Hoàng dược tử, Thương nhĩ tử, Nông Cát Lợi, Thiên lý quang, Trư thỉ đậu, Ngư đởm, Tứ quý thanh, Khổ luyện bì, Quán chúng, Diên đơn (chì đỏ), tỳ thạch (asen), Thảo ô, Lôi công đằng, Ngải diệp, Giác thái tử (cải dầu?), Hồng hồi hương căn bì, Ong đốt độc, tinh dầu bạc hà…
Về bệnh lý tổn thương gan do thuốc Đông y, có các loại:
- Tổn thương tế bào gan: Thay đổi bệnh lý chính là hại lên tế bào gan, gây thoái hóa mỡ hoặc hoại tử gan. Ví dụ trư thỉ đậu, ngư đởm có thể dẫn đến dạng tổn thương này.
- Ứ đọng mật: Tổn thương chủ yếu là hình thành “cục mật” (cholestasis) ở tiểu quản mật, có thể kèm viêm đường mật và hoại tử nhẹ tế bào gan. Biểu hiện chính là ứ mật trong gan, hoại tử tế bào gan không rõ. Ví dụ Quán chúng gây “bệnh gan độc tính” có thể thuộc dạng ứ mật.
- Hỗn hợp: Hoàng dược tử có thể gây tổn thương gan hỗn hợp, vừa làm hại tế bào gan vừa ứ mật. Lâm sàng biểu hiện men gan (transaminase) và phosphatase kiềm đều tăng trung bình, kèm vàng da ở mức độ khác nhau.
- Làm thế nào sử dụng hợp lý Đông y trong điều trị bệnh gan?
- Dùng thuốc tinh giản
Điều trị viêm gan thường phải phối hợp nhiều biện pháp, nhưng nếu quá nhiều toa, nhiều vị, sẽ tăng gánh nặng cho gan vốn đã bị tổn thương. Cần nắm “chủ yếu” theo đặc điểm bệnh học viêm gan, tránh dùng thuốc bừa bãi, phối hợp nên tinh gọn, lấy chủ dược làm nòng cốt.
- Chú ý liều lượng
Liều thuốc không chỉ liên quan hiệu quả điều trị, mà còn liên quan trực tiếp tác dụng phụ. Không thể tùy tiện nâng liều để “tăng hiệu quả” mà bỏ qua tác hại tiềm ẩn. Mặt khác, một số thuốc đông y ở liều thường dùng thì không độc, nhưng vượt liều lại gây hại. Ví dụ câu “tế tân bất quá tiền” (tế tân không quá 3g) là kinh nghiệm xưa. Khi gan viêm, khả năng chuyển hóa giải độc suy giảm, liều dùng bình thường ở người lành cũng có thể ảnh hưởng xấu. Vì vậy, cần nghiêm ngặt khống chế liều, ưu tiên “liều nhẹ thắng được bệnh”.
- Kiểm soát thời gian dùng thuốc
Thuốc trục tà (thanh nhiệt, tả hạ, khai uất v.v.) không nên dùng lâu, vì hại chính khí. Thuốc sơ can đa phần có tính cay, nóng; thuốc thanh nhiệt đa phần đắng, hàn. Cay nóng dùng lâu hao tổn âm huyết, đắng hàn lâu ngày hại dương tỳ. Thuốc phá huyết/khí cũng không nên dùng dài, đến mức độ khỏi bệnh thì ngưng. Nếu cần điều trị lâu dài, nên chia đợt, giữa các đợt nghỉ 1 ngày, mỗi 6 thang nghỉ 1 ngày, để bất lợi có thời gian giải, giảm tích lũy, đồng thời cơ thể có lúc bù đắp. Khi bệnh khá hơn, chuyển sang giai đoạn củng cố, có thể giảm tần suất (3 thang/tuần v.v.).
- Đông y có điều hòa được miễn dịch ở bệnh nhân viêm gan không?
Nhiều nghiên cứu hiện đại cho thấy nhiều vị thuốc Đông y và thành phần của chúng có công năng tăng cường miễn dịch:
- Vân chi đa đường K (PS-K): Kích thích miễn dịch tế bào; chiết từ nấm Vân chi CM-101 (protein chiếm 25%). Liều: 1g/lần, ngày 3 lần, uống.
- Ngân nhĩ đa đường: Từ nấm Ngân nhĩ nuôi cấy sâu, có công năng cải thiện, điều chỉnh miễn dịch, nâng bạch cầu. Liều: 1g/lần, ngày 3 lần.
