Nguyên nhân gây tiêu chảy ở trẻ em
Tiêu chảy ở trẻ em có thể do nguyên nhân không nhiễm trùng hoặc nguyên nhân nhiễm trùng.
1/ Nguyên nhân không nhiễm trùng: Tiêu chảy sinh lý: Khi thành phần dinh dưỡng trong sữa mẹ vượt quá nhu cầu sinh lý và khả năng tiêu hóa của trẻ, trẻ có thể bị tiêu chảy.
Chế độ cho ăn không hợp lý: Thường gặp ở trẻ nuôi nhân tạo (bằng sữa công thức hoặc thức ăn khác), do cho ăn không đúng giờ, cho ăn quá nhiều hoặc quá ít, hay thành phần thức ăn không phù hợp (ví dụ: cho trẻ ăn nhiều tinh bột hoặc chất béo quá sớm, đột ngột thay đổi loại thức ăn hoặc cai sữa).
Trẻ dị ứng hoặc không dung nạp một số thành phần (như dị ứng sữa bò, thiếu men lactase). Sau khi ăn các thực phẩm đó có thể bị tiêu chảy.
Thời tiết đột ngột thay đổi (nóng quá hoặc bị lạnh bụng), khiến nhu động ruột tăng.
Thời tiết quá nóng làm giảm tiết dịch tiêu hóa; trẻ khát sữa nên bú nhiều hơn, dẫn tới quá tải cho đường tiêu hóa, dễ gây tiêu chảy.
2/ Nguyên nhân nhiễm trùng: Gồm nhiễm trùng đường ruột và nhiễm trùng ngoài ruột.
Nhiễm trùng đường ruột thường do virus, vi khuẩn, nấm hoặc ký sinh trùng, trong đó virus và vi khuẩn là thường gặp nhất:
Virus thường gặp: ①Rotavirus ở người (Human Rotavirus) – nguyên nhân phổ biến nhất gây tiêu chảy mùa thu-đông ở trẻ nhỏ.②Norovirus (Norwalk virus) – chủ yếu gây bệnh ở trẻ lớn và người lớn, ít liên quan ở trẻ nhũ nhi.
Vi khuẩn thường gặp: Vi khuẩn E.coli (đại tràng) và vi khuẩn Shigella (gây lỵ). Vi sinh vật gây bệnh có thể xâm nhập qua thức ăn, nước uống nhiễm khuẩn hoặc qua đồ dùng, tay, đồ chơi bẩn, hoặc từ người mang mầm bệnh. Ví dụ: sữa bò bị nhiễm khuẩn, sữa không được đun sôi, bình sữa và núm vú không được vệ sinh, khử trùng đúng cách, đường trắng nhiễm bẩn, trẻ mút tay v.v. Mùa hè nóng ẩm, vi khuẩn dễ sinh sôi trong sữa, nước và dụng cụ pha sữa nên nguy cơ gây tiêu chảy do vi khuẩn cao hơn.
Nhiễm trùng ngoài đường ruột: như viêm tai giữa, viêm đường hô hấp trên, viêm phổi, nhiễm trùng tiết niệu, nhiễm trùng da… hoặc các bệnh truyền nhiễm cấp tính khác. Các bệnh này có sốt và độc tố vi sinh vật khiến chức năng tiêu hóa rối loạn, gây tiêu chảy kèm theo. Đôi khi, tác nhân nhiễm ngoài ruột (đặc biệt là virus) có thể đồng thời xâm nhập đường ruột gây viêm ruột.
Tóm lại, tiêu chảy ở trẻ nhỏ là hội chứng do nhiều nguyên nhân. Khi trẻ tiêu chảy, cần tìm rõ nguyên nhân và xử trí phù hợp. Nếu do cho ăn không đúng, nên kịp thời điều chỉnh chế độ ăn, không nhất thiết phải dùng kháng sinh. Ngay cả tiêu chảy do virus cũng không cần dùng nhiều kháng sinh. Chỉ khi xác định do vi khuẩn, mới cần dùng kháng sinh thích hợp.
Phân thế nào được coi là bình thường ở trẻ sơ sinh?
Nhiều bậc cha mẹ lần đầu chăm con thường thấy trẻ đi tiêu nhiều lần liền lo lắng con bị tiêu chảy. Thực ra, trẻ sơ sinh đi tiêu nhiều lần không hẳn là tiêu chảy. Nguyên nhân do hệ thần kinh của trẻ chưa hoàn thiện, điều khiển hoạt động tiêu hóa chưa chính xác; Ngoài ra, cơ thắt hậu môn ở trẻ chưa phát triển đầy đủ, khi phân tụ xuống trực tràng dễ gây phản xạ tống phân.
Vậy làm sao xác định trẻ sơ sinh đại tiện bình thường?
Tất cả những hiện tượng trên đều bình thường. Nếu số lần đi quá 6-7 lần/ngày, phân lổn nhổn hạt sữa (bã sữa), có chất nhầy hoặc nhiều nước, đó là dấu hiệu bất thường, cần tìm nguyên nhân và điều trị.
Nếu trẻ bị táo bón, phân quá khô gây khó đi, có thể thay đường trắng bằng mật ong trong sữa để phân mềm hơn, do mật ong có tác dụng nhuận tràng. Nếu trẻ đi tiêu nhiều lần nhưng vẫn phát triển bình thường, không kèm triệu chứng bất thường, cha mẹ cũng không cần quá lo, chỉ nên theo dõi thêm.
Nguyên nhân chủ yếu liên quan đến:
①Dạ dày ít axit, trẻ lại mau làm rỗng dạ dày, nên khả năng diệt khuẩn ở dạ dày kém; đặc biệt nếu trẻ uống sữa bò, sữa có thể trung hòa bớt acid, giảm độ chua.
②Globulin miễn dịch (đặc biệt IgM, IgA) trong máu và IgA tiết ở niêm mạc đường tiêu hóa đều thấp.
③Hệ vi khuẩn chí bình thường ở đường ruột chưa ổn định, hoặc dễ bị phá vỡ (do dùng kháng sinh…) → tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh xâm nhập.
Vì sao trẻ bú mẹ ít bị tiêu chảy hơn trẻ nuôi nhân tạo?
So với sữa động vật (sữa bò), sữa mẹ có nhiều ưu điểm:
1/ Giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hóa, hấp thu
①Tổng lượng đạm trong sữa mẹ ít hơn sữa bò, nhưng tỷ lệ albumin cao, casein thấp, nên khi vào dạ dày tạo khối kết tủa nhỏ, dễ tiêu hóa hấp thu.
②Chất béo trong sữa mẹ giàu axit béo không no, kích thước hạt mỡ nhỏ, và chứa nhiều men lipase, giúp tiêu hóa mỡ tốt hơn.
③Đường lactose trong sữa mẹ nhiều (chủ yếu dạng beta-lactose), giúp thúc đẩy vi khuẩn có lợi (lactobacillus) phát triển.
④Vi lượng: kẽm, đồng, i-ốt trong sữa mẹ nhiều hơn (đặc biệt trong sữa non). Chất sắt mặc dù tương đương sữa bò, nhưng tỷ lệ hấp thu lại cao hơn 5 lần, do đó trẻ bú mẹ ít bị thiếu máu.
⑤Tỷ lệ Ca/P hợp lý (2:1), dễ hấp thu, ít nguy cơ hạ canxi.
⑥Nhiều men tiêu hóa (amylase, lipase…), hỗ trợ tiêu hóa thức ăn.
2/ Khả năng đệm (buffer) thấp
Sữa mẹ trung hòa dịch vị ít hơn sữa bò, nên giữ được tính acid của dạ dày, hỗ trợ tiêu hóa. Thời gian sữa mẹ lưu lại dạ dày cũng ngắn hơn so với sữa bò.
3/Hàm lượng protein, amino acid thiết yếu, và lactose cao
Rất tốt cho sự phát triển và tăng trưởng của trẻ.
4/ Tăng sức đề kháng cho trẻ
Tóm lại, sữa mẹ là thức ăn lý tưởng cho trẻ (đặc biệt với trẻ dưới 6 tháng). Cần khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ, giúp giảm nguy cơ tiêu chảy và mang lại nhiều lợi ích dài lâu cho sức khỏe mẹ và bé.
BIỂU HIỆN CỦA TIÊU CHẢY Ở TRẺ NHŨ NHI (婴幼儿腹泻)
1/ Các biểu hiện của tiêu chảy do nguyên nhân không phải do vi khuẩn xâm lấn (bao gồm cả không nhiễm trùng và nhiễm trùng, nhưng không phải vi khuẩn xâm lấn):Dựa vào mức độ nặng nhẹ của bệnh, có thể chia thành ba loại gồm tiêu chảy thể nhẹ (đơn thuần), thể trung bình và thể nặng (ngộ độc):
①Tiêu chảy thể nhẹ (Đơn thuần): Thường do chế độ ăn hoặc nhiễm trùng ngoài đường ruột, hoặc do virus hoặc vi khuẩn không xâm lấn đường ruột.Chủ yếu có triệu chứng tiêu hóa: số lần đi tiêu dưới 10 lần/ngày, một số ít có thể đến hơn 10, nhưng mỗi lần lượng phân ít, phân lỏng hoặc nhiều nước, màu vàng, mùi hơi chua, thường gặp những cục trắng hoặc vàng trắng (cục sữa vón/ xà phòng hóa) và bọt khí, có thể lẫn ít nhầy. Ít hoặc không sốt, nếu có thì sốt nhẹ, trẻ biếng ăn, đôi lúc trớ sữa hoặc nôn, không có triệu chứng toàn thân nặng, tinh thần tương đối tốt, chưa có dấu hiệu mất nước. Thường sẽ tự khỏi trong vài ngày. Soi phân có thể thấy nhiều hạt mỡ.
②Tiêu chảy thể trung bình: Phần lớn do nhiễm trùng đường ruột (virus, một số vi khuẩn hoặc các mầm bệnh khác), khởi phát thường cấp tính, hoặc có thể từ thể nhẹ tiến triển nặng dần.Ngoài triệu chứng tiêu hóa nặng hơn, xuất hiện mất nước, rối loạn điện giải và nhiễm độc toàn thân ở mức vừa phải, chưa quá nghiêm trọng.
③Tiêu chảy thể nặng (Ngộ độc)
Triệu chứng phức tạp và nặng nề như sau:
a) Triệu chứng toàn thân: Thể trạng chung suy sụp, hầu hết sốt cao (39 ~ 40°C, cá biệt > 41°C). Trẻ có thể kích thích, quấy khóc, hoặc li bì, lú lẫn, nặng hơn có thể hôn mê. Càng nặng thì chức năng thần kinh, tim, gan, thận dễ rối loạn.
b) Triệu chứng tiêu hóa: Biếng ăn, nôn mửa; có trường hợp nôn ra dịch lợn cợn màu cà phê (cafe-like). Tiêu chảy nhiều lần, từ hơn 10 tới vài chục lần/ngày, phân lỏng như nước hoặc như nước cháo trứng (蛋花汤样), tóe ra khi đi tiêu. Màu vàng nhạt, vàng, hoặc vàng xanh, nhiều nước – ít xác phân. Soi phân có nhiều hạt mỡ, có thể lác đác ít bạch cầu.
c) Rối loạn nước – điện giải – cân bằng kiềm toan:
①Mất nước (dehydration):
Do vừa tiêu chảy vừa nôn, lượng nước uống bù thiếu, thể tích dịch ngoại bào giảm, gây mất nước các mức độ. Triệu chứng chung: sụt cân, khát nước, da nhợt nhạt, khô, mất đàn hồi, thóp trước lõm, mắt trũng, niêm mạc khô, tim đập yếu, ít nước bọt, ít nước mắt, tiểu ít… Nặng hơn có thể sốc tuần hoàn. Dựa vào tỷ lệ phần trăm khối lượng nước mất so với cân nặng, chia mất nước nhẹ, vừa, nặng. Tình trạng mất nước có thể kèm theo thay đổi áp suất thẩm thấu, gây mất nước đẳng trương, nhược trương hoặc ưu trương.
②Nhiễm toan (toan chuyển hóa):
Đa số trẻ tiêu chảy nặng kèm toan chuyển hóa ở mức độ khác nhau, biểu hiện thở sâu, lừ đừ, nặng có thể hôn mê. Ở trẻ nhỏ, do khả năng bù trừ qua hô hấp kém, có khi không thấy thở sâu sớm hoặc biểu hiện muộn. Khi mất nước nhiều, nhiễm toan càng nặng.
③Rối loạn điện giải, thường gặp hạ kali máu:
Trẻ lừ đừ, giảm trương lực cơ, chướng bụng, nhu động ruột giảm thậm chí mất hẳn, tim đập yếu, phản xạ gân xương trì trệ hoặc mất. Nặng hơn có thể hôn mê, liệt ruột, nhịp tim chậm, loạn nhịp, hô hấp nông, đe dọa sinh mạng. Tình trạng này hay xảy ra sau khi truyền dịch hoặc dùng thuốc lợi tiểu, đặc biệt ở trẻ suy dinh dưỡng.
2/ Viêm ruột do vi khuẩn xâm lấn
| Tiêu chảy thể nhẹ | Tiêu chảy thể nặng |
| – Chủ yếu ở trẻ dưới 1 tuổi, hiếm khi > 2 tuổi. | – Thường gặp ở trẻ < 1 tuổi, kế đến nhóm 1-2 tuổi, rất hiếm > 2 tuổi. |
| – Đi tiêu vài lần ~ trên 10 lần/ngày, mỗi lần lượng phân không nhiều, phân lỏng hoặc loãng nước, màu vàng hay vàng xanh, mùi chua. Hay có hạt sữa (cục trắng/vàng), bọt, ít nhầy. | – Tiêu chảy nhiều > 10 lần đến vài chục lần/ngày, mỗi lần lượng nhiều nước – ít xác, màu vàng hoặc vàng xanh, có thể giống nước cháo trứng hoặc nước lã. |
| – Có thể biếng ăn, đôi khi trớ sữa/nôn. Không có triệu chứng toàn thân rõ rệt, tinh thần còn tốt, thường không sốt hoặc sốt nhẹ, không có dấu mất nước, toan chuyển hóa hay rối loạn điện giải rõ. | – Biếng ăn nặng, thường nôn nhiều, có thể nôn ra dịch màu cà phê. Biểu hiện toàn thân nặng: vật vã/quấy khóc hoặc li bì, có khi lơ mơ, hôn mê, sốt cao hoặc nhiệt độ không tăng, mất nước, toan chuyển hóa, rối loạn điện giải rõ rệt. |
| – Thường khỏi nhanh (vài ngày), soi phân thấy nhiều hạt mỡ, ít hoặc không có bạch cầu. | – Soi phân thấy nhiều hạt mỡ, có thể lẫn ít bạch cầu. Bệnh nặng, diễn tiến phức tạp, có thể gây đe dọa tính mạng. |
Cần chẩn đoán phân biệt tiêu chảy ở trẻ với những bệnh nào?
1/ Khi trẻ tiêu chảy, phân ít bạch cầu hoặc chỉ lác đác:
Thường do virus hoặc vi khuẩn không xâm lấn, ký sinh trùng (như Giardia lamblia – trùng roi thìa), hoặc nguyên nhân ngoài ruột, không nhiễm trùng (chế độ ăn sai…). Chủ yếu gây phân lỏng nhiều nước kèm mất nước. Cần phân biệt với:
①Tiêu chảy sinh lý: hay gặp ở trẻ < 6 tháng tuổi, thường bụ bẫm, đi tiêu phân loãng xanh vàng từ sớm, không nôn, ăn bú tốt, tăng cân bình thường, không triệu chứng khác, khi ăn dặm xong tự hết.
②Bệnh gây kém hấp thu ở ruột non: thiếu men lactase, thiếu men sucrase – isomaltase, rối loạn hấp thu glucose-galactose, mất chloride bẩm sinh, hội chứng ruột ngắn, thiếu enterokinase, kém hấp thu muối mật, abetalipoproteinemia (không tạo được β-lipoprotein), bệnh celiac (nhạy cảm gluten), dị ứng đạm sữa bò, đậu nành, lúa mỳ v.v. Đây đều là bệnh hiếm, thường khởi phát sớm, gây tiêu chảy mạn tính. Nếu bỏ thực phẩm gây dị ứng/bất dung nạp thì cải thiện, có thể dựa vào đặc điểm riêng để phân biệt.
2/ Khi trẻ tiêu chảy, phân nhiều bạch cầu: Gợi ý viêm xâm lấn đại tràng hoặc hồi tràng đoạn cuối, thường do vi khuẩn xâm lấn. Thường kèm nhiễm trùng toàn thân ở mức độ nhất định. Chẩn đoán chính xác đôi khi cần nuôi cấy phân. Cần phân biệt với:
① Lỵ trực khuẩn: Ở trẻ < 1 tuổi, lỵ có thể biểu hiện không điển hình (không mót rặn, không phân nhầy máu rõ). Ngược lại, cũng có trường hợp E.coli gây tiêu chảy nhưng tạm thời thấy nhiều bạch cầu nên dễ nhầm với lỵ. Tuy nhiên, lỵ là bệnh truyền nhiễm, chú ý hỏi tiền sử tiếp xúc. Soi phân có nhiều bạch cầu mủ, hồng cầu, đại thực bào và có thể cấy ra Shigella.
