TRUNG Y ĐIỀU TRỊ BỆNH TRĨ.中医看痔疮*.
Tham khảo tư liệu:
Y học cổ truyền nhìn nhận bệnh trĩ như thế nào?
Y học cổ truyền cho rằng, các yếu tố gây bệnh trĩ có liên quan đến phong, thấp, nhiệt, táo, khí hư, huyết hư. Trong Chứng Trị Yếu Quyết (症治要诀) có viết: “Huyết thanh nhi sắc tiên giả, vi tràng phong (肠风)…”, còn trong Kiến Văn Lục (见闻录) thì ghi: “Thuần hạ thanh huyết giả, phong dã”. Điều này cho thấy tà phong có thể gây xuất huyết ở hạ tiêu, mà vì phong tà có đặc tính di chuyển nhanh và thường xuyên thay đổi, nên màu máu đỏ tươi, thậm chí có thể bắn thành tia. Trong Y Tông Kim Giám (医宗金鉴) còn nói: “肛门围折纹破裂便结者,火燥也。” Vòng nếp gấp quanh hậu môn bị nứt, phân táo kết lại, là do hỏa táo. Nghĩa là, do ăn uống không điều độ, ăn nhiều thức ăn cay nóng, gây táo nhiệt tích tụ bên trong làm thương âm, dẫn đến đại tiện khô cứng. Kiến Văn Lục lại cho rằng: “色如烟尘者,湿也……”Màu (máu) như bụi khói là do thấp…. Ý nói, dù là do ăn uống tổn hại bên trong (béo ngọt quá mức) hay sống lâu ngày ở nơi ẩm thấp, đều có thể khiến thấp nhiệt ứ đọng ở hậu môn, làm kinh lạc bị cản trở, khí huyết ứ trệ, sinh ra trĩ. Đan Khê Tâm Pháp (丹溪心法) viết: “痔者皆因脏腑本虚,外伤风湿,内蕴热毒……” Bệnh trĩ đều do tạng phủ vốn hư, gặp phong thấp bên ngoài, bên trong thì ẩn nhiệt độc…”. Nói cụ thể hơn, nhiệt độc và hỏa thịnh gây thương tổn tân dịch, có thể làm phát sinh trĩ. Trong Hoàng Đế Nội Kinh (黄帝内经) thì sớm nêu quan điểm: “又有妇人生育过多,力尽血枯,气虚下陷,及小儿久痢,皆能使肛门脱出。” Lại có phụ nữ sinh đẻ nhiều, khí lực kiệt quệ, huyết khô, khí hư hạ hãm, hoặc trẻ nhỏ tiêu chảy kéo dài, đều dẫn đến hậu môn sa xuống”. Cho thấy khí hư, không đủ sức thu liễm và cố nhiếp, là nguyên nhân quan trọng dẫn đến bệnh trĩ. Ở Linh Khu – Quyết Khí Thiên (灵枢·决气篇) viết: “中焦受气取汁,变化而赤,是谓血。”Trung tiêu thu nạp khí và lấy dịch, biến hóa ra sắc đỏ, gọi là huyết. Nghĩa là chức năng tỳ vị kém sẽ làm giảm khả năng sinh huyết, huyết hư không dưỡng được hậu môn, dễ dẫn đến trĩ và đại tiện ra máu, ngược lại, nếu bệnh trĩ chảy máu kéo dài, càng khiến huyết hư nặng thêm.
Tóm lại, y học cổ truyền cho rằng nguyên nhân gây bệnh trĩ chủ yếu xoay quanh những yếu tố nêu trên (phong, thấp, nhiệt, táo, khí hư, huyết hư). Chúng có thể tồn tại riêng lẻ hoặc đồng thời, trở thành cơ sở lý luận cho việc trị liệu bệnh trĩ theo quan điểm Trung y.
Điều trị bệnh trĩ bằng nội khoa trong y học cổ truyền
Trong lâm sàng hiện nay, phương pháp nội trị bằng thuốc Đông y vẫn khá phổ biến, chủ yếu được dùng cho trĩ nội độ I, người già yếu; hoặc cho trĩ nội độ II, III kèm theo các bệnh nghiêm trọng khác về tim, não, gan, thận… khiến người bệnh không thể chịu được phẫu thuật. Ngoài ra, Đông dược cũng có tác dụng tốt với các triệu chứng viêm giai đoạn đầu của bệnh trĩ.
