Tài liệu tham khảo: “Đi cầu ra máu ở trẻ em || Phân có màu sắc bất thường”
Những điểm quan trọng để phân biệt, chẩn đoán “đi cầu ra máu”:
Khi đi cầu, máu bắn thành tia hoặc sau khi đi xong nhỏ giọt máu tươi, máu không trộn lẫn phân, lượng máu nhiều hoặc ít khác nhau, kèm cảm giác có dị vật ở hậu môn hoặc đau nhói dữ dội: đây thường là bệnh trĩ.
Lượng máu ra ít, màu đỏ tươi, dạng sợi bao phủ trên bề mặt phân; đau khi đi cầu, sau đó cũng vẫn đau ở nhiều mức độ: thường là nứt kẽ hậu môn.
Đi cầu ra máu gián đoạn, thường lượng không nhiều, máu dính trên bề mặt phân, màu đỏ tươi, không lẫn vào phân. Đôi khi phân trở nên nhỏ hơn bình thường, dạng dẹt hoặc có vết lõm một bên: cần nghĩ tới polyp trực tràng hoặc polyp đại tràng.
Khi bệnh tiến triển, lượng máu tăng dần, thường kèm tiêu chảy, sụt cân, thiếu máu; phân thường lẫn nhầy đặc, mùi tanh khó chịu: thường là ung thư trực tràng, hay gặp ở người trung niên, cao tuổi.
Thói quen đi cầu thay đổi (tiêu chảy hoặc táo bón), phân có dạng mủ – máu hoặc lẫn nhầy – máu: cần nghĩ đến ung thư đại tràng.
Khởi phát đột ngột, kèm đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn, nôn; lượng máu ít, thường trộn với phân, đi cầu nhiều lần, có cảm giác mót rặn, ấn bụng đau: thường là lỵ do vi khuẩn hoặc lỵ amip.
Xuất huyết thường từng đợt, lượng máu ít; trong phân có mủ hoặc nhầy; đa phần kèm đau bụng, tiêu chảy và mót rặn: thường là viêm loét đại tràng.
Lượng máu ra ít, kèm xu hướng chảy máu ở các bộ phận khác của cơ thể: nên nghĩ tới các bệnh về máu (ví dụ bạch cầu cấp – mạn, bệnh ưa chảy máu, giảm tiểu cầu, suy tủy…).
Phân đen như nhựa đường, thường kèm nôn ra máu: là dấu hiệu xuất huyết tiêu hóa trên, ví dụ xơ gan tăng áp tĩnh mạch cửa, loét dạ dày – tá tràng.
Màu phân không thay đổi, nhưng xét nghiệm “tiềm máu trong phân” dương tính: đó là “phân ẩn máu”, thường do xuất huyết nhẹ, rải rác trong đường tiêu hóa.
2/ Những bệnh nào cần nghĩ đến khi thấy “phân lẫn máu”?
Khi phát hiện dấu vết máu trong phân, tức là có chảy máu ở đường tiêu hóa dưới (đặc biệt đại tràng, trực tràng, hậu môn) – một dấu hiệu rất quan trọng, gợi ý tổn thương thực thể ở ruột, cần cảnh giác và chẩn đoán kịp thời. Những bệnh lý thường cần nghĩ đến bao gồm:
1/Bệnh hậu môn
Trĩ (nội trĩ): Máu tươi, không đau. Giai đoạn đầu (độ I) đặc trưng là ra máu khi đi cầu; có khi nhỏ giọt hoặc bắn tia; hoặc chỉ dính ít máu trên giấy vệ sinh. Ở độ II, trĩ sa ra ngoài và thường ít chảy máu hơn. Nứt kẽ hậu môn: Đi cầu ra máu ít, đỏ tươi, kèm đau dữ dội khi hoặc sau đi vệ sinh; đau có thể dai dẳng theo chu kỳ.Ung thư ống hậu môn: Triệu chứng chính là đi cầu ra máu kèm đau, tăng đau trước khi đi cầu.