②Viêm ruột hoại tử chảy máu cấp tính ở trẻ nhũ nhi: bệnh cảnh nặng, nhiễm độc rõ, tiêu chảy, chướng bụng, đi ngoài ra máu (phân đỏ sẫm, kiểu mứt mận hoặc máu tươi), sốt cao, nôn. Thường sốc sớm, có thể hôn mê, co giật. X-quang bụng thấy quai ruột non giãn khu trú, khoảng cách các quai ruột tăng…
③Lỵ amip (amip): soi phân thấy ít bạch cầu, nhưng nhiều hồng cầu, và ký sinh trùng amip dạng hoạt động. Ít có nhiễm độc toàn thân.
Trẻ tiêu chảy thì vì sao dễ rối loạn nước, điện giải và thăng bằng kiềm toan?
Vì trẻ nhỏ lớn nhanh, chuyển hóa dịch nhanh hơn người lớn. Ở trẻ nhũ nhi, lượng nước đưa vào và thải ra mỗi ngày khoảng 1/2 khối lượng dịch ngoại bào, trong khi người lớn chỉ khoảng 1/7. Nhờ vậy trao đổi dinh dưỡng và đào thải chất cặn được thuận lợi, nhưng mặt khác, khi nôn và tiêu chảy, cộng thêm không ăn uống được, trẻ mất nước nhanh. Đồng thời, hệ điều hòa dịch – điện giải – kiềm toan chưa trưởng thành, dễ dẫn đến:
3/ Hạ kali máu (低钾血症)
Trong cơ thể, tổng lượng kali vào khoảng 30–50 mmol/kg cân nặng, trong đó có tới 98% nằm bên trong tế bào, chỉ 2% ở dịch ngoại bào. Mặc dù nồng độ kali ở các bộ phận cơ thể rất khác nhau, nhưng kali trong huyết tương lại được duy trì ổn định ở mức 4,1–5,1 mmol/L, nhờ vào hoạt động của “bơm Na⁺-K⁺” (钠泵).Vì dịch tiết đường tiêu hóa (bao gồm cả dạ dày, ruột) chứa khá nhiều kali (khi tiêu chảy, hàm lượng kali trung bình trong phân là 17,9 ± 11,8 mmol/L), nên việc nôn mửa và tiêu chảy đều có thể làm mất một lượng kali lớn. Thêm vào đó, khi trẻ ăn uống ít, lượng kali cung cấp càng không đủ, trong khi thận lại có khả năng giữ kali kém hơn giữ natri. Ngay cả khi cơ thể đã thiếu kali, thận vẫn tiếp tục bài tiết một lượng kali đáng kể. Điều này lý giải vì sao hầu hết trẻ bị tiêu chảy đều có mức độ thiếu kali nhất định, đặc biệt là trẻ tiêu chảy kéo dài và suy dinh dưỡng. Triệu chứng thiếu kali ít liên quan đến nồng độ kali bên trong tế bào, nhưng lại liên quan chặt chẽ đến nồng độ kali trong huyết thanh và tốc độ giảm của nó. Trước khi bù dịch (chưa điều trị), mặc dù tổng lượng kali trong cơ thể đã giảm, nhưng do các nguyên nhân sau đây, đa số trường hợp nồng độ kali máu vẫn có thể bình thường: Máu bị cô đặc. Trong tình trạng toan chuyển hóa, một phần kali từ trong tế bào chuyển ra ngoài tế bào. Lượng nước tiểu giảm, nên lượng kali mất qua nước tiểu cũng giảm. Tuy nhiên, khi truyền dịch không chứa kali, cùng với việc điều chỉnh mất nước: Kali trong huyết tương bị pha loãng. Nước tiểu tăng khiến thải kali nhiều hơn.Việc điều chỉnh toan chuyển hóa và sự tổng hợp glycogen từ glucose (vừa được truyền vào) sẽ khiến kali chuyển trở lại vào trong tế bào. Tất cả những quá trình đó làm hạ nồng độ kali máu, dẫn tới hạ kali máu có thể biểu hiện rõ.
4/ Hạ calci máu và hạ magnesi máu (低钙和低镁血症)
Trẻ bị tiêu chảy thường ăn ít, kèm hấp thu kém, đồng thời mất một phần calci và magnesi qua phân, nên calci và magnesi trong cơ thể cũng giảm, nhưng thông thường không quá nghiêm trọng. Tuy nhiên, ở trẻ suy dinh dưỡng, còi xương, tiêu chảy kéo dài, nhiễm kiềm (alkalosis) hoặc trẻ sinh non thì dễ bị hạ calci máu hơn.
Khi trẻ mất nước và bị toan chuyển hóa (chưa điều trị), do máu bị cô đặc và tình trạng toan chuyển hóa khiến một phần calci tách ra khỏi xương nhiều hơn, nồng độ calci ion hóa trong máu tương đối cao, vì vậy thường chưa xuất hiện hạ calci máu ngay. Nhưng sau khi bù dịch, calci trong máu bị pha loãng, và khi toan chuyển hóa được điều chỉnh (cơ thể trở về môi trường kiềm nhẹ), calci lắng đọng lại vào xương, dẫn đến giảm calci máu, lượng calci ion hóa cũng giảm. Khi nồng độ calci máu < 1,75 mmol/L (7 mg/dL) thì có biểu hiện lâm sàng của hạ calci máu. Rất ít trường hợp trẻ tiêu chảy kéo dài và suy dinh dưỡng bị thiếu magnesi (hạ magnesi máu), thường chỉ xuất hiện sau khi nồng độ natri và kali đã được phục hồi về mức bình thường. Ngoài ra, truyền dịch kéo dài, lạm dụng thuốc lợi tiểu quá mức hoặc hút dẫn lưu dạ dày lâu ngày cũng có thể gây thiếu magnesi.
Tại sao trẻ nhỏ bị tiêu chảy dễ xảy ra mất nước, rối loạn điện giải và thăng bằng kiềm toan?
Lâm sàng cho thấy, so với người lớn, trẻ em khi bị tiêu chảy dễ bị mất nước và rối loạn điện giải, kiềm toan hơn, nguyên nhân xuất phát từ đặc điểm sinh lý của trẻ: Nhu cầu nước cao: Lượng nước cung cấp mỗi ngày liên quan tỷ lệ thuận với tiêu hao năng lượng. Trẻ em cần năng lượng tương đối cao hơn so với người lớn, nên tính theo kg cân nặng, nhu cầu nước của trẻ cao hơn. Trung bình, trẻ em cần khoảng 120 ml nước/100 kcal. Trừ vài ngày đầu sau sinh, trẻ càng nhỏ thì trao đổi nước (lượng nước đưa vào và thải ra) càng lớn. Ở trẻ nhũ nhi, lượng nước trao đổi mỗi ngày bằng 1/2 lượng dịch ngoại bào, còn ở người lớn chỉ bằng 1/7. Tốc độ trao đổi nước của nhũ nhi nhanh gấp 3–4 lần người lớn. Vì vậy, sức chịu đựng thiếu nước của trẻ kém hơn người lớn. Nếu trẻ không được bù nước, mà nước lại tiếp tục mất do tiêu chảy – nôn, chúng dễ rơi vào trạng thái mất nước. Quá trình trao đổi nước được thực hiện qua 3 con đường:
1/ Mất nước không thấy rõ (không rõ ràng):Gồm mất qua bốc hơi da và hô hấp, tương đối ổn định. Do trẻ em chuyển hóa cao, cần nhiều nhiệt lượng, nên mất nước không rõ (không cảm nhận được) cũng nhiều hơn. Tính theo kg cân nặng, lượng mất kiểu này gấp 2 lần người lớn. Trung bình ở trẻ, mất nước qua đường “không rõ ràng” là 42 ml/100 kcal (14 ml từ tế bào, 28 ml qua da).
2/ Dịch tiêu hóa: Mỗi ngày, cơ thể tiết một lượng lớn dịch tiêu hóa, khoảng 1–2 lần thể tích huyết tương, hoặc bằng 2/3 thể tích dịch ngoại bào. Phần lớn được tái hấp thu; lượng thải ra qua phân chỉ còn rất ít (khoảng 8 ml/100 kcal ở trẻ em). Khi trẻ bị tiêu chảy nặng, khả năng tái hấp thu nước – điện giải kém, khiến trẻ mất nước – điện giải ồ ạt. Trẻ càng nhỏ thì tốc độ tiết và hấp thu dịch tiêu hóa càng nhanh, nên khi chức năng tiêu hóa trục trặc, càng dễ mất nước và điện giải so với người lớn.
3/ Bài tiết qua thận (nước tiểu): Lượng nước tiểu có thể thay đổi nhiều, tùy theo khả năng hòa tan của thận (solutes load), cùng mức pha loãng và cô đặc tối đa. Ở người lớn, thận có thể pha loãng nước tiểu xuống 50–100 mOsm/L (tỷ trọng 1.003) và cô đặc đến 1400 mOsm/L (tỷ trọng 1.035). Ở trẻ nhỏ, chức năng thận chưa trưởng thành, khả năng cô đặc nước tiểu chỉ khoảng 700 mOsm/L (tỷ trọng 1.020). Nghĩa là để đào thải cùng một lượng chất, trẻ cần nhiều nước hơn so với người lớn, nên nước tiểu tương đối nhiều hơn. Nếu bù nước không đủ, hoặc mất nước tăng, lượng nước tự do trong cơ thể dễ vượt quá khả năng cô đặc của thận, gây ứ đọng sản phẩm chuyển hóa và dẫn đến mất nước ưu trương, đồng thời có thể gây nhiễm toan do chất chuyển hóa không được đào thải. Ngoài ra, trong giai đoạn sơ sinh, thận bài tiết Cl⁻, phosphate, H⁺ và sinh ammoniac (NH₃) còn kém, nồng độ Cl⁻ và lactate máu tương đối cao, HCO₃⁻ tương đối thấp, nên cũng dễ bị toan chuyển hóa.
Làm sao phát hiện mất nước và toan chuyển hóa?
Trẻ nhỏ tiêu chảy rất dễ bị mất nước và toan chuyển hóa. Nếu không điều trị kịp thời, nguy cơ đe dọa tính mạng rất cao. Các dấu hiệu để sớm nhận biết:
Dấu hiệu mất nước
Dựa vào thóp trước, hốc mắt, độ đàn hồi da, tình trạng tuần hoàn (mạch, huyết áp, nhiệt độ đầu chi) và lượng nước tiểu.
Mất nước nhẹ (khoảng 5% cân nặng): Trẻ hơi bơ phờ, hơi quấy khóc, da hơi khô nhưng còn đàn hồi, mắt và thóp hơi lõm, khi khóc vẫn có nước mắt, môi và niêm mạc hơi khô, tiểu ít hơn bình thường.
Mất nước vừa (5–10% cân nặng): Trẻ li bì hoặc quấy khóc hơn, da tái nhợt, khô, giảm đàn hồi rõ, thóp và mắt lõm nhiều, ít nước mắt khi khóc, môi và niêm mạc khô, tứ chi hơi lạnh, tiểu rõ rệt ít.
Mất nước nặng (>10% cân nặng): Trẻ bệnh nặng, rất lừ đừ, mệt mỏi, có khi hôn mê, da xám, khô, đàn hồi rất kém, mắt trũng sâu, mí mắt hở không khép, không có nước mắt khi khóc, môi và niêm mạc khô khốc. Dấu hiệu sốc (mạch nhỏ, huyết áp hạ, đầu chi lạnh) cũng có thể xuất hiện, nước tiểu rất ít hoặc vô niệu.
Ngoài ra, trẻ mất nước thường khát, trẻ nhũ nhi dù chưa biết nói nhưng luôn tìm cách mút tay, tìm vú mẹ, nếu được đưa bình sữa sẽ bú rất mạnh…
Dấu hiệu toan chuyển hóa
Thường xảy ra trên nền mất nước, biểu hiện: Trẻ rất li bì, buồn ngủ hoặc hôn mê, môi màu đỏ anh đào, thở sâu. Khi nặng có thể co giật. Bất kỳ trường hợp trẻ tiêu chảy nào cũng phải cảnh giác nguy cơ mất nước và toan hóa. Nếu thấy biểu hiện trên, cần nhanh chóng đưa trẻ đi viện, vì chỉ chậm vài giờ có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Các loại dung dịch pha trộn thường dùng bù dịch khi trẻ tiêu chảy kèm mất nước
1/ Dung dịch “1:1”: Gồm 1 phần dung dịch glucose 5% và 1 phần dung dịch NaCl 0,9% trộn lại. Áp suất thẩm thấu chỉ bằng 1/2 huyết tương, được dùng chủ yếu để bù nước khi có nôn đơn thuần hoặc tiếp tục mất dịch vừa phải. Cách pha đơn giản: Lấy 500 ml glucose 5% + 20 ml dung dịch NaCl 10% (tương đương 1 phần NaCl 0,9%) = dung dịch “1:1”.
2/ Dung dịch “3:2:1”: Gồm 3 phần glucose 10%, 2 phần NaCl 0,9% và 1 phần natri lactat 1,87% (hoặc NaHCO₃ 1,4%). Đơn giản hơn, có thể pha: 500 ml glucose 5% + 15 ml NaCl 10% + 15 ml natri lactat 11,2% (hoặc 24 ml dung dịch NaHCO₃ 5%). Đây cũng là dung dịch 1/2 áp lực thẩm thấu (1/2 đẳng trương).
3/ Dung dịch “3:4:2” (một số nơi gọi “4:3:2”): Gồm 3 phần glucose 10%, 4 phần NaCl 0,9%, 2 phần natri lactat 1,87% (hoặc NaHCO₃ 1,4%). Tổng cộng 9 phần, trong đó 6 phần là điện giải, nên đây là dung dịch 6/9 đẳng trương = 2/3 đẳng trương.
Tóm lại, với trẻ nhỏ bị tiêu chảy mất nước, cần lựa chọn dung dịch bù nước-điện giải thích hợp (độ thẩm thấu, thành phần muối kiềm…) tùy theo mức độ mất nước, toan chuyển hóa và rối loạn điện giải, tránh nguy cơ thiếu hoặc thừa muối, gây biến chứng nặng
(7) Dung dịch “3:1” hoặc “4:1”
Đây là hỗn hợp gồm 3 hoặc 4 phần dung dịch Glucose 10% và 1 phần dung dịch NaCl 0,9%. Tổng số phần là 4 hoặc 5, nghĩa là dung dịch có độ thẩm thấu bằng 1/4 hoặc 1/5 so với áp lực thẩm thấu huyết tương (tương đương 14\tfrac{1}{4}41 hoặc 15\tfrac{1}{5}51 đẳng trương). Loại dung dịch này thường được dùng làm dịch duy trì nhu cầu sinh lý cho trẻ nhỏ. Do chức năng thận của trẻ sơ sinh chưa hoàn thiện, khả năng xử lý NaCl còn hạn chế, nên ưu tiên dùng dung dịch 1/5 đẳng trương. Khi dùng cho trẻ sơ sinh, dung dịch “4:1” còn được gọi là “dịch cơ bản” (basic fluid).
(8) Dung dịch đẳng trương chứa natri kiểu “2:1”
Tức là hỗn hợp gồm 2 phần dung dịch NaCl 0,9% và 1 phần dung dịch lactat natri 1,87% (hoặc NaHCO₃ 1,4%).
Tại sao cần dùng “dung dịch hỗn hợp” khi trẻ nhũ nhi bị tiêu chảy kèm mất nước?
Trong lâm sàng, để điều chỉnh mất nước và toan chuyển hóa, thường phải phối hợp các loại dịch theo tỷ lệ nhất định. Lý do không thể chỉ truyền NaCl 0,9% (sinh lý) hoặc chỉ Glucose 5%/10% để bù là vì: Khi trẻ bị tiêu chảy nặng, ngoài mất bicarbonate gây toan chuyển hóa, còn có rối loạn dinh dưỡng (hay gọi “nhiễm toan do đói” hoặc “kiệt sức”) và mất nhiều nước, điện giải (bao gồm cả natri, kali…). Vì vậy, cần một loại dịch vừa bù nước, bổ sung điện giải, vừa giúp điều chỉnh toan chuyển hóa, vừa cung cấp năng lượng để hạn chế tình trạng nhiễm toan do đói. Nếu chỉ dùng nước muối sinh lý, sau khi lượng NaCl cần thiết đã đủ mà trẻ vẫn thiếu nước, truyền thêm NaCl 0,9% nữa sẽ có nguy cơ thừa muối (gây “ngộ độc muối”). Nếu chỉ dùng Glucose 5–10% để bù, sẽ tạo trạng thái nhược trương (hạ áp suất thẩm thấu ngoại bào), kích thích cơ thể giảm tiết ADH, gây lợi tiểu; trường hợp nặng có thể ngộ độc nước, xuất hiện triệu chứng thần kinh. Lâm sàng có thể thấy tiểu nhiều hơn khi truyền dịch, vì càng truyền dung dịch “quá loãng”, cơ thể càng muốn thải bớt nước. Đối với người lớn, do chức năng gan thận đầy đủ, ngoài việc truyền dung dịch hỗn hợp, đôi khi có thể thay phiên một chai NaCl 0,9% và một chai Glucose 5% (hoặc 10%). Khi cần điều chỉnh toan chuyển hóa, có thể thêm dung dịch kiềm (bicarbonate… ) vào chai Glucose để nhỏ giọt.
