TRUNG Y ĐIỀU TRỊ BỆNH CAO HUYẾT ÁP.
Tài liệu tham khảo:
Trung y nhận thức về bệnh cao huyết áp như thế nào?
Trong y học cổ truyền (YHCT) Trung Quốc, mặc dù không có tên bệnh “cao huyết áp” nhưng trong các tài liệu cổ đã ghi chép về nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, triệu chứng và phương pháp phòng trị. Chẳng hạn, trong “Nội kinh” có chép: “Chư phong điệu huyễn, giai thuộc vu can” (诸风掉眩,皆属于肝)tất cả các chứng rung lắc, hoa mắt chóng mặt đều liên quan đến gan), “Thận hư tắc đầu trọng cao dao, tủy hải bất túc, tắc não chuyển nhĩ minh” (肾虚则头重高摇,髓海不足,则脑转耳鸣)thận hư thì đầu nặng lắc lư, tủy hải không đủ thì não xoay chuyển, tai ù. Cho rằng chứng hoa mắt chóng mặt có liên quan đến gan và thận. Trong “Thiên Kim Phương” nêu: “Can quyết đầu thống, can hỏa quyết nghịch, thượng kháng đầu não dã” (肝厥头痛,肝火厥逆,上亢头脑也。), “Kỳ thống tất chí đỉnh đẩu, dĩ can chi mạch dữ đốc mạch hội ư đỉnh cố dã… can quyết đầu thống tất đa huyễn vận”( 其痛必至巅顶,以肝之脉与督脉会于巅故也……肝厥头痛必多眩晕). Nghĩa là: đau đầu do can quyết, do can hỏa nghịch lên gây đau đầu, nhất là vùng đỉnh, vì kinh can và đốc mạch hội ở đỉnh đầu, thường kèm chóng mặt. Cho rằng đau đầu, hoa mắt chóng mặt do can hỏa nghịch gây nên. “Đan Khê Tâm Pháp” nói: “Vô đàm bất huyễn, vô hỏa bất vựng” (không có đàm thì không chóng mặt, không có hỏa thì không hoa mắt), cho rằng đàm và hỏa cũng là nguyên nhân gây bệnh. Những điều trên cho thấy YHCT đã sớm có nhận thức về bệnh cao huyết áp.
Căn cứ trên các triệu chứng chủ yếu, diễn biến bệnh lý và các biến chứng của cao huyết áp, hiện nay đa số đều cho rằng bệnh thuộc phạm vi các chứng “đầu thống”, “huyễn vựng” và “trúng phong” trong YHCT. Các triệu chứng như đau đầu, căng đầu, tâm quý (đánh trống ngực), mất ngủ, hoa mắt chóng mặt, đau ngực, cứng cổ, tê tay chân, cứng lưỡi, đau lưng, nửa người tê bì, miệng mắt méo lệch, bán thân bất toại… đều có thể là biểu hiện của cao huyết áp. Mỗi triệu chứng có thể do những nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh khác nhau, hoặc cùng một căn nguyên cơ chế nhưng biểu hiện thành nhiều triệu chứng khác nhau, điểm này khác với y học hiện đại.
YHCT cho rằng bệnh có thể do thất tình (bảy thứ tình chí) thương tổn, ăn uống thất điều (không điều độ), và nội thương hư tổn gây nên.