Nhìn chung, thuốc Đông y lấy “Ích khí cố thoát, thu liễm chỉ huyết” làm nguyên tắc chính. Tuy nhiên, tùy thể chất mỗi người mà biện chứng luận trị như sau:
- Thanh nhiệt, khu phong, lương huyết: Dùng cho chứng phong nhiệt làm táo kết đại tràng, gây chảy máu khi đi đại tiện, hoặc trĩ ngoại huyết khối giai đoạn đầu.
- Thanh nhiệt, lợi thấp: Dùng cho trường hợp hậu môn sưng đau, thậm chí rỉ mủ.
- Thanh nhiệt, giải độc: Dùng khi hậu môn sưng đau kèm sốt.
- Dưỡng huyết, bổ huyết: Dành cho người cơ thể khí huyết bất túc, hoặc bệnh lâu ngày khiến khí huyết suy yếu.
- Thanh nhiệt, thông lý: Dùng cho trường hợp tích nhiệt làm đại tràng táo kết, phân khô cứng như phân dê, nhiệt kết bên trong làm phân rắn kèm chảy máu.
- Sinh tân, nhuận táo: Dùng cho trường hợp huyết hư, dịch hao tổn gây táo bón.
- Bổ trung, ích khí: Dùng cho trẻ nhỏ hoặc người già yếu, phụ nữ sau sinh, khi khí hư hạ hãm.
Chỉ cần kê đơn phù hợp, không xa rời nguyên tắc chung, thì phương pháp nội trị vẫn cho hiệu quả điều trị bệnh trĩ đáng kể.
Điều trị bệnh trĩ bằng ngoại dược trong Đông y
Phương pháp ngoại trị bằng thuốc Đông y là một cách làm hữu hiệu, đã được các danh y xưa đúc kết qua hàng nghìn năm lâm sàng. Nhiều loại thuốc điều trị trĩ hiện nay cũng có nguồn gốc từ các bài thuốc dân gian này. Các phương pháp ngoại trị chủ yếu gồm:
- Phép xông rửa (熏洗):
- Nấu thuốc với nước cho sôi, hoặc pha các loại thuốc dạng bột, trước tiên dùng hơi nóng xông vào vùng hậu môn. Khi nước thuốc nguội dần xuống khoảng 37–40℃, có thể dùng khăn thấm nước thuốc đắp ấm lên vùng hậu môn, hoặc ngâm trực tiếp (ngồi ngâm) để hậu môn ngập trong nước thuốc.
- Mỗi lần ngâm 15–20 phút, có thể thêm nước ấm khi nguội.
- Thường chọn các thuốc có tác dụng thu liễm, cầm máu, thanh nhiệt, giải độc, hoạt huyết, tiêu sưng, giảm đau.
- Thích hợp cho trĩ nội độ II, III, trĩ sa nghẹt, các loại trĩ ngoại hoặc viêm quanh hậu môn.
- Phép đắp thuốc (敷药):
- Các dược liệu có tác dụng tiêu viêm, giảm đau, sinh cơ, thu liễm, chỉ huyết được tán thành bột, rồi trộn với nước hoặc tá dược khác để đắp vào vùng hậu môn.
- Mỗi lần sau khi đại tiện, nên ngâm rửa hậu môn bằng nước thuốc (hoặc nước ấm) rồi mới đắp thuốc.
- Thuốc mỡ Đông y (中药膏):
- Đây là chế phẩm Đông dược được tinh luyện bằng kỹ thuật hiện đại, vừa giữ được công năng của dược liệu truyền thống, vừa tiện lợi cho người bệnh mang theo và sử dụng. Ví dụ như mỡ bôi trĩ Mã Ứng Long (马应龙痔疮膏), Cửu Hoa cao (九华膏)…
Tự xoa bóp và khí công có thể điều trị trĩ không?
Bệnh trĩ thực chất là kết quả của việc ứ trệ, tắc nghẽn mạch máu cục bộ. Do đó, xoa bóp để cải thiện tuần hoàn máu tại chỗ có ý nghĩa tích cực trong cả phòng ngừa và hỗ trợ điều trị. Phương pháp cụ thể như sau:
- Trước khi ngủ, tự dùng tay xoa bóp huyệt Trường Cường (长强) (vị trí đỉnh xương cụt), giúp thông kinh lạc, cải thiện lưu thông máu ở hậu môn.
- Dùng ý niệm tập trung “đưa lên” hậu môn: Mỗi ngày tập 1–2 lần, mỗi lần nâng/khép hậu môn 60 nhịp, giúp rèn luyện cơ vòng hậu môn, nâng cao trung khí.