Tính toán lượng dịch truyền tĩnh mạch cho trẻ nhũ nhi bị tiêu chảy mất nước như thế nào?
Truyền tĩnh mạch áp dụng cho mất nước mức trung bình trở lên, hoặc có chướng bụng rõ, sốc, suy tim – thận hoặc biến chứng nặng khác, và đặc biệt là trẻ sơ sinh.
X9=100%92% ⟹ X=9×10092≈9,77 kg \frac{X}{9} = \frac{100\%}{92\%} \implies X = \frac{9 \times 100}{92} \approx 9,77 \text{ kg}9X=92%100%⟹X=929×100≈9,77 kg
⇒\Rightarrow⇒ Lượng mất tích lũy = 9,77 – 9,00 = 0,77 kg tương đương 770 ml dịch.
– Cũng có thể ước tính dựa trên diện tích da:
Tổng các phần (a)+(b)+(c) = tổng lượng dịch ngày đầu. Để ứng dụng đơn giản, thường quy ước:
Sau đó, với những ca đặc biệt, có thể tính chi tiết hơn.
Phân biệt tính chất mất nước ở trẻ tiêu chảy như thế nào?
“Tính chất mất nước” là xét về áp suất thẩm thấu của dịch cơ thể đang tồn tại. Khi mất nước, trẻ mất cả nước lẫn điện giải (chủ yếu là Na), nhưng tỷ lệ mất có thể khác nhau tùy nguyên nhân, dẫn đến 3 kiểu:
Khi phải truyền tĩnh mạch cho trẻ tiêu chảy mất nước, chọn loại dịch gì?
Tùy tính chất mất nước (đẳng trương, nhược trương, ưu trương) để phối hợp dung dịch điện giải và dung dịch không điện giải:
Nếu khó xác định loại mất nước bằng lâm sàng, nên tạm xử trí như mất nước đẳng trương.
Trường hợp sốc tuần hoàn do mất nước, nên tiêm nhanh NaCl 0,9% hoặc huyết tương 10–20 ml/kg để nâng thể tích tuần hoàn. Nếu muốn bù acid-base tốt hơn, ưu tiên dung dịch “2:1 đẳng trương chứa Na” (2 phần NaCl 0,9% + 1 phần bicarbonate 1,4% hoặc lactat natri 1,87%).
Trình tự truyền dịch ngày đầu khi trẻ nhũ nhi bị tiêu chảy mất nước
(Các bước tiếp theo gồm bù “lượng mất tiếp tục” và “nhu cầu sinh lý” trong ngày, điều chỉnh theo diễn tiến lâm sàng, thường sang giai đoạn thứ hai của 24 giờ đầu.)
(3) Giai đoạn duy trì bù dịch (维持补液阶段):
Ở giai đoạn này, tình trạng mất nước về cơ bản đã được cải thiện, chỉ cần bù lượng nhu cầu sinh lý và lượng tiếp tục mất (do tiêu chảy, nôn còn sót lại). Lúc này, tốc độ truyền có thể giảm bớt, truyền hết phần dịch còn lại trong khoảng 12–16 giờ, trung bình 5 ml/kg/giờ. Nếu tình trạng nôn và tiêu chảy thuyên giảm, có thể giảm bớt lượng dịch truyền hoặc chuyển sang bù nước qua đường uống.
Thông thường, tốc độ truyền được quyết định bởi mức độ mất nước và số lần đi tiêu. Mỗi ml dung dịch tương đương khoảng 16 giọt, hoặc nếu dùng kim (bộ dây) giọt nhỏ thì mỗi ml có 20–22 giọt.
Với phương án bù dịch kể trên, tổng lượng nước truyền tĩnh mạch có thể hơi thiếu một chút; tuy nhiên, hầu hết trẻ đều có thể uống thêm nước, không nhất thiết phải truyền toàn bộ qua đường tĩnh mạch. Những trường hợp trẻ nôn nhiều, không uống nước được, có thể thêm một lượng thích hợp dung dịch glucose 5% hoặc 10% vào dịch truyền để tránh nguy cơ tăng natri máu, nhất là trong giai đoạn duy trì.
Bởi mỗi bệnh nhân mức độ tiêu chảy, khả năng uống vào khác nhau, ước tính lượng phân thải cũng khó chính xác, vì vậy trong quá trình truyền dịch, cần theo dõi sát đáp ứng lâm sàng, để điều chỉnh kịp thời thành phần, liều lượng và tốc độ truyền.
(2) Bù dịch từ ngày thứ hai trở đi
Sau ngày đầu truyền dịch, nếu mất nước và rối loạn điện giải đã cơ bản được khắc phục, thì chủ yếu cần bù nhu cầu sinh lý và lượng mất tiếp tục, đồng thời tiếp tục bổ sung kali, cung cấp năng lượng. Nếu trẻ đã đỡ tiêu chảy, nôn, có thể ngừng truyền tĩnh mạch, cho ăn/uống qua miệng. Nếu trẻ vẫn còn tiêu chảy nhiều hoặc không uống được đủ nước, cần tiếp tục truyền tĩnh mạch, điều chỉnh lượng dịch theo mức độ tiêu chảy và khả năng ăn, uống. Có thể ước tính khoảng 100 ml/kg/ngày. Về thành phần, có thể dùng dung dịch “3:2:1”, truyền trong vòng 12–24 giờ với tốc độ trung bình.
Cách điều chỉnh toan chuyển hóa khi trẻ tiêu chảy mất nước
Tiêu chảy thường gây toan chuyển hóa, mức độ thường tương ứng với mức mất nước. Nếu toan ở mức nhẹ hoặc vừa, không cần bù kiềm riêng, do dịch truyền hỗn hợp thường có thành phần kiềm, và khi tưới máu, chức năng thận được cải thiện, tình trạng toan sẽ tự điều chỉnh.
Nếu trẻ mất nước nặng, thường kèm toan nặng, có thể dùng dung dịch bicarbonate 1,4% thay thế dung dịch “2:1 đẳng trương chứa Na” để mở rộng thể tích tuần hoàn, đồng thời đẩy nhanh quá trình sửa toan.
Thông thường, mục tiêu là nâng CO₂ tổng hợp (CO₂ combining power) lên 40 vol%. Có thể tính như sau:
(40 – X) \times 0,3 \times \text{cân nặng (kg)} = \text{số ml lactat natri 11,2% cần bù} (40 – X) \times 0,5 \times \text{cân nặng (kg)} = \text{số ml NaHCO₃ 5% cần bù}
Trong trường hợp chưa đo được CO₂ trong máu, có thể ước tính:
(khoảng liều này giúp nâng CO₂ lên thêm 10 vol%). Nếu cần, có thể lặp lại sau 2–4 giờ.
Ngoài ra, với những trẻ chưa truyền dung dịch kiềm mà đã có toan nặng hoặc sốc, thì 20–25% nhu cầu natri có thể thay bằng NaHCO₃ (lưu ý, 10 ml dung dịch NaHCO₃ 5% chứa khoảng 6 mEq Na). Lượng dịch và điện giải dùng để chỉnh toan hoặc sốc đều cần tính luôn vào tổng dịch ngày đầu. Nếu trẻ bị sốc thiếu oxy, cơ thể tích lũy nhiều lactat, khi đó không nên dùng lactat natri, mà nên dùng NaHCO₃. Lưu ý, nếu trẻ suy hô hấp không thải được CO₂, truyền lượng lớn dung dịch NaHCO₃ ưu trương có thể không phù hợp.
Cách điều chỉnh rối loạn điện giải khi trẻ tiêu chảy mất nước
(1) Bổ sung kali
Gần như trẻ tiêu chảy nào cũng thiếu kali. Phần lớn kali (trên 98%) nằm trong dịch nội bào, và sự thiếu hụt chính cũng diễn ra ở nội bào. Lượng kali bù bên ngoài (ngoài tế bào) cần thời gian để vận chuyển vào nội bào.
Trước khi điều chỉnh mất nước, tổng lượng kali của cơ thể đã giảm, nhưng do máu bị cô đặc, toan chuyển hóa, sự di chuyển kali từ nội bào ra ngoại bào, và việc giảm thải qua nước tiểu (vì trẻ tiểu ít), kali huyết tương thường không thấp. Vì vậy, không nên bổ sung kali quá sớm và quá nhanh, nhất là khi chức năng thận chưa hồi phục, để tránh tăng kali máu.
Mặt khác, khi bắt đầu truyền dịch không có kali, máu sẽ bị pha loãng, tình trạng toan được cải thiện, glucose đi vào tế bào tạo glycogen, kéo theo kali cũng di chuyển vào nội bào; cộng thêm tác dụng lợi tiểu sau khi điều chỉnh suy tuần hoàn, cùng việc tiêu chảy tiếp diễn vẫn mất kali. Tất cả làm kali máu giảm dần, nếu không bù kịp thời, trẻ dễ hạ kali nặng, nhất là trẻ suy dinh dưỡng. Do đó, bổ sung sớm một lượng kali nhất định ở giai đoạn đầu cũng có lợi, phòng hạ kali máu.
Nếu lúc nhập viện, trẻ đã có dấu hiệu thiếu kali (hoặc xét nghiệm kali máu thấp), hoặc bị suy dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài, mất nước nặng, thì sau khi mở rộng tuần hoàn giúp cải thiện chức năng thận (đã đi tiểu), nên bổ sung kali sớm.
(2) Bổ sung calci và magnesi
Bù dịch bằng đường uống khi trẻ tiêu chảy mất nước
Trong khoảng 20 năm trở lại đây, qua nghiên cứu cơ chế tiêu chảy và sinh lý ruột, người ta thấy trong tiêu chảy do độc tố ruột, lớp niêm mạc, đặc biệt là tế bào nhung mao vẫn còn khả năng hấp thu; ngay cả tiêu chảy xâm lấn, chức năng hấp thu cũng chưa hoàn toàn mất. Vì vậy, bù dịch qua đường uống (ORS) hoàn toàn có thể hiệu quả trong nhiều trường hợp.
Glucose trong lòng ruột sẽ kéo theo Na⁺ cùng hấp thu (cùng một chất mang). Tác dụng này mạnh nhất khi nồng độ glucose ở khoảng 2–3%; nếu quá 10%, không những không tăng hấp thu mà còn gây tiêu chảy do tăng áp lực thẩm thấu.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đề xuất công thức ORS (Oral Rehydration Salt) dựa trên đặc điểm bệnh lý đường tiêu hóa lúc tiêu chảy, có thể thay thế tốt cho truyền tĩnh mạch trong nhiều trường hợp.
Chỉ định: ORS dùng để phòng mất nước khi tiêu chảy, hoặc điều trị mất nước nhẹ – vừa, không kèm suy tuần hoàn rõ. Những ca chướng bụng nhiều, sốc, suy tim – thận nặng hoặc trẻ sơ sinh thường không dùng ORS. ORS cũng phù hợp cả tiêu chảy tiết (phân nước) lẫn tiêu chảy không tiết.
Cách bù dịch bằng đường uống về lượng và tốc độ khá giống phương pháp truyền tĩnh mạch, chỉ không có giai đoạn “mở rộng thể tích”. Ta có thể cho uống ORS từng ngụm nhỏ liên tục, trong 8–12 giờ đầu bù phần thiếu tích lũy. Ở giai đoạn này, mất nước nhẹ cần khoảng 50–80 ml/kg, mất nước vừa 80–100 ml/kg. Sau khi mất nước đã điều chỉnh, chuyển sang giai đoạn duy trì, có thể pha loãng ORS (thêm nước) hoặc dùng “dịch duy trì” đường uống. Điều chỉnh tùy theo lượng phân và mức hồi phục.
Trong khi bù tích lũy, có thể ngừng ăn tạm thời. Thường 4–6 giờ sau bắt đầu ăn lại. Nếu trẻ hết nôn, có thể dần dần quay về chế độ ăn bình thường. (Nếu trẻ nôn nhiều, tiêu chảy tăng, hoặc mất nước nặng thêm, nên chuyển sang truyền tĩnh mạch.)
Vì ORS là 2/3 đẳng trương, lượng nước thuần có thể thiếu so với nhu cầu, nên cần khuyến khích uống nước đun sôi theo cảm giác khát. Khi cơ thể bị nhược trương, trẻ sẽ không muốn uống thêm nước, giữ áp suất thẩm thấu cao. Ngược lại, nếu áp suất thẩm thấu máu quá cao, trẻ sẽ khát nhiều và uống nước để pha loãng. Cơ chế tự điều chỉnh này đặc biệt quan trọng ở giai đoạn “tiếp tục bù” để tránh tăng natri máu.
Mặt khác, trong tiêu chảy do virus, hàm lượng Na⁺ trong phân thường không quá 45–50 mmol/L, trong khi ORS có tới 90 mmol/L, do đó càng cần cho trẻ uống thêm nước.
ORS chứa 0,15% KCl, nói chung cần bổ sung kali thêm. Nếu có toan nặng, phải dùng bicarbonate ngoài ORS.
Ngoài ra, gia đình có thể tự làm ORS với nước cháo/rẻo gạo (“rice-based ORS”). Lấy 20–30 g bột gạo nấu chín, thêm nước cho đủ 1000 ml, sau đó cho muối 3,5 g, natri citrate 2,9 g, KCl 1,5 g. So với ORS dùng glucose, loại “ORS gạo” có hiệu quả tốt hơn vì cung cấp được nhiều năng lượng hơn.
Trẻ nên uống bao nhiêu nước cháo ORS là tùy vào mức độ tiểu tiện: khi lượng nước tiểu trở lại bình thường hoặc nhiều hơn một chút, nghĩa là đã đủ nước, có thể ngừng uống. Nếu tiểu ít, cần tiếp tục uống nhanh để bù đủ.
2902 05TIÊU CHẢY GÂY NGUY HẠI GÌ CHO TRẺ NHỎ? TIÊN LƯỢNG RA SAO?
Trẻ nhỏ thể chất còn yếu, đang trong giai đoạn phát triển nên tiêu chảy rất nguy hại. Khi bị tiêu chảy, khả năng hấp thu dinh dưỡng từ thức ăn của trẻ giảm, đồng thời chất dinh dưỡng dự trữ trong cơ thể cũng bị tiêu hao, thậm chí làm tổn thương một số mô cơ quan. Vì thức ăn lẽ ra được tiêu hóa và hấp thu vào cơ thể thì giờ không được sử dụng, trong khi các cơ quan vẫn tiếp tục hoạt động, đòi hỏi dinh dưỡng.
Nếu tình trạng tiêu chảy kéo dài, trẻ dễ bị suy dinh dưỡng, cơ thể gầy yếu, sức đề kháng giảm, dễ nhiễm bệnh. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của trẻ mà còn có thể dẫn tới nhiều biến chứng. Thường gặp:
Tiên lượng bệnh tiêu chảy ở trẻ phụ thuộc vào: thể chất, nguyên nhân, thời điểm và phương pháp điều trị.
CÁCH CHĂM SÓC TRẺ BỊ TIÊU CHẢY
CÁCH ĂN UỐNG ĐIỀU TRỊ Ở TRẺ BỊ TIÊU CHẢY
DÙNG KHÁNG SINH THẾ NÀO KHI TRẺ TIÊU CHẢY?
Kháng sinh thường dùng (tùy theo nguyên nhân và kết quả kháng sinh đồ nếu có):
(Lưu ý chọn thuốc phù hợp, điều chỉnh dựa trên kháng sinh đồ nếu có.)
3071 06
(6) Viêm ruột hồi – đại tràng giả mạc (Pseudomembranous enterocolitis)
Có thể dùng vancomycin, metronidazole (灭滴灵, còn gọi là 甲硝唑), bacitracin (杆菌肽), hoặc cholestyramine (chất này có khả năng gắn với độc tố vi khuẩn).
(7) Viêm ruột do nấm
Có thể dùng nystatin (制霉菌素) hoặc clotrimazole (克霉唑).
(8) Viêm ruột do ký sinh trùng
Nếu do trùng roi thìa (Giardia lamblia / 梨形鞭毛虫), có thể dùng metronidazole (甲硝唑) hoặc furazolidone (呋喃唑酮).
Làm sao phòng ngừa hiệu quả tiêu chảy ở trẻ nhỏ?