Dưới tác động phối hợp của các nhân tố trên, cơ thể mất cân bằng âm dương, đặc biệt là gan, thận âm dương thất điều. Do can thận âm hư, can dương thượng kháng, hình thành hiện tượng bệnh lý “hư dưới, thực trên” nên thấy đau đầu, chóng mặt, ù tai, mất ngủ. Mặt khác, do thận âm tổn thương không nuôi dưỡng được tâm, tâm cũng bị ảnh hưởng, nên thấy tâm quý, hay quên, mất ngủ. Bệnh lâu ngày không khỏi, âm tổn cập dương, dẫn đến thận dương bất túc, kèm sợ lạnh, tay chân lạnh, liệt dương, tiểu đêm nhiều… thuộc chứng dương hư; hoặc âm tổn trước, sau đến dương hư, cuối cùng hình thành chứng âm dương lưỡng hư. Dương thịnh còn có thể hóa phong hóa hỏa, can phong nhập lạc gây tê bì tứ chi, thậm chí miệng mắt méo lệch; can hỏa xung lên gây đỏ mặt, mắt đỏ, dễ cáu giận. Phong hỏa tương bức, đốt tân dịch thành đàm, nếu can dương bộc phát quá mạnh, dương kháng phong động, huyết theo khí nghịch, kèm đàm kèm hỏa chạy loạn trong kinh lạc, quấy rối tâm thần, che lấp thanh khiếu, có thể dẫn đến trúng phong, hôn mê bất tỉnh.
Ngoài ra, hai mạch xung và nhâm – xung mạch chủ huyết hải, nhâm mạch chủ nhất thân chi âm, cũng có quan hệ mật thiết với can thận, có thể gây can dương thượng kháng, thậm chí thận dương suy, thành chứng âm dương lưỡng hư kèm hư dương nhiễu loạn phía trên.
Trung y biện chứng thi trị bệnh cao huyết áp như thế nào?
Về cách biện chứng phân loại cao huyết áp trong YHCT, hiện có nhiều nghiên cứu, có người phân theo âm dương, có người phân theo tạng phủ, có người phân theo hư thực… nhưng chưa thống nhất. Loại phân theo tạng phủ được áp dụng khá rộng rãi.
Các loại thuốc thành phẩm thường dùng điều trị cao huyết áp trong YHCT:
Long đởm tả can hoàn và Đương quy long hội hoàn đều có tác dụng thanh can tả hỏa trị cao huyết áp. Khác nhau ở chỗ: Long đởm tả can hoàn tả thấp nhiệt qua tiểu tiện, trong phương vừa có thuốc bổ, tác dụng tương đối hòa hoãn. Đương quy long hội hoàn tả nhiệt qua đại tiện, vị thuốc rất đắng, rất lạnh, tác dụng tả hỏa thông tiện mạnh, không dùng tùy tiện cho cao huyết áp không phải thực nhiệt cấp tính, cấm dùng cho phụ nữ có thai.
Các bài thuốc dân gian đơn giản trị cao huyết áp:
(9) Liệu pháp trứng giấm chín độ
Phương pháp dùng trứng ngâm trong giấm để hạ huyết áp là một liệu pháp ăn uống đơn giản, rẻ tiền. Quan sát lâm sàng cho thấy “trứng giấm chín độ” có thể làm giảm độ nhớt của máu, từ đó hạ huyết áp, đồng thời cải thiện triệu chứng cao huyết áp và các chỉ số lưu biến học của máu. Cách làm cụ thể: Lấy 1 quả trứng gà tươi, rửa sạch, ngâm trong 180ml giấm chín độ, sau 48 giờ trứng sẽ trở thành dạng hồ (lỏng sệt). Chia lượng trứng giấm đã chế thành 7 phần uống hết trong 7 ngày, mỗi ngày uống 3-4 lần, khi uống thêm nước ấm để pha loãng. 28 ngày là một liệu trình, liên tục dùng hai liệu trình.
Những loại thảo dược thường dùng để hạ huyết áp
(1) Cát căn: Là thuốc thường dùng để khu phong, giải biểu. Lâm sàng báo cáo dùng để điều trị cao huyết áp kèm chứng cổ gáy cứng đau có hiệu quả rõ rệt. Mỗi lần 15–30g.
(2) Dã cúc hoa: Thanh nhiệt giải độc, có tác dụng hạ huyết áp. Điều trị cao huyết áp có thể dùng đơn độc (sắc uống) hoặc phối hợp với Hạ khô thảo, Thảo quyết minh, mỗi lần 10–15g.