Phương pháp này còn có tác dụng tốt đối với tình trạng hậu môn lỏng lẻo, đi cầu khó, sa trĩ lâu ngày, chảy máu do trĩ. Kiên trì tập lâu dài sẽ thấy hiệu quả bất ngờ. Kỹ thuật này thường được gọi là “Đề giang vận động” (提肛运动) là vận động co thắt hậu môn. Nhiều người qua thực hành cho thấy, nó có thể ngăn ngừa và hỗ trợ điều trị bệnh trĩ, sa trực tràng, cũng như chứng giãn/nhão hậu môn.
Có thể dùng châm cứu để trị bệnh trĩ không?
Châm cứu trị trĩ đã được áp dụng từ xưa. Trong Hoàng Đế Nội Kinh (黄帝内经) từng ghi nhận kinh nghiệm và các huyệt vị để châm. Đến thời nhà Tấn, Châm Cứu Giáp Ất Kinh (针灸甲乙经) viết: “Trĩ đau, châm huyệt Toản Trúc (攒竹); Trĩ, châm huyệt Hội Âm (会阴)”. Qua các thời kỳ, nhiều y gia ghi chép thêm phương pháp và huyệt vị trị bệnh trĩ. Ngày nay, châm cứu được chứng minh có hiệu quả trong việc giảm chảy máu, sa trĩ, sưng đau, cảm giác trĩ đè nặng ở hậu môn.
Trên lâm sàng, thường châm các huyệt Yến Khẩu (燕口), Ngân Giao (龈交), Bạch Hoàn Du (白环俞), Trường Cường (长强), Thừa Sơn (承山)… Kết hợp với các huyệt Nhị Bạch (二白), Tam Âm Giao (三阴交), Ủy Trung (委中), Thận Du (肾俞), Đại Trường Du (大肠俞), Mệnh Môn (命门), Khí Hải (气海), Côn Lôn (昆仑), Thái Xung (太冲)… để điều trị trĩ. Đồng thời có thể căn cứ biện chứng mà gia giảm, điều chỉnh huyệt vị.
Trị liệu “chích lể” (痔挑) là gì?
“Phương pháp chích – gẩy” (hay “phép chích – gẩy”/“trị liệu bằng cách chích và gẩy”) là một cách chữa trong dân gian, những năm gần đây được đội ngũ y tế khai thác, cải tiến để điều trị trĩ, thu được hiệu quả tốt. Có ba dạng chính:
- Chích – lể“điểm trĩ” (痔点挑治):
- Thường tìm “điểm trĩ” từ ngang mỏm gai đốt sống cổ C7 đến ngang mỏm gai đốt sống cùng S2, trong phạm vi hai bên mỏm gai đến đường sau nách.
- “Điểm trĩ” thường biểu hiện như hạt mụn nhô nhẹ trên bề mặt da, cỡ đầu kim hoặc hạt kê, hình tròn, bóng nhẹ, màu có thể xám trắng, nâu sẫm hoặc đỏ nhạt, khi ấn không mất màu. Phân biệt rõ với nốt ruồi, viêm nang lông, bớt sắc tố…
- Nếu vùng lưng có vài “điểm trĩ”, chọn điểm nào rõ nhất, càng gần cột sống, càng thấp (phía dưới) thì hiệu quả càng cao.
- Chích – lể huyệt vị (穴位挑治):
- Có thể chọn huyệt Thận Du (肾俞), Đại Trường Du (大肠俞), Trường Cường (长强)… để thực hiện.
- Chích – lể vùng (区域挑治):
- Theo kinh nghiệm, để trị bệnh hậu môn, càng chọn điểm gần thắt lưng thì hiệu quả càng tốt.
- Trong thao tác cụ thể, để giảm khó khăn khi tìm “điểm trĩ”, có thể chọn bất kỳ điểm nào trên đường dọc, cách giữa cột sống khoảng 1–1,5 thốn, từ đốt sống thắt lưng L3 đến đốt sống cùng S2.
Kỹ thuật thao tác:
- Bệnh nhân nằm nghiêng. Sát trùng vùng chích bằng cồn i-ốt.
- Dùng lưỡi dao (hoặc kim chuyên dụng) nhanh chóng chích tách lớp biểu bì, vết rạch song song cột sống, dài khoảng 0,5 cm, độ sâu 0,2–0,3 cm.
- Mũi kim (hoặc mũi dao) phải song song với cột sống, gẩy từ nông đến sâu, lấy ra hai ba chục sợi trắng (dạng sợi xơ) rồi cắt hoặc gẩy đứt, hoặc gảy vài lần để tăng kích thích, cho đến khi hết thì dừng.
- Vết thương thường không chảy máu, hoặc chảy rất ít. Sau đó khử trùng bằng i-ốt, dán băng keo cố định.