Tiêu chảy ở trẻ nhũ nhi hoàn toàn có thể phòng tránh được nếu chúng ta nắm rõ nguyên nhân và chú ý các điểm sau:
Tại sao trẻ suy dinh dưỡng dễ bị tiêu chảy kéo dài / mạn tính?
Tiêu chảy kéo dài, mạn tính có mối quan hệ chặt chẽ với suy dinh dưỡng. Ở trẻ suy dinh dưỡng, hình thái – chức năng đường tiêu hóa thay đổi, khó hấp thu dinh dưỡng nên dễ tiêu chảy. Ngược lại, khi bị tiêu chảy, do tăng nhu động ruột, thức ăn không tiêu hóa hết, hấp thu kém, nên dễ suy dinh dưỡng. Cả hai kết hợp thành vòng xoắn bệnh lý, khiến tiêu chảy dai dẳng.
Tóm lại, trẻ suy dinh dưỡng dễ bị tiêu chảy tái phát, khó khỏi. Bên cạnh đó, một số bệnh mạn tính như viêm loét đại tràng không rõ nguyên nhân, Crohn ruột non – đại tràng, xơ nang tụy, bệnh celiac… cũng dẫn đến tiêu chảy mạn. Gần đây người ta cũng thấy trẻ khiếm khuyết bẩm sinh về tiêu hóa và hấp thu (như thiếu men disaccharid bẩm sinh, không phân giải đường, gây áp suất thẩm thấu cao, tiêu chảy mạn). Hoặc tiêu chảy cấp do nhiễm trùng, nếu cơ thể không tạo được đáp ứng miễn dịch bình thường, hoặc tổn thương niêm mạc ruột nặng, cũng có thể chuyển sang mạn tính.
Chữa trị tiêu chảy kéo dài / mạn tính ở trẻ nhỏ như thế nào?
Nếu tiêu chảy quá 14 ngày, nên nhập viện. Khi vào viện, cần:
Nhận thức về nguyên nhân – cơ chế tiêu chảy (tả lỵ) ở trẻ trong y học cổ truyền
Trong đông y, tiêu chảy (泄泻) đặc trưng bởi tăng số lần đi tiêu, phân lỏng nước, có thể kèm thức ăn không tiêu, hoặc lẫn nhầy. Đây là bệnh thường gặp ở trẻ, đặc biệt dưới 2 tuổi, tuổi càng nhỏ, tỷ lệ mắc càng cao, dễ bùng phát trong mùa hè – thu, hoặc ngay cả mùa đông (miền Nam), dễ lan thành dịch.
Y học cổ truyền xem tỳ vị là “hậu thiên chi bản” – nguồn gốc chuyển hóa đồ ăn, sinh khí huyết. Trẻ em tỳ vị còn yếu (chức năng vận hóa chưa hoàn thiện), trong khi nhu cầu “thủy cốc tinh khí” (chất dinh dưỡng) lại cao, nên rất dễ bị tổn thương do ăn uống. Mặt khác, trẻ đề kháng kém, chưa tự điều chỉnh tốt nóng/lạnh, không biết tự kiềm chế chuyện ăn uống, nên càng dễ cảm nhiễm ngoại tà, dễ thương tổn do ăn uống sai. Do đó bệnh tỳ vị ở trẻ em rất phổ biến. Câu “tỳ thường bất túc” (脾常不足) Tạng tỳ thường không đầy đủ, trong sách “Dục anh gia bí” 《育婴家秘》Bí quyết nuôi trẻ là tổng kết kinh nghiệm xưa về đặc điểm sinh lý – bệnh lý này ở trẻ.
Nguyên nhân gây tiêu chảy (tả) ở trẻ em chủ yếu có 4 nhóm:
Ngoài ra, tỳ hư kéo dài có thể khiến can khí phạm tỳ, gây quấy khóc, cáu gắt, hễ khóc liền tiêu chảy, biểu hiện can khí nghịch, tỳ mất vận hóa. Nếu tiêu chảy lâu ngày không dứt, “tỳ thổ” bị tổn thương, “can mộc” không được khống chế, thường dẫn đến tỳ hư can vượng và chứng co giật mạn (mạn kinh phong). Hoặc khi tỳ hư phế nhược, phế dễ bị tà xâm, có thể xuất hiện mặt nhợt nhạt, ho kèm phân lỏng…
Tiêu chảy cấp dễ tổn thương âm, tiêu chảy dai dẳng dễ tổn thương dương. Trẻ em mang đặc điểm sinh lý “trĩ âm trĩ dương” (âm dương đều còn non) và bệnh lý “dễ hư, dễ nhiệt”. Nếu điều trị chậm trễ hoặc không đúng, dễ khiến hao tổn khí – dịch, hay xảy ra “thương dương”, “thương âm” hoặc “âm dương câu thương” (cả âm dương đều tổn).
Y học cổ truyền chữa tiêu chảy trẻ em: biện chứng luận trị ra sao?
Đông y trị tiêu chảy trẻ em, dựa vào tính chất phân, kèm các triệu chứng để nhận biết hàn – nhiệt, xác định hư – thực, rồi phân loại mà chữa:
1/ Thương thực tả (伤食泻)
Triệu chứng: đầy chướng vùng thượng vị và bụng, đau bụng quặn, đau xong muốn đi tiêu, đi tiêu xong đỡ đau. Phân chua, tanh như trứng ung, ợ chua, có thể buồn nôn, biếng ăn, ngủ không yên. Lưỡi phủ rêu dày, nhờn hoặc hơi vàng.
Phép trị: Tiêu thực đạo trệ, giúp tỳ vị tiêu hóa; đồng thời hạn chế ăn sữa, đồ ăn.
Thường dùng bài Bảo Hòa Hoàn gia giảm: Thần khúc 10g, Mạch nha 5g, Cốc nha 5g, Sơn tra 10g, Phục linh 10g, Hoàng liên 3g, Bán hạ 5g, Trần bì 3g. Nếu đau bụng và chướng nhiều, thêm Mộc hương, Hậu phác để hành khí, tiêu chướng; Nếu nôn ói nhiều, thêm Hoắc hương, Sinh khương để chỉ nôn
Cũng có thể dùng Tiểu nhi Thất Chân Đan. Nếu khát nước, có thể dùng Đại hoàng (dạng bột) để giúp thông tiện.
2/ Phong hàn tả (风寒泻)
Triệu chứng: Phân lỏng, nhiều bọt, không mùi hôi rõ rệt, đau bụng sôi ruột, có thể kèm sợ lạnh, sốt, nghẹt mũi, rêu lưỡi trắng nhờn, mạch nổi (phù) hữu lực.
Phép trị: Khu hàn hóa thấp, thường dùng thuốc thơm hóa thấp, trừ phong tán hàn.
Bài dùng: Hoắc Hương Chính Khí Tán gia giảm: Hoắc hương 3g, Tử tô 5g, Bán hạ 5g, Phục linh 10g, Bạch truật (sao) 10g, Trần bì 3g, Trạch tả 10g. Nếu đau bụng nặng, thêm Mộc hương, Sa nhân; nếu kèm ứ trệ đồ ăn, thêm Sơn tra; ít tiểu, thêm Trạch tả, Trư linh để lợi tiểu thấm thấp.
3/ Thấp nhiệt tả (湿热泻)
Triệu chứng: Phân lỏng nhiều nước, hoặc như té nước, màu vàng sẫm, mùi hôi, có thể ít nhầy; Đau bụng từng cơn, ăn kém, có lúc buồn nôn, uể oải, có thể sốt hoặc không, khát nước, tiểu ít có màu vàng sẫm, lưỡi vàng nhờn.
Phép trị: Thanh nhiệt lợi thấp.
Thường dùng Gia Vị Cát Căn Cầm Liên Thang: Cát căn 5g, Hoàng cầm 5g, Cam thảo 3g, Phục linh 10g, Trạch tả 10g, Hậu phác 5g, Xa tiền thảo (hoặc Xa tiền tử) 10g, Thần khúc 10g.
Nếu tiểu ít, đỏ, thêm Lục Nhất Tán (Hoạt thạch – Cam thảo) để thanh nhiệt lợi thấp; Nếu đau bụng nhiều, thêm Bạch thược, Mộc hương; Nếu nôn nhiều, dùng Bán hạ, Sinh khương hoặc Ngọc Thụ Đan; nếu tà thấp nặng, ít khát nước, thêm Thương truật; nếu sốt cao, phiền khát nhiều, thêm Thạch cao, Hàn thủy thạch… để thanh nhiệt trừ phiền.
4/ Tỳ hư tả (脾虚泻)
Triệu chứng: Phân lỏng, thường đi tả sau khi ăn, màu nhạt, không hôi, lúc nặng lúc nhẹ, sắc mặt vàng tái, gầy yếu, mệt mỏi, lưỡi nhạt rêu trắng, tiêu chảy tái đi tái lại.
Phép trị: Kiện tỳ chỉ tả, dùng thuốc bổ tỳ ích khí để hóa thấp.
Bài thường dùng Gia Vị Sâm Lăng Bạch Truật Tán: Đảng sâm 10g, Bạch truật (sao) 5g, Phục linh 10g, Hoài sơn 10g, Ý dĩ (sao) 10g, Biển đậu (sao) 10g, Trần bì 3g, Sa nhân 5g, Ô mai 10g, Cam thảo (chích) 10g.
Nếu lúc đau bụng, thêm Mộc hương; Nếu tiêu chảy dai dẳng, không kèm ứ trệ, thêm Kha tử nhục hoặc Xích thạch chi để cố tràng chỉ tả; phân loãng hoặc đồ ăn không tiêu, thêm Can khương để ôn trung tán hàn.
5/ Tỳ thận dương hư (脾肾阳虚)
Triệu chứng: Tiêu chảy kéo dài không dứt, ăn vào là muốn đi ngay, phân loãng trong, hạt cặn chưa tiêu hóa, hoặc sa trực tràng, người lạnh, tứ chi lạnh, mặt tái, mệt mỏi, ngủ lim dim, thè lưỡi, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch nhược.
Phép trị: Ôn bổ tỳ thận.
Thường dùng Kiện Tỳ Ích Khí Thang phối Tứ Thần Hoàn: Bổ cốt chi 10g, Nhục đậu khấu (sao) 5g, Ngũ vị tử 5g, Nhân sâm 3g, Bạch truật (sao) 10g, Phục linh 10g, Ngô thù du 5g.
Nếu sa trực tràng, thêm Hoàng kỳ, Thăng ma để nâng đỡ (thăng đề) trung khí; Tiêu chảy không dứt, thêm Kha tử, Xích thạch chi, Dự dư lương để thu liễm cố sáp.
Ở tất cả các thể trên, nếu điều trị không kịp thời, dễ dẫn đến tổn thương âm hoặc dương, gây biến chứng nặng.
Ý nghĩa của vọng chẩn và khám bụng (thiết phúc) trong tiêu chảy ở trẻ?
“Vọng – văn – vấn – thiết” (nhìn, nghe, hỏi, sờ) là bốn phương pháp chẩn bệnh chính của Đông y. Nhưng với trẻ nhỏ, do đặc thù sinh lý, bệnh lý, trẻ chưa biết nói (hoặc nói không rõ), thường khó hợp tác, hay quấy khóc, ảnh hưởng đến việc bắt mạch, quan sát nhịp thở… Do đó, các thầy thuốc nhi khoa cổ truyền xưa đặc biệt coi trọng vọng chẩn và thiết phúc (khám bụng), tích lũy nhiều kinh nghiệm, khiến việc phân chứng càng phong phú.
Lão Trung y Tiền Dục Thọ (钱育寿) nêu kinh nghiệm về vọng chẩn, thiết phúc như sau:
Còn lão Trung y Kim Thiệu Văn (金绍文) cho rằng, chẩn đoán chủ yếu dựa vào vọng chẩn, gồm thần sắc, triệu chứng, lưỡi, đặc biệt quan sát màu sắc, nếp nhăn hậu môn và tính chất phân:
Thầy thuốc Trung y Vương Bành Phi (王鹏飞) còn dựa vào biến đổi màu sắc ở vòm miệng (khẩu cái) các vị trí khác nhau khi trẻ bị tiêu chảy để suy đoán về tính hàn – nhiệt, hư – thực. Cụ thể:
Ngoài ra, các thầy thuốc cổ còn quan sát màu sắc ở nhân trung, ấn đường,… nhận thấy:
Các phép trị tiêu chảy thường dùng trong Đông y nhi khoa
Thầy thuốc Diệp Hiếu Lễ (叶孝礼), sau hơn 30 năm làm nhi khoa, tổng kết 10 phép trị chính:
1/ Khứ tích tiêu thực (去积消食)
Theo “thương thực thì tiêu” (伤食宜消). Khi trẻ tiêu chảy do ứ đọng thức ăn, thường dùng thuốc tiêu thực, như sơn tra, kê nội kim, thần khúc, mạch nha, cốc nha…Nếu ứ sữa hoặc thịt cá, nên tăng liều sơn tra, kê nội kim; ứ ngũ cốc tăng mạch nha, cốc nha; còn nếu ứ không rõ nguyên nhân mà kèm chướng bụng, cần dùng thêm thần khúc, hậu phác.
2/ Đạo trệ công hạ (导滞攻下)
Theo “thực tắc tả chi” (实则泻之). Khi có khối thực trệ rõ (thực chứng), có thể dùng thuốc công hạ như đại hoàng, chỉ thực…
3/ Thanh nhiệt lợi thấp (清热利湿)
Áp dụng khi nhiệt thịnh do ngoại cảm thử tà, nội ẩn thấp nhiệt, theo nguyên tắc “nhiệt thì thanh” (热则清之). Thường dùng thuốc thanh nhiệt như cát căn, hoàng cầm, hoàng liên, kim ngân hoa, liên kiều, bạch đầu ông, mã xỉ hiện (rau sam), ngư tinh thảo, thiết hãn thái…Nhóm này có công năng chống viêm, lợi niệu, kháng khuẩn… thường dùng cho tiêu chảy nhiễm trùng.
4/ Ôn trung trừ hàn (温中祛寒)
Khi tiêu chảy do lạnh (“hàn giả ôn chi” -寒者温之). Dùng thuốc can khương (gừng khô), phụ tử, ngô thù du, nhục đậu khấu…
5/ Kiện tỳ ích khí (健脾益气): Tiêu chảy lâu ngày dễ hư, theo “hư giả bổ chi” (虚者补之). Dùng thuốc bạch truật (sao), hoài sơn, phục linh, bạch biển đậu (sao), khiếm thực, liên nhục, đẳng sâm, hoàng kỳ, cam thảo chích….
6/ Lợi thủy thẩm thấp (利水渗湿)
“Thấp thắng tắc nhu tả” (湿胜则濡泻). Đông y trị tiêu chảy rất coi trọng “điều trung phân lợi”, thường vận dụng phép lợi thủy trừ thấp, với thuốc phục linh, trư linh, trạch tả, xa tiền tử…
7/ Sáp trường chỉ tả (涩肠止泻):
Nếu tiêu chảy lâu “ruột trơn không cầm”, theo “hoạt tắc cố sáp” (滑需固涩). Dùng kha tử, xích thạch chi, thạch lựu bì, ô mai, anh túc xác…
8/ Hành khí tiêu trướng (行气消胀):
Khi tiêu chảy mà đầy hơi, khí trệ ở dạ dày – ruột, cần hành khí, thường dùng trần bì, mộc hương, hậu phác, sa nhân, chỉ hạch…
9/ Dưỡng âm thanh nhiệt (养阴清热):
Tiêu chảy kéo dài, hao tân dịch, biểu hiện “thương âm”, thì phải nuôi âm và thanh nhiệt. Dùng tây dương sâm, sa sâm, huyền sâm, thạch hộc, ô mai, Hàng bạch thược…
10/ Phù dương cố nhiếp (扶阳固摄):Tiêu chảy kéo dài, dương khí suy, “thương dương”, nên nâng dương, cố nhiếp. Dùng phụ tử, can khương, nhục quế, bổ cốt chi, ích trí nhân…
Mười pháp nói trên đều thường dùng. Trong đó, ôn – thanh – tiêu – bổ là chủ đạo, nhất là “phân lợi” (chia nhỏ và dẫn lưu) được áp dụng rất rộng khi trị tiêu chảy, như “thanh nhiệt hóa thấp”, “khu hàn táo thấp”, “ôn trung kiện tỳ lợi thấp”… Bởi vì “tiêu chảy đều kèm thấp” và “trị thấp không dẫn nước tiểu thì không phải phương”, hàm ý trong lúc trừ thấp, cần giúp tiểu tiện để thải bỏ ẩm tà.
Từ thực tế cho thấy, bệnh lý tiêu chảy tuy đa dạng, nhưng gốc rễ không ngoài tổn thương tỳ, tích ứ, thấp trệ. Phép trị lúc đầu nên điều trung, phân lợi, kế đến dùng thuốc thơm táo thấp, nếu hư thì bổ, hàn thì ôn, có tích trệ thì tiêu, có thấp nhiệt thì thanh, kéo dài thì thăng đề, trơn quá thì cố sáp. Nắm vững nguyên tắc biện chứng luận trị thì không đến nỗi chỉ lo một mặt mà bỏ mặt kia.