(3) Hạ khô thảo: Thanh can hỏa, tán uất kết, thường dùng để trị cao huyết áp với biểu hiện đau đầu, hoa mắt, ù tai, phiền nhiệt, mất ngủ do can nhiệt. Có thể phối hợp với Quyết minh tử, Hoàng cầm, Cúc hoa, sắc uống mỗi lần 15–30g.
(4) Hoàng cầm: Thanh nhiệt táo thấp, tả hỏa giải độc. Đối với cao huyết áp can kinh thực nhiệt, có thể giảm chóng mặt, đau đầu, miệng đắng, tâm phiền. Thường dùng với Câu đằng, Thảo quyết minh, mỗi lần 9–12g.
(5) Câu đằng: Bình can tức phong, thanh nhiệt, dùng cho triệu chứng hoa mắt, đau đầu, mắt đỏ do can dương thượng kháng. Thường phối hợp Thạch quyết minh, Bạch thược, mỗi lần 20–30g.
(6) Thiên ma: Bình can tức phong, thích hợp cho đau đầu, chóng mặt do can dương thượng kháng. Thường phối Xuyên khung (như trong Thiên ma hoàn). Nếu chóng mặt do đàm thấp thì phối Bán hạ, Bạch truật, Phục linh… kiện tỳ táo thấp (như Bán hạ bạch truật thiên ma thang). Mỗi lần 9–12g.
(7) Thạch quyết minh: Bình can tiềm dương, thích hợp hoa mắt chóng mặt do can thận âm hư, can dương thượng kháng. Thường phối Cúc hoa, Bạch thược, Sinh long cốt, Sinh mẫu lệ. Mỗi lần 30–45g.
(8) Địa long: Tức phong, thanh nhiệt, hoạt lạc, bình suyễn, lợi niệu, hạ áp. Dùng cho cao huyết áp giai đoạn sớm kèm tê bì chân tay, thường dùng phối hợp nhiều vị. Mỗi lần 10–20g.
(9) Lá La bố ma: Bình can tức phong, thanh nhiệt, có tác dụng tốt làm giảm đau đầu, chóng mặt, căng đầu, mất ngủ. Dùng đơn sắc như trà, mỗi lần 6–10g.
(10) Trửu ngô đồng (S臭梧桐): Khu phong trừ thấp, hạ huyết áp, có thể dùng đơn hoặc phối hợp, mỗi lần 10–20g.
(11) Xuyên khung: Vị cay ấm, khu phong hoạt huyết chỉ thống. Chủ trị đau đầu, đau người, kinh nguyệt không đều do huyết ứ khí trệ. Lâm sàng báo cáo khi phối hợp với Reserpin (Lợi huyết bình) trị cao huyết áp có tác dụng hiệp đồng tốt. Mỗi lần 9–15g.
(12) Tang ký sinh: Khu phong thấp, bổ can thận, dưỡng huyết an thai, chủ trị tý chứng do huyết bất dưỡng cân, can thận bất túc, gân cốt suy yếu, lưng gối mỏi. Cũng thường dùng cho cao huyết áp thể can thận âm hư. Mỗi lần 10–15g.
Ngoài ra, theo báo cáo trong và ngoài nước, một số dược liệu như Đỗ trọng, Đan bì, Hoàng liên có tác dụng hạ huyết áp nhất định thông qua cơ chế giãn mạch ngoại vi, liều mỗi thứ 10g, Hoàng liên dùng nửa liều. Thanh mộc hương thông qua tác dụng ức chế hạch giao cảm để hạ áp, thường dùng 10g.
Khí công có thể hạ huyết áp không?
Khí công là một liệu pháp tâm lý (hành vi). Trong 30 năm qua, ở khắp nơi trong nước khi áp dụng kết hợp Đông Tây y để trị cao huyết áp, người ta phát hiện khí công có thể hạ huyết áp, hiệu quả ổn định, giảm liều thuốc, cải thiện triệu chứng, giảm biến chứng và cải thiện tiên lượng.