- Mỗi lần làm khoảng 15 phút. Nếu hiệu quả không rõ, có thể làm thêm lần nữa sau một tuần.
- Lưu ý về vô trùng và chăm sóc vết thương tương tự như các phương pháp phẫu thuật khác.
Nguyên lý và phương pháp chẩn đoán trĩ nội bằng cách nhìn mạch máu kết mạc nhãn cầu?
Vọng chẩn (望诊) là một tinh hoa trong y học cổ truyền, song vì khó định lượng, chuẩn hóa nên ít được phổ biến rộng rãi. Việc “nhìn mạch máu kết mạc nhãn cầu để chẩn đoán trĩ nội” dựa trên thuyết “Ngũ Luân, Bát Quách” (五轮、八廓):
- Ngũ Luân: Mắt được tạo bởi tinh khí ngũ tạng, chia thành 5 “luân” – phong luân, nhục luân, khí luân, huyết luân, thủy luân. Mỗi luân tương ứng một tạng:
- Gan (mộc) -> phong luân -> lòng đen (tròng đen xanh)
- Tâm (hỏa) -> huyết luân -> khóe mắt (bờ mí trong)
- Tỳ (thổ) -> nhục luân -> mí trên, mí dưới (mi mắt)
- Phế (kim) -> khí luân -> lòng trắng (bạch nhãn)
- Thận (thủy) -> thủy luân -> con ngươi (đồng tử)
- Bát Quách (八廓): Chia mắt thành 8 phần: Càn (天), Khảm (水), Cấn (山), Chấn (雷), Tốn (风), Ly (火), Khôn (地), Đoài (泽). “Quách” có nghĩa bên trong thông ra bên ngoài, kiêm chức năng phòng vệ.
Cách quan sát cụ thể:
- Trước tiên loại trừ các bệnh về mắt như viêm kết mạc.
- Dưới ánh sáng tự nhiên, để người được khám ngồi ngay ngắn, mắt ngước lên trên. Người khám dùng ngón tay cái kéo nhẹ mí mắt dưới xuống, để lộ phần kết mạc dưới.
- Nếu thấy ở vùng gần Càn quách (tương ứng góc bên trong, phía trên) có mạch máu đỏ nổi rõ, giãn ngoằn ngoèo hướng lên, thì coi đó như dấu hiệu dương tính gợi ý bệnh trĩ nội.
Trung y chia bệnh trĩ thành những loại nào?
Việc đặt tên cho các thể trĩ theo quan điểm Đông y có từ rất sớm. Ngày nay, nhiều lương y hoặc thầy thuốc dân gian vẫn lưu truyền hoặc sử dụng cách phân loại này. Tùy từng thời đại, từng sách mà chia khác nhau. Chủ yếu gồm:
- Phân loại sớm nhất:
- Ngũ Thập Nhị Bệnh Phương (五十二病方) chia trĩ thành bốn loại: Mẫu trĩ (牡痔), Tẩn trĩ (牝痔), Mạch trĩ (脉痔), Huyết trĩ (血痔).
- Thần Nông Bản Thảo Kinh (神农本草经) lại đưa ra khái niệm “Ngũ trĩ” (五痔) nhưng không mô tả cụ thể.
- Đến Chư Bệnh Nguyên Hậu Luận (诸病源候论) mới ghi rõ “Ngũ trĩ” và thêm hai loại “Tửu trĩ” (酒痔), “Khí trĩ” (气痔). Sách viết:
“Tẩn trĩ: ở quanh hậu môn sinh u như đầu chuột, thường rỉ mủ máu.
Mẫu trĩ: ở quanh hậu môn sinh sưng loét, chảy máu.
Mạch trĩ: sinh sưng loét quanh hậu môn, ngứa đau, xuất huyết.
Trường trĩ (肠痔): quanh hậu môn mọc khối sưng gây đau, kèm sốt rét, xuất huyết.
Huyết trĩ: khi đi đại tiện thì máu tươi chảy ra…
Lại có Tửu trĩ, ở quanh hậu môn mọc loét, có khi chảy máu; và Khí trĩ, khó đi đại tiện, ra máu, hậu môn sa ra lâu không chịu thụt vào.”
- Phân loại nội trĩ – ngoại trĩ:
- Ngoại Đài Bí Yếu (外台秘要) chép: “Bệnh này có nội trĩ, ngoại trĩ. Nội trĩ chỉ chảy máu khi đi tiêu, còn ngoại trĩ có lỗ ở hậu môn, máu chảy từ lỗ đó ra… Nếu chảy máu quá nhiều, cơ thể mất máu, da dẻ nhợt nhạt, có loại đau, có loại không đau.”