Tuy nhiên, trên lâm sàng, chứng hàn – nhiệt – hư – thực thường đan xen, đặc biệt hư hay đi kèm hàn, thực hay đi kèm nhiệt, nên phép trị cũng phải biến hóa linh hoạt. Đồng thời, cần lưu ý:
Phép xoa bóp (thủ pháp) nhi khoa trị tiêu chảy thế nào?
Xoa bóp nhi khoa là phần quan trọng trong kho tàng y học cổ truyền, các thầy thuốc xưa ứng dụng rộng rãi. Xoa bóp giúp khơi thông khí huyết, kinh lạc và điều hòa tạng phủ, hỗ trợ trục tà trị bệnh. Thích hợp nhất cho trẻ dưới 5 tuổi, tuổi càng nhỏ hiệu quả càng rõ.
Với trẻ tiêu chảy, có thể áp dụng:
Nếu trẻ hay nôn sữa (trớ), thêm xoa Bản môn 50 lần.
Nếu tả nhiệt (tiêu chảy do nhiệt, kể cả thương thực), đẩy Thượng tam quan 200 lần, Hạ lục phủ 100 lần.
Nếu tả hư hàn, có thể hơ cứu huyệt Quy vĩ 3 phút, hoặc xát nóng lòng bàn tay rồi đặt ấm lên rốn.
Với trẻ tiêu chảy kéo dài, bệnh cam (suy dinh dưỡng) hay tỳ vị hư, có thể nắm, véo dọc cột sống (nhiều nơi gọi “nhiếp cốt” hoặc “nắn khớp lưng”). Cụ thể: cho trẻ nằm sấp, người xoa bóp dùng hai tay nắm lưng, đầu ngón trỏ và ngón cái giữ phần da thịt, nâng lên rồi lướt dần theo trục sống từ huyệt Trường cường (gốc xương cụt) lên tới Đại chùy (gáy), khoảng 5 lượt. Ở lượt thứ ba, cứ 3 lần véo thì kéo da một phát. Mỗi ngày 1 lần, 6 ngày là một đợt, nghỉ 1 ngày, sau đó lặp lại đợt thứ hai. Trường hợp da lưng loét hoặc có ban xuất huyết thì không áp dụng.
Phép châm cứu trị tiêu chảy ở trẻ thế nào?
Khi châm cho trẻ, về chọn huyệt cơ bản giống người lớn, nhưng trẻ thường khó hợp tác, nên thao tác cần nhanh, châm nông, không lưu kim lâu, thủ pháp mềm. Trẻ không có cảm giác đắc khí rõ, thầy thuốc phải quan sát biểu cảm của trẻ, hoặc phối hợp với người nhà.
Trị tiêu chảy, thường châm:
Cách dùng ngải cứu (moxibustion / cứu pháp) trị tiêu chảy ở trẻ
Phép cứu dùng ngải nhung hoặc ngải chế dược liệu khác, đốt nóng rồi hơ hoặc chích lên huyệt nhất định, tận dụng nhiệt lực qua đường kinh lạc để ôn thông khí huyết, điều hòa chức năng cơ thể, đạt hiệu quả trị liệu, phòng bệnh.
Khái niệm “Tiêu chảy ở trẻ nhũ nhi”
Tiêu chảy ở trẻ dưới 2 tuổi, do nhiều nguyên nhân, chủ yếu rối loạn tiêu hóa với biểu hiện đi lỏng. Trong đó, cho ăn không đúng cách là nguyên nhân hay gặp. Ví dụ, cho ăn nhiều tinh bột (bánh, bột đậu…) quá sớm, nhất là với trẻ dưới 3 tháng, rất dễ gây tiêu chảy. Hay thời tiết biến động, chênh lệch nhiệt độ quá lớn, trẻ bị lạnh bụng tăng nhu động ruột; hoặc trời quá nóng, men tiêu hóa tiết ít, cũng gây tiêu chảy. Một số bé cơ địa dị ứng, nhìn ngoài mũm mĩm nhưng dễ bị chàm (eczema), cũng hay tiêu chảy.
Bên cạnh đó, giống như người lớn, nhiễm khuẩn và nhiễm virus cũng là nguyên nhân thường gặp gây tiêu chảy ở trẻ nhũ nhi. Các vi khuẩn gây bệnh thường là E.coli, Campylobacter jejuni, Yersinia enterocolitica và Salmonella… Virus thường gặp là rotavirus, adenovirus, Norwalk virus (Norovirus). Ngoài ra, viêm ruột do nấm (candida…) có thể xảy ra ở trẻ suy dinh dưỡng, hoặc sau khi dùng corticoid hoặc kháng sinh phổ rộng lâu ngày. Nhiễm trùng roi thìa Giardia lamblia cũng có thể gây tiêu chảy, nhưng ít gặp.
Triệu chứng chính của tiêu chảy ở trẻ nhũ nhi
Nguyên tắc điều trị
Phòng ngừa
Phòng & trị tiêu chảy ở trẻ em (tóm tắt)
Cách đánh giá mức độ mất nước do tiêu chảy ở trẻ
Tiêu chảy không chỉ cản trở hấp thu dinh dưỡng, mà còn tiêu hao dự trữ trong cơ thể. Đặc biệt, tiêu chảy gây giảm hấp thu nước và do thay đổi áp suất thẩm thấu, nước từ máu chuyển vào ruột, mất một lượng lớn.
Nếu mất nước ≤5% trọng lượng cơ thể, cơ thể còn bù được; nếu >5%, sẽ xuất hiện nhiều rối loạn (gọi là “mất nước”). Dựa theo mức mất nước:
Tự pha “ORS” (dung dịch bù nước điện giải) tại nhà
ORS chủ yếu chứa KCl, NaCl, natri citrate (hoặc NaHCO₃), glucose khan (hoặc đường), dạng bột màu trắng giúp bù dịch khi tiêu chảy. Nếu dùng đúng và đủ, hầu hết trường hợp tiêu chảy ở trẻ nhũ nhi không cần kháng sinh vẫn khỏi.
Nếu không có gói ORS, phụ huynh có thể tự pha hai cách:
Nếu mất nước nhẹ, trong 4 giờ cho uống khoảng 50 ml/kg; mất nước vừa, trong 6 giờ cho uống 100 ml/kg, chia nhỏ uống. Mỗi lần uống một ít, nghỉ 2–3 phút rồi uống tiếp.
Trường hợp chỉ bù bằng nước đun sôi hoặc nước đường, mà không có muối, sẽ gây hạ natri máu nặng hơn, nguy hiểm thêm.
Cách cho trẻ tiêu chảy ăn uống
Khi trẻ bị tiêu chảy vì bất kỳ lý do gì, ngoài đi khám và điều trị kịp thời, ở nhà điều chỉnh chế độ ăn cũng rất quan trọng, tránh bệnh nặng thêm:
Các dung dịch thường dùng:
Nếu trẻ có khát rõ, ít nước mắt, lõm thóp, không tiểu… thì phải đưa đi viện sớm, tránh nguy hiểm tính mạng.
(Tài liệu gốc: Mã số 2884 10)
Tính phức tạp của nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy
Tiêu chảy là một nhóm bệnh do nhiều mầm bệnh, nhiều yếu tố khác nhau gây ra, rất nguy hại cho sức khỏe trẻ em, là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến suy dinh dưỡng, rối loạn phát triển và tử vong ở trẻ. Hiện nay, tiêu chảy vẫn là một trong những bệnh được ưu tiên phòng trị ở nước ta.
Trẻ nhỏ có hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện; niêm mạc dạ dày-ruột mềm, nhiều mạch máu, cơ thành ruột phát triển chưa đầy đủ, dễ rối loạn chức năng dạ dày-ruột. Các tuyến tiêu hóa còn non, lượng dịch vị và men tiêu hóa ít, cộng thêm hệ thần kinh chưa ổn định, nên bất kỳ yếu tố nào từ trong hay ngoài ruột đều có thể gây rối loạn tiêu hóa dẫn đến tiêu chảy.
Nguyên nhân gây tiêu chảy chủ yếu được chia thành hai nhóm lớn: không nhiễm trùng và nhiễm trùng.
I/ Nhóm không nhiễm trùng
Thể hiện trên 4 mặt:
1/ Chế độ ăn không phù hợp
Ăn quá nhiều, quá béo, quá lạnh
Thay đổi thức ăn mới liên tục
Ăn đồ đã hỏng, nhiễm khuẩn, chứa độc tố
Những điều này đều có thể khiến trẻ bị tiêu chảy.
2/ Kích thích bất lợi
Bị lạnh, nóng quá, tinh thần – cảm xúc xấu, căng thẳng, hoảng sợ… cũng có thể gây tiêu chảy.
3/ Tiêu chảy do dị ứng:Trẻ ăn phải thức ăn dễ gây dị ứng, dẫn tới tiêu chảy.
4/ Nguyên nhân khác
Chẳng hạn viêm loét đại tràng không đặc hiệu, bệnh tiêu chảy do glycogen v.v.
II/ Nhóm nhiễm trùng
Gồm nhiễm trùng trong ruột và nhiễm trùng ngoài ruột.
Tóm lại, tiêu chảy là một hội chứng tổng hợp, do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên.
Cảnh giác với “tiêu chảy mùa thu” ở trẻ nhũ nhi
“Tiêu chảy mùa thu” chủ yếu do rotavirus gây ra, là bệnh tiêu chảy cấp thường lưu hành vào thu – đông, gặp ở trẻ 6 tháng – 2 tuổi (đặc biệt trẻ bú mẹ), trên 4 tuổi ít gặp hơn.
Virus lây theo đường phân – miệng, qua thực phẩm, nước uống nhiễm virus do phân hoặc qua nước thải làm ô nhiễm bể bơi, lây lan từ tay nhân viên y tế và dụng cụ y tế… Đây là bệnh lưu hành ở nhiều nơi trên thế giới (Âu, Á, Mỹ, Úc, Phi…).
Bệnh khởi phát cấp: trước tiên có thể sốt, ho, chảy mũi (giống nhiễm hô hấp), nhưng không nặng. Nhiều trẻ nôn trước, rồi mới tiêu chảy. Đi ngoài nhiều lần, có trẻ vài chục lần, phân như nước hoặc như canh trứng (蛋花), màu trắng, không mùi hôi, do nôn – tiêu chảy liên tục, trẻ mất nhiều nước dẫn tới mất nước. Một số rất ít trẻ có biến chứng viêm não, chảy máu ruột, lồng ruột… Thời gian bệnh khoảng 1 tuần rồi khỏi.
Hiện chưa có thuốc đặc hiệu, song cần chú ý hai điểm:
Cách đánh giá mức độ mất nước ở trẻ tiêu chảy
Tiêu chảy không chỉ cản trở việc hấp thu dinh dưỡng mà còn tiêu hao thêm dự trữ dinh dưỡng trong cơ thể. Đặc biệt, khi ruột non tổn thương, chức năng hấp thu nước giảm, cộng với thay đổi áp suất thẩm thấu trong lòng ruột, nước trong máu chuyển ra lòng ruột rồi đi ngoài ra phân, gây mất nước lượng lớn.
Khi phát hiện trẻ tiêu chảy kèm mất nước, cha mẹ nên cho trẻ uống ORS sớm, rồi nhanh chóng đưa đến bệnh viện khám.
Thế nào là “tiêu chảy ở trẻ nhũ nhi” và phân loại nguyên nhân ra sao?
Đây là hội chứng tiêu chảy do nhiều nguyên nhân. Cùng với tiến bộ y học, ngày càng xác định rõ mầm bệnh. Trước kia, có nhiều tên chẩn đoán khác nhau như “khó tiêu”, “viêm dạ dày-ruột cấp”, “tiêu chảy ở trẻ nhũ nhi”, “viêm ruột ở trẻ”…
Năm 1982, Hội nghị Tổ cộng tác về tiêu chảy ở trẻ em toàn quốc đã đề xuất chia tiêu chảy thành nhiễm trùng và không nhiễm trùng. Trừ các bệnh được đặt tên cố định từ trước như lỵ trực khuẩn, lỵ amip, tả, sốt phát ban do Salmonella, các trường hợp vi khuẩn (E.coli, Campylobacter…), virus (rotavirus, coxsackie virus…), ký sinh trùng, nấm… hoặc nguyên nhân chưa rõ, đều gọi chung là viêm ruột ở trẻ. Với trường hợp đã xác định rõ nguyên nhân, cần ghi thêm: chẳng hạn “viêm ruột do rotavirus”, “viêm ruột do E.coli gây bệnh”…
Phân loại nguyên nhân gây tiêu chảy
Tiêu chảy ở trẻ nhũ nhi có thường gặp không?
Ở nước ta, do điều kiện vệ sinh nhìn chung còn kém, ô nhiễm môi trường nặng, tỷ lệ xử lý nước thải sinh hoạt, cung cấp nước sạch nông thôn, giám sát an toàn thực phẩm còn thấp, người dân chưa có thói quen vệ sinh tốt, nên tỷ lệ mắc tiêu chảy còn cao. Tiêu chảy ở trẻ vẫn là bệnh hay gặp, đứng thứ hai trong nhóm bệnh phổ biến.
Theo điều tra năm 1986, trung bình cứ một trẻ dưới 5 tuổi mỗi năm mắc tiêu chảy khoảng 2,01 ± 0,03 lần, trẻ nhũ nhi khoảng 4 lần/năm, ảnh hưởng lớn tới phát triển thể chất. Đặc biệt vùng nghèo, điều kiện y tế kém, tỷ lệ mắc và chết do tiêu chảy còn rất cao. Năm 1986, Bộ Y tế đã đưa “tiêu chảy ở trẻ nhũ nhi” vào danh mục “bốn bệnh chính” (thiếu máu thiếu sắt dinh dưỡng, còi xương do thiếu vitamin D, tiêu chảy ở trẻ nhũ nhi, viêm phổi ở trẻ) để tập trung phòng trị.
Tiêu chảy có thể xảy ra quanh năm nhưng có hai đỉnh cao:
Vì sao trẻ nhũ nhi dễ bị tiêu chảy?
Nuôi dưỡng, chăm sóc không hợp lý có thể gây tiêu chảy không?
Nhiều phụ huynh cho rằng “càng cho ăn nhiều càng tốt”, không quan tâm sức chịu đựng của con, cưỡng ép con ăn. Hoặc nghĩ “con khóc là đói”, cứ liên tục cho bú, không tìm hiểu nguyên nhân khác. Hoặc cho nhiều đường trong sữa (“ngọt con mới thích”). Tất cả những cách đó đều có thể dẫn tới tiêu chảy… (còn tiếp).
3001 11
Một số phụ huynh nghĩ rằng bổ sung thức ăn dặm sẽ giúp trẻ no lâu, mau cứng cáp, nên cho thêm quá sớm, quá nhiều tinh bột hay chất béo. Đây đều là cách nuôi dưỡng sai lầm, vượt quá khả năng tiêu hóa của trẻ, dẫn đến tiêu chảy.
Vào mùa hè, thời tiết nóng bức, hoặc mùa đông sưởi ấm quá cao khiến trẻ đổ nhiều mồ hôi, dịch tiêu hóa tiết ra ít, hoạt tính men tiêu hóa giảm, vì thế khả năng tiêu hóa của trẻ trong mùa hè thường rất kém. Một số bé ngủ hay đạp chăn, nếu cha mẹ không kịp phát hiện, để bụng bị lạnh, hoặc có cha mẹ cho bé ăn kem, uống nước lạnh… thì kích thích lạnh cũng có thể làm tăng nhu động ruột, gây tiêu chảy không do nhiễm trùng.
Những nhiễm trùng trong ruột nào gây tiêu chảy?
Phần lớn tiêu chảy ở trẻ nhũ nhi là tiêu chảy nhiễm trùng, chiếm khoảng 70–80%. Mầm bệnh gồm virus, vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng… Trẻ nuôi nhân tạo hay bị tiêu chảy hơn do không nhận được IgA tiết (SIgA) từ sữa mẹ, khả năng kháng mầm bệnh xâm nhập ruột kém; thêm nữa, sữa bò, dê, các chế phẩm thay thế hoặc dụng cụ ăn uống đều dễ bị nhiễm bẩn, nên nguy cơ trẻ nuôi nhân tạo mắc nhiễm trùng ruột cao hơn.