Để quan sát hiệu quả khí công trong điều trị cao huyết áp, có nghiên cứu chia ngẫu nhiên 117 bệnh nhân cao huyết áp nguyên phát thành ba nhóm: Khí công (39 ca), chạy chậm (42 ca) và nhóm thuốc (36 ca). Sau một năm quan sát, ba nhóm đều có hiệu quả hạ áp, tỷ lệ có hiệu quả lần lượt là 89,74%, 92,86% và 86,11%. Nhóm khí công và nhóm chạy chậm đồng thời giảm cân, giảm cholesterol toàn phần và triglycerid. Kết quả cho thấy nhóm khí công có hiệu quả hạ áp rõ, huyết áp ổn định, ít tác dụng phụ.
Tại sao khí công có thể hạ huyết áp? Đa số học giả cho rằng, chủ yếu là nhờ tự luyện tập, giúp “thông kinh lạc”, “điều hòa khí huyết” và tăng cường tinh, khí, thần, làm chính khí sung túc, duy trì sức khỏe, đạt mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, cường thân. Khí công điều tiết tốt hoạt động vỏ não, giảm phản ứng tăng huyết áp bất thường do kích thích xấu bên ngoài. Đồng thời, khí công còn giảm kích thích giao cảm, điều chỉnh chức năng thần kinh thực vật, cải thiện chức năng hệ tim mạch, tăng lượng máu tim bơm ra và nâng cao chức năng tim. Thực tiễn chứng minh khí công là phương pháp hiệu quả để trị cao huyết áp nhẹ, trung bình, và có thể dùng hỗ trợ trong trường hợp nặng.
Sau đây giới thiệu một phương pháp khí công đơn giản hạ áp:
Thường chọn tư thế đứng, hai chân sát nhau, trọng tâm hơi đổ về trước, thả lỏng, đứng yên. Người yếu có thể ngồi, khi ngồi không dựa lưng ghế, lưng thẳng, đùi ngang, cẳng chân vuông góc, hai bàn chân chạm đất. Dù đứng hay ngồi, cần thu cằm, cổ thẳng, đầu không ngửa. Chuẩn bị xong, nhắm mắt nhẹ, tự nhủ huyết áp đang xuống mức bình thường. Sau đó, hai tay đặt trước bụng dưới, lòng bàn tay hướng vào nhau, mười ngón tay xòe, đầu ngón tay gần chạm nhau, tưởng tượng như đang nâng một quả cầu khí nhỏ. Từ từ nâng tay lên, lòng bàn tay dần hướng về cơ thể, nâng qua đỉnh đầu, cách đỉnh đầu 20–30cm, lòng bàn tay hướng đỉnh đầu, ý niệm hai lòng bàn tay phát khí xuyên vào đỉnh đầu, vào trong cơ thể. Dừng tay ở đó ba nhịp thở sâu, rồi đưa tay xuống trước cơ thể về lại bụng dưới, ý niệm cũng theo tay đi từ trên xuống bụng. Lần thứ hai nâng khí cầu, đưa khí vào đầu rồi xuống theo hai bên thân mình. Lần thứ ba cũng vậy, nhưng ý niệm theo phía sau cơ thể. Ý niệm không đi ngoài da, mà đi bên trong cơ thể, đó là điểm mấu chốt. Thực hiện đủ ba lần như vậy gọi là một nhóm, có thể lặp lại nhiều nhóm, mọi lúc mọi nơi, luyện càng nhiều càng tốt. Khi kết thúc, đặt hai tay lên rốn nghỉ một lát. Phương pháp này gọi là “Tam tuyến phóng tùng pháp” (thả lỏng ba đường: trước, hai bên, sau thân), giúp toàn thân thư giãn. Bệnh nhân nằm giường cũng có thể luyện tương tự.
Bệnh nhân cao huyết áp cần chú ý gì khi luyện khí công?
(1) Chuẩn bị trước khi luyện: Ngừng công việc, học tập trước 30 phút, nghỉ ngơi, ổn định cảm xúc. Nếu không ổn định được hoặc quá xúc động, không nên luyện ngay, đợi 1–2 giờ sau khi bình tĩnh mới luyện để tránh sự cố. Đi tiểu tiện, đại tiện xong, nới lỏng quần áo, chú ý giữ ấm. Không luyện khi quá no hoặc quá đói.