- Cách mô tả này đến nay vẫn có giá trị lâm sàng nhất định.
- Phân loại “25 trĩ”:
- Bao gồm: Liên Tử trĩ, Thông Trường trĩ, Khí trĩ, Lậu trĩ, Câu Trường trĩ, Liên Hoa trĩ, Thùy Châu trĩ, Túc Tử trĩ, Lăng Giác trĩ, Quán Luyện trĩ, Bàn Trường trĩ, Tử Mẫu trĩ, Phiên Hoa trĩ, Thử Vĩ trĩ, Song Đầu trĩ, Bạc Trường trĩ, Huyết Công trĩ, Phu Thê trĩ, San Hô trĩ, Thoát Trường trĩ, Đảm Trường trĩ, Tam Mê trĩ, Anh Đào trĩ, Thư Hùng trĩ, Kê Tâm trĩ.
- Các cách phân loại khác:
- Như Bí Truyền Ngoại Khoa Phương (秘传外科方), Cổ Kim Y Giám (古今医鉴), Ngoại Khoa Khải Huyền (外科启玄), Ngoại Khoa Đại Thành (外科大成), Y Tông Kim Giám (医宗金鉴) thường chia “24 trĩ”.
- Đến đời Thanh, Mã Thị Trĩ Lâu Khoa Thất Thập Nhị Chủng (马氏痔瘘科七十二种) còn đưa ra cách chia “72 trĩ”.
Thế nào là “tràng phong” (肠风)?
Trong Tố Vấn – Phong Luận (素问·风论) có viết: “Cửu phong nhập trung, tắc vi tràng phong sôn tiết” (久风入中,则为肠风飧泄。)nghĩa là: Phong tà xâm nhập lâu ngày vào tạng phủ, gây nên chứng tràng phong, tiêu chảy). Câu này cho biết chứng này do phong xâm nhập kinh mạch, từ bên ngoài vào dạ dày – ruột, hoặc do ngoại tà phong mộc thừa cơ xâm phạm ruột, dạ dày. Biểu hiện là đại tiện có máu tươi, lúc phát lúc không, máu đỏ tươi, bắn ra tung tóe. Thực chất “tràng phong” cũng chính là “tràng phong hạ huyết” (肠风下血), rất gần với triệu chứng trĩ nội.
Điều trị “tràng phong hạ huyết” ra sao?
Y học cổ truyền dựa trên biểu hiện để biện chứng luận trị như sau:
- Phong nhập đại trường, kèm thấp: Dùng bài Tứ Vật Thang (四物汤) gia giảm, Thanh Tạng Thang (清脏汤) hoặc tương tự.
- Âm phần hư yếu, huyết không theo kinh lạc: Kết hợp Tứ Vật Thang, Địa Du Tán (地榆散).
- Đau bụng, đi cầu ra máu tươi, hậu môn sưng đau: Dùng Bại Độc Tán (败毒散) thêm Hoè Giác (槐角), Kinh Giới (荆芥); hoặc Hoè Hoa Thang (槐花汤), Chỉ Xác Tán (枳壳散).
- Thể trạng tráng thực: Dùng Tả Thanh Hoàn (泻青丸), hoặc Tiêu Dao Tán (逍遥散) gia Hoàng Liên (黄连), Khương Hoạt (羌活), Phòng Phong (防风), Ô Mai (乌梅). Trường hợp thể hư thì dùng Nhân Sâm Vị Phong Thang (人参胃风汤).
- **Dùng Liêu Ký Nô (刘寄奴) 15g, Nha Trà (芽茶) 30g, Mặc Hôi (墨灰) 10g, tán bột, lấy Ô Mai (乌梅) 10g sắc lấy nước uống thuốc, có tác dụng cầm máu nhanh. Sau đó phối hợp Quy Tỳ Thang (归脾汤) để điều chỉnh.
- **Hoặc dùng Hoè Hoa Tán (槐花散) kết hợp Tứ Vật Thang, gia A Giao (阿胶), Địa Du (地榆), Chi Tử (栀子).
- Hoặc dùng Tràng Phong Hắc Tán (肠风黑散) trị tràng phong hạ huyết, đau bụng, mót rặn, hoặc sa hậu môn. Bài thuốc gồm: Bại Tông (败棕, đốt tồn tính), Mộc Man Đầu (木馒头, đốt tồn tính), Ô Mai (bỏ hạt), Phấn Cam Thảo (粉甘草, sao) mỗi vị 3g, sắc uống.
Tùy tình trạng mà gia giảm, kết hợp thêm các phương pháp và bài thuốc khác để đạt hiệu quả cao nhất.
Lương y Trường Xuân dịch