Nhiễm trùng virus đường ruột chiếm khoảng 2/3 các trường hợp nhiễm trùng tiêu hóa, thường bùng lên thành ổ dịch nhỏ ở nhà trẻ hoặc trong gia đình. Trong đó, rotavirus là nguyên nhân chính, hay gây bùng phát tiêu chảy vào cuối thu đầu đông. Ngoài ra còn có coxsackie virus, echo virus, cytomegalovirus (CMV), adenovirus, norovirus (Norwalk virus)…
Nhiễm trùng vi khuẩn đường ruột chiếm khoảng 1/3, thường gặp nhất là E.coli. Đây là một “gia tộc” lớn, trong đó 4 nhóm E.coli có thể gây tiêu chảy cho trẻ gồm:
Loại E.coli gây bệnh (EPEC) thường thấy nhất ở nước ta, hay bùng phát tiêu chảy vào mùa hè. Ngoài ra, còn có Campylobacter jejuni, Salmonella gây sốt thương hàn ở chuột, Yersinia enterocolitica, Shigella gây lỵ, Vibrio cholerae (phẩy khuẩn tả)… Ký sinh trùng gây tiêu chảy gồm Giardia lamblia (trùng roi thìa), Entamoeba histolytica (amip lỵ), giun kim, giun móc…
Các vi khuẩn thường trú ở ruột già có tác dụng duy trì môi trường ổn định. Nếu dùng kháng sinh kéo dài, đặc biệt là kháng sinh phổ rộng như polymyxin, kanamycin, gentamicin, ampicillin…, các chủng nhạy cảm bị ức chế, chủng kháng thuốc bùng phát, gây mất cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột. Khi đó có thể dẫn tới viêm ruột do tụ cầu vàng, Proteus, Pseudomonas aeruginosa, Candida albicans…
Nhiễm trùng ngoài ruột có gây tiêu chảy được không?
Viêm đường hô hấp trên, viêm phế quản, viêm phổi, nhiễm khuẩn huyết, viêm tai giữa, viêm tiết niệu, nhiễm trùng da mưng mủ… đều là bệnh nhiễm trùng thường gặp ở trẻ nhỏ. Khi trẻ sốt, hoặc do độc tố của mầm bệnh, chức năng ruột cũng bị ảnh hưởng, gây tiêu chảy. Thêm nữa, mầm bệnh còn có thể xâm nhập vào ruột, biến thành nhiễm trùng đường ruột.
Cơ chế gây tiêu chảy là gì?
Tiêu chảy thể nhẹ có biểu hiện gì?
Tiêu chảy thể nhẹ thường do nuôi dưỡng, chăm sóc chưa đúng hoặc do nhiễm trùng ngoài ruột. Triệu chứng chính:
Tiêu chảy thể nặng có những biểu hiện gì?
Tiêu chảy thể nặng thường do nhiễm trùng đường ruột, khởi phát nhanh, hoặc từ thể nhẹ chuyển sang nặng. Không chỉ có triệu chứng tiêu hóa nặng, mà biểu hiện toàn thân cũng rất nghiêm trọng, đòi hỏi điều trị tích cực.
Bottom of FormĐẳng trương (đẳng áp) tính mất nước: Tức là mất nước và điện giải với tỷ lệ tương đương nhau (mất nước ≈ mất muối). Sau mất nước, áp suất thẩm thấu của máu không đổi so với trước khi mất nước, nồng độ natri trong huyết thanh khoảng 130–150 mEq/L, áp suất thẩm thấu huyết tương 280–310 mOsm/L. Kiểu mất nước này chiếm khoảng 40–80% các trường hợp tiêu chảy mất nước ở trẻ nhỏ.
Nhược trương (giảm áp) tính mất nước: Tức là mất điện giải nhiều hơn mất nước (mất muối > mất nước). Sau khi mất nước, áp suất thẩm thấu của máu thấp hơn lúc trước, nồng độ natri trong huyết thanh < 130 mEq/L, áp suất thẩm thấu huyết tương < 280 mOsm/L. Kiểu này chiếm khoảng 20–50%. Do dịch ngoại bào giảm nhiều, biểu hiện mất nước thường nặng; còn dịch nội bào lại tăng, có thể xuất hiện triệu chứng thần kinh như co giật, hôn mê, tăng áp lực nội sọ, phù não.
Ưu trương (tăng áp) tính mất nước: Tức là mất nước nhiều hơn mất điện giải (mất nước > mất muối). Sau mất nước, áp suất thẩm thấu máu cao hơn trước, nồng độ natri > 150 mEq/L, áp suất thẩm thấu huyết tương > 310 mOsm/L. Mất nước kiểu này chiếm 1–2% các trường hợp. Dịch ngoại bào mất tương đối ít nên biểu hiện mất nước nhẹ hơn, nhưng do tế bào bị thiếu nước, trẻ có thể sốt, khát, quấy khóc, tứ chi gồng cứng, thậm chí co giật.
(5) Thường gặp tình trạng toan chuyển hóa (acidose) do chuyển hóa
Tiêu chảy nặng có thể làm mất nhiều chất kiềm. Trẻ ăn uống kém, dẫn đến tăng dị hóa trong cơ thể, tạo nhiều thể keton (vốn có tính acid). Thêm vào đó, thể tích tuần hoàn giảm làm mô thiếu máu, sinh nhiều acid lactic; thận tưới máu kém, tiểu ít, acid tích lũy nhiều hơn, dẫn tới toan huyết. Vì vậy, trẻ tiêu chảy nặng đều có mức độ nhất định toan chuyển hóa, biểu hiện li bì, buồn ngủ hoặc hôn mê, da nhợt, nhịp thở sâu, nhanh, môi đỏ anh đào. Lượng CO₂ kết hợp trong máu (chỉ số bicarbonate) thường < 18 mEq/L (hay < 40 vol%).
(6) Thường có hạ kali máu
Nôn và tiêu chảy làm mất nhiều kali, trong khi trẻ ăn kém, nguồn cung kali cũng thiếu, do đó trẻ tiêu chảy nặng thường bị thiếu kali ở mức độ khác nhau. Nhất là khi tiêu chảy kéo dài hoặc trẻ suy dinh dưỡng, thiếu kali càng trầm trọng.
Trước khi bù dịch, do máu cô đặc và toan hóa (khi đó kali dịch chuyển từ nội bào ra ngoại bào), nên chưa thấy rõ thiếu kali, đo kali huyết thanh vẫn có thể bình thường. Khi bắt đầu truyền dịch, máu bị pha loãng, và dung dịch kiềm đưa vào khiến kali chuyển trở lại nội bào, lúc này hạ kali máu dần rõ, nồng độ < 3,5 mEq/L. Lâm sàng: uể oải, tim đập yếu, chướng bụng, nhu động ruột giảm, chi yếu, gân xương và phản xạ bụng yếu. Nếu thiếu kali nặng, tim to, loạn nhịp, liệt ruột, điện tâm đồ thấy sóng U cao, sóng T giảm hoặc âm, đoạn ST tụt.
(7) Có thể hạ calci máu
Nếu trẻ tiêu chảy lâu ngày, hoặc vốn đã suy dinh dưỡng hay còi xương hoạt động, thường giảm calci máu; tuy nhiên, trước khi bù dịch, do máu cô đặc, tình trạng toan huyết làm nồng độ ion calci cao hơn, nên chưa thấy biểu hiện lâm sàng. Khi truyền dịch, máu loãng ra, cộng thêm dịch kiềm làm ion calci giảm; nếu calci huyết thanh < 7,5 mg/dL (ion calci <4 mg/dL), trẻ sẽ tăng kích thích thần kinh cơ, đột ngột bứt rứt, co cứng tay chân, mắt nhìn đờ đẫn, co giật…
Rotavirus enteritis là gì?
Rotavirus ở người là mầm bệnh chính của tiêu chảy mùa thu-đông ở trẻ. Khoảng 70–80% trường hợp tiêu chảy trẻ em vào cuối thu-đông do rotavirus, thường gọi tiêu chảy mùa thu/mùa đông. Trẻ <2 tuổi, nhất là 6–12 tháng, dễ mắc. Trẻ bú mẹ ít bị hơn, do sữa mẹ chứa IgA tiết đặc hiệu.
Nguồn lây là bệnh nhân viêm ruột do rotavirus hoặc người mang virus. Sau khi phát bệnh 3–4 ngày, virus thải trong phân rất nhiều, khả năng lây mạnh. Bệnh lây chủ yếu đường phân – miệng, song do 30–50% trẻ giai đoạn đầu có triệu chứng hô hấp, nên người ta nghi ngờ có thể lây qua đường hô hấp. Người bị nhiễm sinh miễn dịch kéo dài, nhưng vì rotavirus chia 4 nhóm huyết thanh (A, B, C, D) không miễn dịch chéo, nên vẫn có khả năng tái nhiễm.
Thời gian ủ bệnh 1–3 ngày, khởi bệnh đột ngột. Hầu như trẻ nào cũng nôn, kéo dài 2–3 ngày; phần lớn sốt 38–40°C trong 1–4 ngày. 2 ngày sau bệnh khởi phát, trẻ tiêu chảy, khoảng 10 lần/ngày, phân kiểu nước hoặc canh trứng, vàng xanh hoặc trắng, có thể ít nhầy, không có mủ máu, không mùi tanh hôi. Soi kính phân có hạt mỡ, ít bạch cầu; quan sát bằng kính hiển vi điện tử thấy nhiều hạt rotavirus. Xét nghiệm ELISA có thể nhanh chóng tìm kháng nguyên rotavirus trong phân, chẩn đoán không khó.
Trẻ tiêu chảy nặng có thể mất nước nhẹ hoặc vừa, do thất thoát điện giải không nhiều, thường thuộc kiểu đẳng trương hoặc hơi ưu trương. Bệnh tự khỏi, dùng kháng sinh không có lợi. Phần lớn khỏi sau 4–7 ngày, ít trường hợp >20 ngày. Một số hiếm có thể đột tử, có thể do biến chứng viêm cơ tim.
Biểu hiện viêm ruột do E.coli?
Gồm bốn loại: EPEC (dòng gây bệnh), ETEC (sinh độc tố), EIEC (xâm nhập), EHEC (xuất huyết).
Biểu hiện viêm ruột do Campylobacter jejuni?
Đây là mầm bệnh quan trọng của tiêu chảy ở trẻ. Người mang vi khuẩn và gia súc gia cầm mang Campylobacter jejuni là nguồn lây. Chủ yếu lây đường phân – miệng qua nước, sữa, thức ăn nhiễm bẩn. Thường bùng phát vào tháng 7–9, trẻ 6 tháng – 2 tuổi dễ mắc.
Vi khuẩn xâm nhập niêm mạc ruột non (đoạn hỗng tràng) và hồi tràng, gây viêm, sung huyết, phù nề, rỉ dịch, loét. Có thể vào máu gây nhiễm khuẩn huyết, viêm tĩnh mạch huyết khối, viêm nội tâm mạc, viêm màng não, viêm túi mật… Thời gian ủ bệnh 2–7 ngày. Triệu chứng chính: sốt, tiêu chảy, đau bụng. Sốt là biểu hiện đầu, ~80% ca, thường 38°C. Tiêu chảy trên 10 lần/ngày, ban đầu phân nước, rồi dần có nhầy mủ máu, mùi hôi, soi thấy nhiều bạch cầu, hồng cầu, dễ nhầm lỵ trực khuẩn. Thường không mất nước rõ. Đau bụng quanh rốn và hạ vị, mức độ vừa, đôi khi nặng dễ nhầm viêm ruột thừa, lồng ruột.
Bệnh tự khỏi sau ~1 tuần, trẻ nhỏ dễ tái phát, có thể chuyển mạn. Nếu ở vùng có dịch lúc đó, trẻ bị sốt, đau bụng, phân mủ máu nên nghĩ đến bệnh này. Cấy phân nếu có Campylobacter jejuni khẳng định chẩn đoán.
Viêm ruột hồi-đại tràng do Yersinia enterocolitica có biểu hiện gì?
Yersinia enterocolitica mới được xác định gần đây là tác nhân tiêu chảy do vi khuẩn xâm nhập ruột (chủ yếu ở hồi tràng). Tài liệu nước ngoài ghi nhận nhiều trường hợp, trong nước còn ít. Thời gian ủ bệnh ~10 ngày, phần lớn ca nhẹ. Trẻ <5 tuổi thường thấy tiêu chảy cấp, đau bụng, sốt, buồn nôn, nôn. Phân lỏng, nhầy, hoặc mủ, khoảng 1/4 trường hợp có máu, mùi hôi. Soi thấy nhiều bạch cầu. Trẻ lớn có thể viêm hạch mạc treo, nếu đau bụng tập trung hố chậu phải dễ nhầm viêm ruột thừa. Thanh thiếu niên đôi khi viêm hồng ban nút, viêm khớp không mủ (trẻ nhỏ ít gặp). Bệnh tự khỏi sau 1–3 tuần, hiếm ca kéo dài vài tháng. Cấy phân thấy Yersinia enterocolitica sẽ chẩn đoán xác định.
Viêm ruột do tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) là gì?
Đây là bệnh do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) gây nên. Phần lớn xuất hiện ở những trẻ bị bệnh nền phải dùng kháng sinh dài ngày, dẫn đến loạn khuẩn đường ruột: các vi khuẩn nhạy cảm bị ức chế, còn tụ cầu vàng kháng thuốc thì bùng phát.
Tụ cầu vàng là vi khuẩn xâm lấn, lại có thể sinh độc tố, gây tổn thương nặng ở ruột. Vì vậy, viêm ruột do tụ cầu thường khởi phát đột ngột, triệu chứng nhiễm độc nặng, biểu hiện chính gồm:
Thể nhẹ: trẻ đi tiêu nhiều lần hơn bình thường, phân dạng sệt màu vàng hoặc vàng xanh.
Thể nặng: đi ngoài rất nhiều lần, có thể vài chục lần mỗi ngày, phân xanh đậm, nhiều nước, nhìn như nước biển, nên hay gọi là “phân dạng nước biển”. Phân có nhiều nhầy, mùi tanh, đôi khi kèm mảng giả mạc. Nếu lấy giả mạc bỏ vào nước muối sinh lý, phần niêm mạc ruột đã tróc có thể nổi lên — chi tiết này rất hữu ích trong chẩn đoán.
Trẻ tiêu chảy nặng mất nhiều dịch, kèm rối loạn điện giải – toan kiềm, có thể bị sốc. Khi quan sát phần nhầy trong phân, nhuộm soi trên kính hiển vi dễ thấy nhiều bạch cầu mủ. Nhuộm Gram cho thấy vô số cocci Gram dương tụ lại thành đám. Nuôi cấy phân ra tụ cầu vàng sẽ chẩn đoán xác định.
Viêm ruột giả mạc (Pseudomembranous colitis) là gì?
Viêm ruột giả mạc là biến chứng nặng của liệu pháp kháng sinh, tỉ lệ tử vong có thể tới 44%. May mắn là trong nhi khoa ít gặp hơn. Thuốc dễ gây viêm ruột giả mạc nhất là lincomycin, clindamycin, thực tế mọi kháng sinh đường uống đều có nguy cơ, nên có thuật ngữ “viêm đại tràng liên quan kháng sinh”.
Kháng sinh ức chế hệ vi khuẩn chí thường trú, tạo điều kiện cho Clostridium difficile (một loài kỵ khí sinh bào tử) tăng sinh, sinh độc tố, gây hoại tử niêm mạc đại tràng và hình thành giả mạc (gồm fibrin, tế bào hoại tử, ít tế bào viêm). Trường hợp nặng có thể thủng ruột, sốc nhiễm độc.
Triệu chứng thường gặp: tiêu chảy, sốt, đau bụng, chướng bụng, buồn nôn, nôn. Tiêu chảy thường xuất hiện trong khoảng ngày thứ 2–9 của liệu trình kháng sinh, phân lỏng hoặc nhầy, có thể lẫn máu, có mảng giả mạc. Soi phân, nuôi cấy kỵ khí có thể thấy C. difficile.
Thể nhẹ, ngừng kháng sinh thì sau 5–8 ngày các triệu chứng hết. Thể nặng, trẻ bị mất nước, mất nhiều albumin, gây thiếu protein, có thể tràn dịch màng bụng, màng phổi, phù tứ chi. Nếu tiêu chảy dữ dội không được chú ý, vẫn tiếp tục dùng kháng sinh, bệnh tiến triển thành megacolon nhiễm độc, viêm phúc mạc, nhiễm khuẩn huyết. Hiếm trường hợp sau khi ngừng kháng sinh 2–3 tuần mới khởi phát viêm ruột giả mạc.
Chẩn đoán dựa trên soi đại tràng sigma: Niêm mạc đỏ, phù nề, thấy nhiều đốm vàng trắng nổi lên (giả mạc). Nếu nghi ngờ, phải ngừng kháng sinh có liên quan.
Viêm ruột do nấm (fungal enteritis) là gì?
Viêm ruột do nấm thường do Candida albicans (nấm men) gây ra. Bình thường candida cũng có trong hệ vi khuẩn ruột, nhưng khi dùng kháng sinh phổ rộng lâu ngày hoặc corticoid, nấm dễ sinh sôi quá mức làm viêm ruột.
Trẻ dưới 2 tuổi gặp nhiều. Khởi phát có thể nhanh hoặc từ từ. Trẻ đi tiêu nhiều lần, phân vàng loãng, nhiều bọt, có nhầy, mùi mốc, đôi khi dạng “bã đậu”, nặng thì thành mủ hoặc có máu, trẻ sốt nhẹ, có thể nôn, chướng bụng, đau bụng. Một số ca trước đó đã bị nấm miệng (tưa lưỡi). Vùng hậu môn quanh có thể thấy mảng giả mạc vàng trắng.