(2) Điểm quan trọng khi luyện: Khi luyện cần toàn thân thư giãn, cơ bắp, khớp, tinh thần đều thả lỏng, tập trung tư tưởng, loại bỏ tạp niệm, kết hợp ý niệm với thư giãn và hơi thở, dần dần nhập tĩnh, khí trầm đan điền, ý thủ đan điền, bắt đầu thở bụng có ý thức. Lúc này sẽ thấy đầu óc sáng suốt, ngực thư thái. Thư giãn, nhập tĩnh, hô hấp và ý thủ đan điền phải tiến hành dần, không vội vàng.
(3) Đánh giá hiệu quả luyện công: Sau khi luyện khí công hiệu quả, bệnh nhân cảm thấy đầu óc nhẹ nhàng, ngực thư thái, hết mệt mỏi, triệu chứng giảm, ăn ngon, đại tiện thông suốt.
(4) Phản ứng khó chịu khi luyện: Một số bệnh nhân khi luyện hoặc sau luyện thấy cổ, lưng, vai hay tứ chi tê mỏi, nguyên nhân do tư thế không tự nhiên, điều chỉnh tư thế sẽ hết. Một số khác thấy ngực tức, tim đập nhanh, khó thở, không nhập tĩnh được, do chưa chuẩn bị tốt, quá vội vàng. Nên nghỉ một lúc, đợi tâm trạng ổn rồi luyện tiếp. Có người đầu váng, căng đầu, bứt rứt, thường là do mới tập, chưa nắm vững kỹ thuật. Cần kiên trì, từ từ nắm bắt, thời gian sẽ giảm dần các hiện tượng này.
Châm cứu có thể trị cao huyết áp không?
Có nhiều báo cáo về châm cứu trị cao huyết áp, cho thấy có hiệu quả nhất định. Ví dụ, có báo cáo châm cứu giúp giảm béo cho bệnh nhân béo phì kèm cao huyết áp, cải thiện huyết áp, chức năng thần kinh thực vật, mức lipid máu và chuyển hóa năng lượng. Nghiên cứu khác về tác dụng của nhĩ châm huyệt tâm cho 30 bệnh nhân cao huyết áp, kết quả cho thấy nhĩ châm huyệt tâm có tác dụng hạ áp tức thì rõ rệt, hiệu quả ngắn hạn 63,3%, cải thiện rõ chức năng tim trái ở bệnh nhân cao huyết áp giai đoạn II, III, không ảnh hưởng rõ đến chức năng tim trái bình thường.
Cách lấy huyệt: Thường dựa theo biện chứng của Đông y. Theo học thuyết âm dương, cao huyết áp do can thận bất túc, thủy hư mộc vượng, hư dương cang thịnh gây ra. Chọn các huyệt như Phục lưu, Thái khê thuộc Thận kinh túc thiếu âm để bổ thận âm, tư thủy dưỡng mộc; Túc tam lý là huyệt thường dùng để bảo kiện, phòng hư dương thượng kháng; phối với Thái xung ở kinh Túc quyết âm để bình can giáng nghịch. Châm cứu bốn huyệt này có tác dụng bổ âm giáng hỏa, bình can tiềm dương, giúp kiểm soát huyết áp. Ngoài ra, có những cách không dựa vào biện chứng, như chọn huyệt Phong trì, Bách hội, Hợp cốc, Dương lăng tuyền… cũng có hiệu quả. Cứu huyệt Túc tam lý, Tuyệt cốt, Dũng tuyền hoặc Thạch môn… cũng có tác dụng hạ áp. Các huyệt khác như Khúc trì, Tam âm giao, Nội quan, Hành gian, Nhân nghênh, Đại lăng, Can du, Trung phong… đều có tác dụng hạ áp. Sau đột quỵ, châm cứu trị liệt nửa người, mất tiếng… rất phổ biến, có hiệu quả nhất định.
Trường Xuân dịch