- Trư linh đa đường: Chiết từ Trư linh (Polyporus umbellatus), có thể nâng cao miễn dịch tế bào, tăng tỷ lệ chuyển dạng lympho, tăng hoạt lực thực bào. Liều: 40mg tiêm bắp ngày 1 lần.
Các dược liệu được chứng thực qua thực nghiệm và lâm sàng:
- Nhóm tăng cường chức năng đại thực bào: Bạch hoa xà thiệt thảo, Nữ trinh tử, Kim ngân hoa, Kê huyết đằng, Sơn đậu căn…
- Nhóm tăng cường chức năng B, tăng globulin miễn dịch: Thỏ ty tử, Hoàng tinh, Tỏa dương, Tiên mao…
- Nhóm tăng cường chức năng T: Hoàng kỳ, Nhân sâm, Đảng sâm, Bạch truật, Linh chi, Tang ký sinh…
- Nhóm khử phức hợp miễn dịch: Sinh địa, Đại hoàng, Đào nhân, Hồng hoa, Ích mẫu thảo, Đan sâm, Xích thược…
- Nhóm hoạt huyết hóa ứ, tăng cường miễn dịch: Đan sâm, Kê huyết đằng, Đào nhân, Hồng hoa, Uất kim, Cát căn…
- Đông y hạ men gan (ALT, AST) bằng cách nào?
Nghiên cứu cho thấy nhiều cơ chế giúp thuốc Đông y giảm men gan:
- Thay đổi tính phản ứng của cơ thể
Ở một số trường hợp viêm gan mạn, men gan cao lâu, nhưng giải phẫu bệnh không thay đổi nhiều, hoặc chỉ viêm phản ứng không đặc hiệu. Có khi mô gan tổn thương nhẹ, nhưng tính phản ứng của cơ thể tăng, tính thấm màng tế bào gan cao, men dễ rò rỉ ra máu. Lâm sàng người này hay dị ứng, nếu làm giảm độ mẫn cảm, có thể giảm tính thấm màng gan, từ đó gián tiếp hạ men. Thuốc Đông y có khả năng ức chế viêm phản ứng, giải mẫn cảm (cải thiện dị ứng) như đan bì, Từ trường khanh, bạch mao hạ khô thảo, long đởm thảo, khổ sâm, đồng thời chúng cũng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết hóa ứ… Dùng đúng biện chứng sẽ có hiệu quả giảm men rõ.
- Điều chỉnh môi trường acid-kiềm quanh tế bào gan
pH quanh tế bào gan càng cao (kiềm), men thoát ra nhiều và nhanh; pH thấp (toan nhẹ), men thoát ít và chậm. Căn cứ biện chứng, thêm dược vị chua (toan) khi lập phương, giúp hạ men nhanh.
- Nếu nóng trong hoặc nhiệt độc mạnh, dùng vị chua hàn như ngưu tất, ngư tinh thảo, mã xỉ hiện, chua me đất, bạch thược.
- Nếu khí trệ huyết ứ, dùng sinh sơn tra, ngũ vị tử, mộc qua… để sơ can lý khí.
- Nếu tỳ hư, thận hư, dùng xích thạch chi, ô mai, phúc bồn tử, sơn thù du… để kiện tỳ cố thận.
- Tăng cường miễn dịch tế bào
Tổn thương tế bào gan do HBV có liên hệ chặt với miễn dịch tế bào. Hơn 70% bệnh nhân viêm gan mạn có miễn dịch tế bào thấp. Nhiều thuốc đông y có thể cải thiện miễn dịch tế bào, ví dụ:
- Tăng cường chức năng hệ võng nội mô: Hoàng kỳ, Nhân sâm, Đảng sâm, Chi tử.
- Tăng số lượng tế bào T và nâng tỷ lệ chuyển dạng T-lympho: Hoàng kỳ, Dâm dương hoắc, Ngũ vị tử, Phục linh, Tang ký sinh, Hồng hoa, Đan sâm, Vương bất lưu hành, Hoàng liên, Hoàng cầm, Bồ công anh, Địa đinh, Sừng trâu nước, Kim ngân hoa…
Khi dùng cụ thể, phải chú trọng biện chứng luận trị. Cơ thể miễn dịch tế bào yếu thường thuộc hư chứng, song cũng có trường hợp bị ức chế do thực tà, có thể là chứng thực. Hoặc vừa hư, vừa có tà thực (“chính hư tà thực”). Xử lý quan hệ “phù chính khử tà” đúng, nâng sức đề kháng, thì hiệu quả hạ men cũng tăng.