Soi phân, giả mạc có nhiều bào tử nấm và sợi nấm giả. Cấy nấm nhiều lần dương tính với Candida albicans rất có giá trị chẩn đoán. Nếu kịp thời dừng kháng sinh/corticoid, dùng thuốc kháng nấm, bệnh sẽ khỏi nhanh.
Làm sao chẩn đoán toàn diện trẻ tiêu chảy?
1/Trước hết, chẩn đoán triệu chứng
Trước bù dịch, bác sĩ cần hỏi bệnh sử kỹ, khám lâm sàng, làm xét nghiệm sinh hóa (Na, K, Cl, HCO₃⁻ hoặc pH máu…) để đánh giá mức độ mất nước, kiểu mất nước, mức độ toan chuyển hóa, rồi bắt đầu bù dịch.Trong quá trình truyền, nếu trẻ co gi ật, cần đo Ca máu; nếu chướng bụng, nhu động ruột giảm, phải đo lại K máu hoặc làm điện tim, từ đó bù canxi hay kali thích hợp.
2/ Phân biệt tiêu chảy do nhiễm trùng và không nhiễm trùng Căn cứ tuổi, mùa, cách cho ăn, vệ sinh, đồ dùng có khử khuẩn không, có tiếp xúc ca bệnh tiêu chảy không, biểu hiện lâm sàng, tính chất phân, soi kính hiển vi…Phân phải lấy mẫu tươi tốt nhất, nếu trẻ chưa đi ngay thì có thể chèn ống vào trực tràng lấy phân, chọn phần nhầy hoặc mủ máu để làm phết soi. Chú ý quan sát bạch cầu, hồng cầu, đại thực bào, trứng, kén ký sinh trùng…Nếu là không nhiễm trùng, cần xác định loại thức ăn nào trẻ tiêu hóa kém: Mùi thối nặng → kém tiêu đạm (protein), mùi chua, nhiều bọt → kém tiêu tinh bột/đường, phân bóng, khó rửa → kém tiêu mỡ. Nếu nhiễm trùng, soi phân giúp xác định bản chất viêm ruột: Nhiều bạch cầu → viêm niêm mạc nặng, thường do vi khuẩn xâm nhập: EIEC, Shigella, Salmonella (thương hàn chuột), Campylobacter jejuni, Yersinia enterocolitica, tụ cầu vàng, C. difficile…Ít bạch cầu → tổn thương niêm mạc nhẹ, có thể vi khuẩn sinh độc tố (ETEC, vibrio cholerae) hoặc virus. Tìm thấy trứng/kén ký sinh trùng (Giardia lamblia, Entamoeba histolytica, giun đũa, giun kim, giun móc…) thì xác định do ký sinh trùng.
3/ Nhiễm trùng phải tìm mầm bệnh. Vì biểu hiện lâm sàng của tiêu chảy nhiễm trùng rất không đặc hiệu, không nên chỉ dựa triệu chứng để kết luận tác nhân. Nghi ngờ do vi khuẩn, cần nuôi cấy phân. Nghi ngờ do virus, cần soi kính điện tử hoặc miễn dịch điện tử, hoặc ELISA để phát hiện kháng nguyên rotavirus v.v. Nếu cơ sở không đủ điều kiện, dựa vào tính chất phân, mùa, soi kính hiển vi… để ước đoán: Trẻ <2 tuổi, mùa thu đông, phân như nước cháo, không mủ máu → rotavirus; Mùa hè, mùi tanh nồng → E.coli gây bệnh; Phân nhầy, mủ máu → lỵ trực khuẩn, campylobacter, salmonella…
4/ Chẩn đoán giai đoạn
Tiêu chảy cấp: bệnh dưới 2 tuần,
Tiêu chảy kéo dài: 2–8 tuần,
Tiêu chảy mạn: >2 tháng.
5/ Phân mức nhẹ-nặng
Nhẹ: <10 lần/ngày, lượng nước không nhiều, không mất nước hoặc mất nước nhẹ.
Nặng: ≥10 lần/ngày hoặc phân toàn nước rất nhiều, dẫn tới mất nước mức trung bình hoặc nặng.
Bệnh nào cần phân biệt với tiêu chảy ở trẻ nhỏ?
(4) Suy dinh dưỡng và thiếu máu
Nếu tiêu chảy nặng, kéo dài, cơ thể bị hao hụt lớn, không đủ nhiệt lượng, đạm và các dưỡng chất khác, trẻ rất dễ rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng. Để đánh giá mức độ suy dinh dưỡng, có hai chỉ số quan trọng:
Suy dinh dưỡng được chia làm 3 độ:
Nhiều trẻ cũng bị thiếu sắt, đạm… dẫn đến thiếu máu thiếu sắt, do tổng hợp hemoglobin bị ảnh hưởng. Biểu hiện: da, niêm mạc xanh xao, rõ nhất ở môi, niêm mạc miệng, móng tay; trẻ uể oải. Nếu xét nghiệm hemoglobin, hồng cầu, hematocrit… có thể chẩn đoán xác định.
(5) Thiếu vitamin A
Vitamin A tan trong dầu, mà trẻ tiêu hóa chất béo lại kém, nên trẻ bị tiêu chảy dễ dẫn đến thiếu vitamin A. Triệu chứng:
Cần làm gì để phòng ngừa tiêu chảy ở trẻ nhũ nhi?
Hiện chưa có vắc-xin hoặc chế phẩm phòng ngừa đặc hiệu, nên phải phối hợp nhiều biện pháp:
Trẻ tiêu chảy thì ăn uống ra sao?
Chế độ ăn rất quan trọng, giúp giảm tải cho đường tiêu hóa, cho ruột nghỉ.
Khi nào trẻ tiêu chảy cần dùng kháng sinh?
Không phải trường hợp nào cũng phải dùng kháng sinh. Phần lớn thể nhẹ là do nuôi dưỡng, chăm sóc chưa hợp lý, thuộc nhóm không nhiễm trùng, dùng kháng sinh không những vô ích mà còn hại, vì đa số là kháng sinh phổ rộng, dễ gây loạn khuẩn làm nặng tiêu chảy. Viêm ruột do virus cũng không dùng kháng sinh.
Kháng sinh chỉ dùng trong tiêu chảy nhiễm trùng do vi khuẩn (nhất là vi khuẩn xâm nhập) hoặc nấm. Vì thế, trẻ tiêu chảy cần soi phân, cấy phân, nếu phát hiện vi khuẩn gây bệnh thì làm kháng sinh đồ, chọn kháng sinh phù hợp. Trước khi có kết quả, bác sĩ sẽ dựa vào mùa, tuổi, triệu chứng, soi phân… mà ước đoán mầm bệnh, kê kháng sinh có thể hiệu quả, khi có kết quả sẽ điều chỉnh sau.
Cách chọn kháng sinh cho trẻ tiêu chảy thế nào?
Có rất nhiều kháng sinh, loại nào phù hợp với tiêu chảy? Dưới đây là tóm lược:
2986 15
(3) Viêm ruột do Campylobacter jejuni
Vi khuẩn Campylobacter jejuni nhạy cảm với nhóm aminosid và một số thuốc như nifuroxazide (痢特灵), erythromycin, chloramphenicol. Erythromycin có tác dụng đặc hiệu, trong nước dùng gentamicin và nifuroxazide cũng cho kết quả tốt. Liệu trình 5 ngày.
(8) Viêm ruột giả mạc (pseudomembranous colitis)
Ngưng kháng sinh ban đầu, chọn vancomycin hoặc metronidazol (灭滴灵).
Uống dung dịch bù nước (ORS) có thể trị mất nước được không?
Phương pháp bù dịch đường uống (ORS) là cách đơn giản, rẻ tiền, hiệu quả mà Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khuyến nghị từ 1971, hiện được triển khai rộng rãi trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Dự kiến đến năm 1990, hơn 80% trẻ tiêu chảy sẽ được dùng ORS.
Cơ chế: Niêm mạc ruột non có “chất mang glucose – natri” (carrier). Trên carrier này có 2 thụ thể: 1 cho glucose, 1 cho Na⁺. Chỉ khi hai thụ thể đồng thời gắn glucose và Na⁺, carrier mới hoạt động, kéo cả glucose và Na⁺ vào trong tế bào biểu mô. Bên trong màng tế bào, nồng độ Na⁺ thấp hơn trong lòng ruột, nên Na⁺ đi vào theo khuếch tán, kéo theo glucose. Sau khi vào tế bào, glucose khuếch tán xuống kẽ, Na⁺ được bơm đẩy xuống kẽ cùng Cl⁻; áp suất thẩm thấu vùng kẽ tăng, nước từ nội bào theo đó di chuyển ra, rồi vào máu. WHO dựa trên cơ chế này để đưa ra công thức ORS (Oresol).
ORS (Oral Rehydration Salts) được pha chế thế nào?
Công thức ORS chuẩn:
Điện giải: Na⁺ ~ 90 mEq/L, K⁺ 20, Cl⁻ 80, HCO₃⁻ 30, Glucose ~111 mmol/L, tạo dung dịch 2/3 đẳng trương. Không có glucose bột, có thể thay bằng đường mía (sucrose) nhưng phải gấp đôi. Đường mía quá ngọt dễ gây nôn. Bicarbonate có thể thay bằng 2,9 g sodium citrate.
Ưu điểm:
Công thức cải tiến: Thay glucose 20 g bằng 80 g bột ngũ cốc (gạo, bắp, cao lương…), gọi là “ORS ngũ cốc”. Ưu điểm: dễ kiếm, ít gây nôn, phân khuôn nhanh, giàu calo, vitamin, khoáng. Khả năng hấp thu điện giải tốt hơn.
Đối tượng nào dùng ORS?
Hầu hết trẻ tiêu chảy mất nước nhẹ – vừa đều dùng được. Vì ORS có nồng độ điện giải khá cao, nên khi đã bù xong hoặc trẻ ngưng tiêu chảy, phải ngưng ORS để tránh tăng natri máu.
Riêng rotavirus đa phần gây đẳng/trội ưu trương, dùng ORS pha chuẩn sẽ hơi nhiều điện giải. Nên pha loãng 1/3–1/2, tức dùng 2 phần ORS + 1 phần nước hoặc 1 phần ORS + 1 phần nước để giảm nồng độ Na xuống ~45–60 mEq/L, K ~10–13.3, Cl ~40–53.4, HCO₃⁻ ~15–20, glucose ~56–74 mmol/L. Nhờ đó vẫn bảo toàn được cơ chế hấp thu Na⁺-glucose.
Cách dùng ORS bù dịch ra sao?
Khi điều trị mất nước do tiêu chảy bằng ORS, liều lượng uống được tính như sau:
Trên thị trường có gói ORS:
Khi nào truyền dịch tĩnh mạch?
Truyền IV dành cho trẻ mất nước nặng hoặc không thể uống đủ ORS. Quy tắc cơ bản “3 định, 3 trước, 3 thấy”:
(1) Định lượng:
(2) Định thành phần:
(3) Định tốc độ:
(Nguồn 2938 16)
(4) Bổ sung Kali sau khi trẻ có nước tiểu
Trong quá trình truyền dịch, khi trẻ đã bắt đầu có nước tiểu, cần bổ sung KCl (kali clorid). Nếu mức độ nhẹ, có thể cho uống KCl liều 150–300 mg/kg/ngày (tương đương uống dung dịch KCl 10% với liều 1,5–3 ml/kg/ngày), chia 3 lần. Nếu trẻ bị hạ kali máu rõ, truyền tĩnh mạch liều 300–450 mg/kg/ngày (với dung dịch KCl 15% thì tương đương 2–3 ml/kg/ngày), chia đều vào lượng dịch cần truyền, giữ nồng độ KCl trong dịch khoảng 0,15–0,3%. Khi khẩu phần ăn của trẻ đã đạt ít nhất một nửa so với chế độ ăn bình thường, có thể ngừng bổ sung kali.
(5) Khi hạ calci máu rõ, cần bổ sung calci
Trong lúc truyền dịch, trẻ suy dinh dưỡng hoặc còi xương tiến triển dễ xuất hiện hạ calci (biểu hiện: tăng trương lực tay chân, co giật). Lúc này cần truyền canxi gluconat 10% liều 2 ml/kg/lần, hòa với thể tích tương đương glucose 5–10%, truyền tĩnh mạch 1–2 lần/ngày, đến khi calci về bình thường. Sau đó chuyển sang uống canxi gluconat hoặc canxi lactat, mỗi lần 0,5 g, ngày 2 lần, kết hợp vitamin D 2000–5000 đơn vị/ngày trong 1 tháng, rồi giảm về liều dự phòng 400 đơn vị/ngày.
(6) Bù dịch ngày thứ hai
Sau 24 giờ, hầu hết trẻ đã hết mất nước, nên ngày thứ hai chủ yếu bù tiếp tục mất và nhu cầu sinh lý. Phần “tiếp tục mất” dùng 1/3–1/2 đẳng trương, phần “nhu cầu sinh lý” dùng 1/4–1/5 đẳng trương. Tổng lượng tùy theo trẻ đã ăn được bao nhiêu, sao cho cả ăn và truyền cộng lại đạt 60–80 ml/kg/ngày. Lượng này nên truyền đều trong 12–24 giờ, nếu trẻ uống được thì ưu tiên đường uống.
(7) Lưu ý khi truyền tĩnh mạch
Điều trị biến chứng kèm theo ở trẻ tiêu chảy
Khi nào cần điều trị triệu chứng cho trẻ tiêu chảy?
Nhiều phụ huynh muốn bác sĩ cầm tiêu chảy ngay. Tâm lý lo lắng có thể hiểu, nhưng bác sĩ không chấp thuận sớm. Vì giai đoạn cấp, phân chứa rất nhiều vi khuẩn và độc tố. Nếu dùng thuốc cầm, ruột giảm nhu động, phân ứ đọng, vi khuẩn – độc tố hấp thu nhiều, hại cho trẻ.
Chỉ khi bệnh kéo dài, không còn nhiễm độc, xét nghiệm phân thấy ít bạch cầu, lúc đó mới dùng tannalbumin (0,15–0,3 g x 3 lần/ngày) hoặc bismuth subcarbonat 0,15–0,3 g x 3 lần/ngày.
Nôn mửa thường là dấu hiệu toan chuyển hóa. Khi truyền dịch kiềm (có bicarbonate, lactate…) thì đa số trẻ bớt nôn. Nếu nôn dai dẳng, đã loại trừ các bệnh như tắc ruột, có thể tiêm diphenhydramine (冬眠灵) chống nôn.
Chướng bụng là triệu chứng thường gặp, do vi khuẩn lên men sinh hơi quá nhiều. Thụt hơi bằng ống thông giúp giảm bớt. Nếu bụng ngày càng trướng, cần đo K máu; nếu K < 3,5 mEq/L hoặc có thay đổi trên ECG, nghĩa là hạ K, truyền tĩnh mạch KCl, bụng có thể xẹp dần. Nếu tiêu chảy nhẹ, có thể uống men pepsin 2,5–5 ml x 3 lần/ngày, hoặc men vi sinh (乳酶生) 0,3 g x 3 lần/ngày.
Tiên lượng tiêu chảy ở trẻ như thế nào?
Ở nước ta, trẻ nhũ nhi mắc tiêu chảy khá cao. Ngoại trừ một số chuyển thành kéo dài hay mạn, đa số khỏi trong vòng 2 tuần, tỉ lệ tử vong do tiêu chảy rất thấp, khoảng 0,4‰, nhờ bệnh tả ít xảy ra và điều trị, chăm sóc y tế tốt.
Kết cục phụ thuộc mấy yếu tố:
Vì sao xảy ra tiêu chảy kéo dài (2–8 tuần) hoặc mạn tính (>8 tuần)?
Khoảng 80% trẻ bị tiêu chảy khỏi trong 2 tuần. Khoảng 20% kéo dài dù đã điều trị, gọi là tiêu chảy kéo dài (2–8 tuần), hoặc mạn tính (>8 tuần), trong đó 1–3% là thể khó chữa, kèm suy dinh dưỡng nặng, ảnh hưởng phát triển. Mặc dù ít hơn tiêu chảy cấp, nhưng nguy hại lớn. Khoảng một nửa số trẻ tử vong do tiêu chảy là vì thể kéo dài, mạn và biến chứng.
Nguyên nhân khá phức tạp, chủ yếu:
Bottom of Form(4) Bệnh Giardia (trùng roi thìa đường ruột)
Còn gọi là bệnh do Lamblia giardia (蓝氏贾第虫), ký sinh tại đoạn trên ruột non, tỷ lệ mắc khoảng 1–3%. Trẻ nuốt phải bào nang của Giardia (trùng roi thìa), đến tá tràng bào nang biến thành thể hoạt động, bám lên niêm mạc ruột bằng đĩa hút để hút chất dinh dưỡng, gây teo nhung mao, giảm men tiêu hóa đường đôi, làm suy giảm hấp thu. Nhiều trẻ không có triệu chứng. Nếu lượng ký sinh trùng quá nhiều, có thể gây tiêu chảy từng đợt hoặc mạn tính. Phân thường nhiều, có nhầy, mùi hôi. Nặng hơn trẻ có thể suy dinh dưỡng, thiếu máu, phù. Soi kính hiển vi phân thấy bào nang hoặc thể hoạt động của Giardia mới xác định được bệnh.