2/ Bệnh trực tràng Polyp trực tràng: Máu đỏ tươi, số lượng ít, xuất hiện từng đợt. Thường gặp ở trẻ em. Ung thư trực tràng: Tăng số lần đi cầu, phân dẹt hẹp, kèm nhầy và máu. Bệnh nhân có cảm giác mót rặn (đi chưa hết phân), giai đoạn đầu có thể máu tươi hoặc sẫm, không nhiều; giai đoạn muộn có dịch nhầy hôi, sụt cân.
Viêm trực tràng do xạ trị: Cần lưu ý tiền sử xạ trị.
3/ Bệnh kết tràng
Polyp đại tràng:
Polyp dạng “thời thơ ấu” (juvenile polyp) thường gặp ở trẻ, gây chảy máu mạn, có thể kèm suy dinh dưỡng, thiếu máu, chậm phát triển. Có thể kèm dị tật bẩm sinh (ruột xoay bất thường, thoát vị rốn, não úng thủy…).
Polyp gia đình: Có tiền sử gia đình. Triệu chứng thường là đi cầu ra máu, sa trực tràng, chậm phát triển.
Hội chứng Cronkhite – Canada (CCS): Polyp dạng hamartoma, thường ở người lớn, kèm tiêu chảy (phân nhiều, có mỡ), đau bụng, chán ăn, buồn nôn, suy giảm vị giác, giảm ham muốn… Cùng với các dấu hiệu biến đổi móng tay – chân, rụng tóc, tăng sắc tố da.
Ung thư kết tràng: Hay gặp ở đại tràng trái. Bệnh nhân có thể táo bón kéo dài, xen kẽ tiêu chảy, hoặc đại tiện tăng số lần. Nếu khối u loét, trên bề mặt phân dính máu tươi hoặc nhầy, mủ.
Viêm loét đại tràng mạn tính, lỵ do vi khuẩn: Đều có thể đi cầu ra máu kèm dịch nhầy, mủ, đau bụng.
Lỵ a-míp: Máu đỏ bầm lẫn nhiều nhầy, mùi hôi.
Viêm đại tràng do E.coli xuất huyết: Khởi phát cấp, sốt, đau bụng, tiêu chảy, tiền sử ăn thịt ôi thiu, thường bùng phát theo dạng ngộ độc thực phẩm.
Trẻ dưới 1 tuổi: Đặc biệt lưu ý lồng ruột.
Một số bệnh về máu (bạch cầu cấp – mạn, suy tủy, hemophilia…), cũng có thể gây chảy máu khắp nơi, trong đó có xuất huyết tiêu hóa.
Khi máu từ đường tiêu hóa đào thải ra ngoài cùng phân, có thể khiến phân lẫn máu hoặc toàn phân là máu. Màu sắc có thể đỏ tươi, đỏ sẫm hay đen như hắc ín (phụ thuộc vào vị trí và thời gian máu ở trong ruột). Xuất huyết ở ruột già, trực tràng, hậu môn thường làm phân đỏ tươi hoặc đỏ sẫm; xuất huyết dạ dày – ruột trên thường gây phân đen như nhựa đường.
Phân loại
Phương pháp sơ cứu tương tự nôn ra máu, cho bệnh nhân nghỉ ngơi, hạn chế vận động, quan sát lượng máu mất, dùng thuốc cầm máu thích hợp, nếu choáng hoặc sốc do mất máu nhiều, cần khẩn cấp đưa đi viện.
Tuy đi cầu ra máu là triệu chứng kinh điển của trĩ (đặc biệt là trĩ nội giai đoạn sớm), nhưng không phải cứ đi ngoài ra máu là do trĩ. Rất nhiều bệnh khác cũng gây triệu chứng này:
Có thể thấy, đi cầu ra máu là triệu chứng quan trọng, không được chủ quan, cần thăm khám toàn diện để tránh chẩn đoán sai hay bỏ sót bệnh.
Ly Nguyễn Nghị dịch