4) Điều chỉnh chức năng chuyển hóa của bệnh nhân: Viêm gan mạn tính gây tổn thương thực thể tế bào gan, kéo theo rối loạn chuyển hóa đường, chất béo, protein, hormone nội tiết, các chất sắc tố… Một số rối loạn chuyển hóa trong đó khiến men gan (transaminase) không ổn định lâu dài, vì thế cần khắc phục các rối loạn này. Chẳng hạn, dùng các dược liệu giúp tăng albumin như bột sừng trâu, tam thất, kén tằm, nhân sâm; dùng các dược liệu ức chế globulin như đại táo, hoàng kỳ, cam thảo, đại hoàng, đào nhân, ngưu tất, sinh địa, đương quy, xuyên khung, hồng hoa, đan sâm… Việc lựa chọn các vị thuốc phải dựa vào biện chứng lâm sàng.
Dược liệu ngũ vị tử hạ men gan có hiệu quả và cơ chế ra sao?
Trong lâm sàng, người ta nhận thấy ngũ vị tử có tác dụng hạ men (giảm transaminase) bền vững ở những trường hợp viêm gan không vàng da, viêm gan mạn tính thể kéo dài, chỉ một loại men tăng cao. Ở người mang kháng nguyên bề mặt (HBsAg) nhưng không có triệu chứng, kèm xét nghiệm độ đục hoặc floc (điện di) dương tính, thì ngũ vị tử cũng cho hiệu quả hạ men tốt. Theo biện chứng Đông y, những bệnh nhân thuộc thể thận hư đáp ứng khá tốt.
Tuy nhiên, ở thể “thấp nặng hơn nhiệt”, “thấp nhiệt ngang nhau”, kèm ứ huyết, hoàng đản, và trường hợp kháng nguyên bề mặt, kháng nguyên e, kháng thể lõi đều dương tính rõ rệt, kéo dài “tam dương”, thì tác dụng hạ men của ngũ vị tử kém. Ở những đối tượng này, dù đang dùng ngũ vị tử có thể hạ men, nhưng khi ngưng hoặc giảm liều, men gan thường “bật lên” trở lại, tỷ lệ “tái tăng men” có thể trên 50%. Thêm vào đó, ngũ vị tử dùng dưới dạng bột hay hoàn mật với liều cao dễ gây kích thích dạ dày, khiến ợ chua, nóng rát thượng vị, nhưng đa phần bệnh nhân vẫn chịu được.
Thông qua thí nghiệm trên động vật và nghiên cứu lâm sàng, người ta chứng minh hoạt chất hạ men gan của ngũ vị tử nằm chủ yếu ở nhân hạt (nhân cứng bên trong quả), thuộc nhóm thành phần tan trong chất béo. Viện Nghiên cứu Dược phẩm của Viện Khoa học Y học Trung Quốc đã phân tích, trong 28 hoạt chất chiết tách được, ngũ vị tử ất tố, bính tố, rượu ất, chất béo ất, chất béo bính, chất béo đinh… là các thành phần có tác dụng hạ men. Các thành phần này còn giúp giảm tổn thương gan trên chuột do ngộ độc carbon tetrachloride. Nghiên cứu cũng phát hiện ngũ vị tử thúc đẩy sự tổng hợp protein và glycogen của gan, gia tăng hàm lượng cytochrome P-450 trong vi thể tế bào gan, từ đó nâng cao khả năng giải độc của gan.
Về cơ chế hạ men của ngũ vị tử, hiện có nhiều cách giải thích khác nhau. Có người cho rằng đó là nhờ tác dụng bảo vệ tế bào gan; có giả thuyết ngũ vị tử có thể mang tính chất giống corticoid; trong khi nghiên cứu của Đại học Y khoa Bắc Kinh cho thấy ngũ vị tử không có khả năng làm mất hoạt tính của transaminase một cách trực tiếp, cũng không làm giảm tính thấm của màng tế bào gan với men, và không có tác dụng rõ trong việc tăng tốc độ đào thải men. Thay vào đó, ngũ vị tử làm giảm đáng kể hoạt lực transaminase bên trong tế bào gan, nên được xem như một chất ức chế transaminase có tính hồi phục. Tuy nhiên, các cách giải thích ấy vẫn chưa lý giải trọn vẹn những ca đã điều trị khỏi trên lâm sàng và việc ngũ vị tử thực sự làm tăng chỉ số albumin huyết thanh. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn.
Ly Trường Xuân dịch