(5) Mất cân bằng hệ vi khuẩn chí ở ruột (loạn khuẩn)
Việc lạm dụng kháng sinh khiến hệ vi khuẩn chí thường trú bị ức chế, các vi khuẩn “đi qua” (vi khuẩn cơ hội) sinh sôi, gây rối loạn hệ vi sinh, dẫn đến tiêu chảy cấp hoặc mạn. Phân có dạng nước hoặc nhão, nhiều bọt. Khi soi kính có thể thấy cầu, trực khuẩn thay đổi tỷ lệ, nuôi cấy thấy “vi khuẩn quá cảnh” mọc tràn lan. Nặng hơn có thể thành viêm ruột do tụ cầu vàng hay nấm.
(6) Suy dinh dưỡng – yếu tố nguy cơ gây tiêu chảy kéo dài/mạn
Trẻ bị tiêu chảy nhiễm trùng cấp, nếu dinh dưỡng và miễn dịch tốt thì mau loại bỏ mầm bệnh, niêm mạc ruột nhanh hồi phục, bệnh nhanh khỏi. Nếu suy dinh dưỡng, đề kháng kém, mầm bệnh không được diệt trừ, niêm mạc tổn thương liên miên, tiêu chảy khó dứt. Nói cách khác, suy dinh dưỡng – miễn dịch kém, cộng với mầm bệnh kéo dài, niêm mạc cứ bị hại, chính là gốc rễ dẫn đến tiêu chảy kéo dài, mạn.
Điều trị tiêu chảy kéo dài và mạn tính thế nào?
Nhận thức của Đông y về nguyên nhân và cơ chế tiêu chảy ở trẻ
Đông y gọi tiêu chảy là “tả lỵ” hoặc “tả hạ”, chủ yếu do tỳ vị rối loạn làm phân lỏng hoặc nước, tăng số lần đi. Gồm các nguyên nhân:
Ngoài ra, do trẻ tạng phủ “chưa chín”, bệnh dễ biến đổi. Tiêu chảy kéo dài dễ làm hao cả âm lẫn dương.
Cách phân biệt và điều trị “Thương thực tả” (tiêu chảy do ăn uống quá mức) trong Đông y
Biểu hiện lâm sàng:
Phép trị:
Cách phân biệt và điều trị “Phong hàn tả” (tiêu chảy do gió lạnh) trong Đông y
Triệu chứng: Bụng đầy đau, thích ấm thích ấn, phân loãng kèm bọt, màu nhạt, không mùi, ruột sôi, khát ít, có thể ớn lạnh, sốt nhẹ, lưỡi hồng, rêu trắng mỏng.
Phép trị: Sơ phong tán hàn, hóa thấp hòa trung.
Dùng Hoắc Hương Chính Khí Tán gia giảm: Hoắc hương, Tô diệp, Bạch chỉ, Phúc bì (vỏ cau), Hậu phác, Trần bì, Bán hạ, Sinh khương, Phục linh, Thương truật… Sắc nước chia 3 lần/ngày. Nếu tiểu ít, thêm trạch tả, trư linh, xa tiền tử (bọc); đau quặn bụng, ruột sôi, thêm gừng khô (煨姜), sa nhân (cho vào lúc sau), thảo đậu khấu…
Cách phân biệt và điều trị “Thấp nhiệt tả” (tiêu chảy do thấp và nhiệt) trong Đông y
Triệu chứng: Đi ngoài gấp, phân loãng nhiều nước, vàng sẫm, hôi, có thể kèm ít nhầy, hậu môn nóng rát đỏ, đau bụng quặn, quấy khóc, khát nhiều, kém ăn, buồn nôn, mệt mỏi, có thể có hoặc không sốt, tiểu ít vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng nhầy.
Phép trị: Thanh nhiệt lợi thấp, hòa trung chỉ khát.zz
Dùng Cát Căn Cầm Liên Thang gia giảm: Cát căn, Hoàng cầm, Hoàng liên, Xa tiền tử (bao), Thương truật, Mộc hương… Sắc uống. Nếu sốt cao khát nước, thêm Thạch cao (nấu trước), Hàn thủy thạch (nấu trước); tiểu ít màu nước tiểu đỏ, thêm Lục Nhất Tán; đau bụng nhiều, thêm Bạch thược, Mộc hương; nôn nhiều, thêm Hoắc hương, Bán hạ, Trúc nhự; nếu lưỡi dày, khát không thích uống, phân như canh trứng nhạt, không quá hôi, thì nên dùng bài hóa đờm, táo thấp (Hoắc Hương Chính Khí Tán + Ngũ Linh Tán), tránh quá nhiều vị đắng lạnh kẻo ứ thêm thấp.
Tiêu chảy do tỳ vị hư yếu (脾胃虚弱泻) – chẩn đoán và điều trị như thế nào?
Biểu hiện lâm sàng: Bệnh thường diễn tiến lâu, đợt tiêu chảy khi nặng khi nhẹ, hoặc tái phát ngắt quãng, phân loãng, nhão, màu nhạt, ít mùi hôi, kèm thức ăn không tiêu. Trẻ dễ đi ngoài ngay sau bữa ăn; nếu ăn nhiều thì bụng đầy, đại tiện nhiều. Thường biếng ăn, mặt hơi vàng úa, mệt mỏi, cơ thể gầy, lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng.
Phép trị: Kiện tỳ ích khí, trợ vận hóa ẩm (tăng cường chức năng tỳ vị, giúp cơ thể thoát ẩm).
Phương: Dùng Tham Lăng Bạch Truật Tán (参苓白术散) gia giảm, gồm: Đảng sâm, Bạch truật, Phục linh, Hoài sơn (Sơn dược), Ý dĩ nhân, Sơn tra sao, Thần khúc sao, Trần bì, Sa nhân (cho sau). Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần.
Nếu đôi lúc đau bụng, thêm Mộc hương, Hương phụ. Nếu lưỡi rêu trắng nhầy, thêm Thương truật, Hậu phác. Phân loãng trong, tiểu trong, đau bụng âm ỉ, thêm Pháo khương (Gừng sao), Nhục đậu khấu, Ích trí nhân. Khí suy yếu, không ngừng tiêu chảy, thậm chí sa trực tràng (thoát giang), thì thêm Hoàng kỳ, Chích Thăng ma, Cát căn. Có kèm thấp nhiệt (lưỡi vàng, đắng miệng, phân lẫn nhầy đặc), thêm Hoàng liên, Mã xỉ hiện (rau sam).
Tiêu chảy do tỳ thận dương hư (脾肾阳虚泻) – chẩn đoán và điều trị như thế nào?
Biểu hiện lâm sàng: Tiêu chảy lâu ngày, dai dẳng, phân lỏng trong, không mùi, thậm chí “hạ thanh cốc” (đi ra nguyên thức ăn), có thể sa trực tràng. Trẻ sợ lạnh, tay chân lạnh, mặt xanh tái, ăn kém, bụng mềm, thích ấn, tinh thần uể oải, có khi lúc ngủ mắt không nhắm kín. Lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng.
Phép trị: Bổ tỳ ôn thận, điều trung chỉ tả (làm ấm, vững bền tỳ thận, ngừng tiêu chảy).
Phương: Dùng Phụ Tử Lý Trung Thang phối Tứ Thần Hoàn gia giảm, gồm: Phụ tử chế (Chín), Pháo khương, Ngũ vị tử, Mễ hạp (vỏ quả), Ngô thù du, Đảng sâm, Bạch truật, Bổ cốt chi, Nhục đậu khấu… Sắc 1 thang/ngày, chia 3 lần. Tiêu chảy kéo dài không dứt, thêm Hà thủ ô (诃子), Thạch lựu bì, Xích thạch chi. Sa trực tràng, thêm Hoàng kỳ, Chích Thăng ma.
Biểu hiện “thương âm” – “thương dương” (mất âm, mất dương) do tiêu chảy và cách trị
Chứng thương âm (伤阴) Lâm sàng: Đi nhiều, không ngừng, phân toàn nước, tiểu ít, có thể nôn nhiều, da khô, hốc mắt, thóp trước lõm, khóc không ra nước mắt, mệt lả hoặc bứt rứt, khát nhiều, răng miệng khô, môi đỏ rực, lưỡi đỏ sẫm (thậm chí có gai).
Phép trị: Toan cam hóa âm, sinh tân (thêm dịch).
Phương: Dùng Liên Mai Thang (连梅汤) gia giảm: Ô mai, Bạch thược, Mạch môn, Sinh địa, Thạch hộc, Cát căn, Hoàng liên, Sinh cam thảo… Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần; thêm Hồng sâm cô đặc, cho uống nhiều lần.
Chứng thương dương (伤阳)
Lâm sàng: Tiêu chảy kịch phát hoặc kéo dài, phân loãng như nước, mặt xám, cực kỳ mệt, thờ ơ, khóc yếu, tay chân lạnh, da ướt lạnh, tiểu ít trong, lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch chìm yếu.
Phép trị: Ôn bổ hồi dương, cứu nghịch cố thoát.
Phương: Dùng Sâm Phụ Long Mẫu Thang (参附龙牡汤) gia giảm: Nhân sâm, Phụ tử, Long cốt nung, Mẫu lệ nung. Sắc uống ngày 1 thang, uống nhiều lần. Nếu tiêu chảy không cầm, thêm Can khương, Bạch truật.
Nếu trẻ cùng lúc “âm dương lưỡng thương” thì cần vừa “hồi dương cứu nghịch” vừa “sinh tân, cố âm”; có thể kết hợp Sâm Phụ Long Mẫu Cứu Nghịch Thang với Liên Mai Thang gia giảm.
Dùng châm cứu chữa tiêu chảy ở trẻ
Chia 2 loại: cấp và mạn.
(1) Tiêu chảy cấp
①Thể hàn: Ruột kêu, đau rõ, thích ấm, thích ấn, phân lỏng nước, nhạt, tiểu trong, cơ thể lạnh, không khát (hoặc thích uống ấm), đôi khi tay chân lạnh. Lưỡi rêu trắng ướt, mạch trầm trì.
Châm: Đại trường du, Thiên khu, Thượng cự hư, Tiểu trường du, Hạ cự hư, Hợp cốc; gia cứu ấm Trung quản, Thần khuyết. Nếu tỳ hư nặng, thêm Túc tam lý, Quan nguyên (bổ). Thức ăn ứ đọng, thêm Kiến lý (thăng bằng), nôn, thêm Nội quan (bình bổ bình tả), cứu ấm Trung quản, kèm ngoại cảm phong hàn, thêm Đại chùy, Phong môn (bổ ấm).
②Thể nhiệt: Đau bụng quặn, muốn đi ngay, phân vàng loãng hôi, hậu môn nóng rát, tiểu ít đỏ, có thể kèm sốt, phiền táo, lưỡi vàng nhờn, mạch căng nhanh.
Châm: Đại trường du, Thiên khu, Thượng cự hư, Tiểu trường du, Hạ cự hư, Hợp cốc, Nội đình… (tả, làm mát). Nếu tiêu chảy nặng, kèm hao âm, thêm Trường cường, Âm lăng tuyền, hoặc kết hợp y học hiện đại truyền bù dịch; Có tích trệ, thêm Kiến lý (bình bổ tả), Vị du (bình bổ tả).
(2) Tiêu chảy mạn
①Tỳ hư: Bệnh lâu, trẻ mệt, ăn kém, sắc mặt xanh, sa trực tràng, bụng hơi đầy, mạch nhu hoãn hoặc hư nhỏ.
Châm bổ: Tỳ du, Trung quản, Khí hải, Thiên khu, Túc tam lý, Tam âm giao… Nếu kèm ngoại cảm, thêm Đại chùy, Phong trì (bổ ấm). Nếu ứ trệ thức ăn, thêm Hạ quản, Kiến lý… (bổ ấm).
②Thận hư: Trẻ đi tiêu lỏng tầm 2–3 lần vào “năm canh” (gần sáng), phân nước, mặt sạm, tứ chi sợ lạnh, lưng gầy yếu, mạch trầm tế vô lực.
Châm bổ: Tỳ du, Trung quản, Khí hải, Thiên khu, Túc tam lý, Tam âm giao, Thận du, Mệnh môn, Quan nguyên… Kèm ngoại cảm, thêm Đại chùy; kèm ứ thức ăn, thêm Hạ quản, Kiến lý… (bổ ấm).
Dùng xoa bóp (thôi nã) trị tiêu chảy ở trẻ
Thường chọn:
Xoa bụng 100–300 lần (~3 phút): Giúp tiêu thực, hòa vị, kiện tỳ, cầm tiêu chảy. Trị đau bụng, chướng bụng, khó tiêu, nôn…
Xoay (chà) rốn 100–300 lần (~3 phút): Thu liễm, cố sáp. Trị đau bụng, tiêu chảy.
Bấm day thiên khu 100–300 lần (~3 phút): Hành khí giảm đau. Trị đầy bụng, khó tiêu.
Nhấc (nắm) góc bụng 3–5 lần: Hành khí, giảm đau, cố ruột. Trị tiêu chảy, đau bụng.
Day bấm tỳ du, vị du: Kiện tỳ, hòa vị, ích khí cầm tiêu.
Đẩy Thất tiết cốt (xương cùng): Giúp “thăng thanh, giáng trọc”. 100–300 lần. Dùng cho tiêu chảy, sa trực tràng, táo bón.
Xoay huyệt Quy vĩ 100–300 lần: Trị sa trực tràng, táo bón, tiêu chảy…
Đẩy kinh tỳ 100–300 lần (~3 phút): Kiện tỳ, điều vị, ích khí chỉ tả.
Nếu kèm khí hư, thêm bấm Túc tam lý 100–300 lần, xoa bụng 100–500 lần, bấm Quan nguyên 100–500 lần.
Nếu có tích trệ thức ăn, thêm bấm Trung quản 100–500 lần, Kiến lý 100–300 lần.
Nếu hư hàn, đẩy Thượng tam quan 100 lần, xoa Ngoại lao cung 100–300 lần.
Món ăn hỗ trợ (thực liệu) cho trẻ tiêu chảy
Khi trẻ uống thuốc, nếu cha mẹ biết vài phương pháp ẩm thực hỗ trợ, sẽ giúp hiệu quả nhanh hơn. Gợi ý:
①Cho trẻ yếu dùng sơn dược (Hoài sơn) 60 g nấu với ~200 ml nước, uống 2–3 lần/ngày, mỗi lần 40–60 ml, kiện tỳ trừ thấp.
②Cháo ý dĩ: 15 g ý dĩ (đã rang), 30 g gạo, nấu cùng lượng nước vừa đủ. Ban đầu cho trẻ ăn ít, rồi tăng dần.
③Cháo bào khương (gừng sao): Dùng 5 g gừng khô sao (pháo khương), 30 g gạo, nấu chín, vớt gừng ra, thêm chút muối hoặc đường tùy thích. Phù hợp với tiêu chảy do tỳ vị hư hàn.
④Cháo nếp “cố tràng”: 30 g nếp rang + 15 g Hoài sơn, nấu cháo, nêm ít tiêu trắng, đường, ăn ấm. Kiện tỳ ấm vị, chỉ tả, hợp với tỳ vị hư hàn.
⑤Cháo đậu đỏ: 20 g đậu đỏ + 20 g gạo trắng + ít đường. Nấu nhừ đậu đỏ rồi cho gạo vào thành cháo, thêm đường ăn. Dùng cho tiêu hóa kém đơn giản.
⑥Cháo đậu ván + kê: 30 g đậu ván, 10 g Đảng sâm, 50 g kê. Đậu ván + Đảng sâm nấu lấy nước bỏ bã, cho kê vào nấu cháo. Dùng cho tỳ hư gây tiêu chảy.
⑦Cháo Khiếm thực (hạt bo bo): 50 g khiếm thực + đường. Nấu nhừ. Trị tỳ hư tiêu chảy.
⑧Cháo Hoài sơn – Biển đậu : 30 g Hoài sơn tươi gọt lát, 15 g bạch đậu ván, 30 g gạo, ít đường. Nấu gạo + đậu ván chín rồi cho Hoài sơn, ăn lúc nóng. Hợp tiêu chảy thể thấp nhiệt.
⑨Thang táo đại – Mộc hương: 6 quả Đại táo, 4 g Mộc hương, bỏ hột đại táo nấu sôi vài dạo, rồi thêm Mộc hương, sôi nhẹ, bỏ bã, uống ấm. Hòa tỳ vị, táo thấp chỉ tả, dùng cho tỳ hư khí trệ, tiêu chảy lâu.
Ly Trường Xuân dịch