TÁO BÓN
Táo bón là tình trạng phân ở ruột lưu lại quá lâu, dẫn đến số lần đi đại tiện giảm, phân khô cứng, khó ra hoặc không ra hết. Thông thường, nếu không đi đại tiện hơn 2 ngày có thể là báo hiệu của táo bón. Nếu hàng ngày đi đại tiện nhưng gặp khó khăn, vẫn cảm thấy chưa hết phân, hoặc kèm theo cảm giác đầy hơi, thì cũng thuộc phạm trù táo bón.
Khi bị táo bón, thường có hiện tượng bụng dưới căng to, cảm giác muốn đi nhưng không hết; trong trường hợp nặng, có thể gặp các triệu chứng như chán ăn, chóng mặt, mệt mỏi,… Điều này có thể liên quan đến tác động cơ học của khối phân kích thích phản xạ thần kinh tại chỗ.
Trong lâm sàng, táo bón được phân loại theo nhiều cách:
Một số học giả phân loại táo bón theo cấp tính và mạn tính:
Tham khảo tài liệu:
Táo bón thường gặp ở người già, có thể chia thành táo bón đại tràng và táo bón trực tràng. Người già thường có răng không khỏe, ưa ăn thực phẩm tinh chế ít chứa chất xơ, dẫn đến thiếu sự kích thích từ cellulose lên thành ruột, làm thời gian chuyển động khối phân qua đại tràng kéo dài; thêm vào đó, người già ít vận động, sức co bóp của ruột giảm, đều dễ dẫn đến táo bón đại tràng. Hơn nữa, cơ bắp nâng hậu môn và cơ vòng hậu môn của người già thường bị yếu, gây ra tình trạng phân bị kẹt lại trong bồn trực tràng, dẫn đến táo bón trực tràng.
Táo bón cũng có thể do các bệnh vùng hậu môn như trĩ, rò, ung thư đại tràng, thoát vị trực tràng, v.v. Một số thuốc chứa sắt, nhôm, canxi cũng có thể gây táo bón.
Táo bón do thói quen, bệnh nhân thường dùng thuốc nhuận tràng trong thời gian dài, điều này có thể dẫn đến rối loạn chức năng ruột.
Để phòng ngừa táo bón, nên ăn nhiều rau, điều trị các bệnh vùng hậu môn và sử dụng thuốc hỗ trợ đi tiêu một cách hợp lý.
【Phác đồ điều trị】
Người già thường bị táo bón nên ăn nhiều rau và trái cây chứa nhiều chất xơ.
Trong các loại rau, có thể dùng: cần tây, hẹ, cải bó xôi, cần tây, mướp, củ sen,…
Trong các loại trái cây, có thể dùng: hồng, nho, mơ, lê, táo, chuối, cà chua,…
Nên tập đi bộ, chạy bộ chậm, thường xuyên thay đổi tư thế,…
Ví dụ: xoa bóp bụng có thể bắt đầu từ vùng bụng dưới bên phải, sau đó di chuyển lên, sang trái rồi xuống theo chiều kim đồng hồ. Mỗi ngày 2–3 lần, mỗi lần 10–20 lượt, có tác dụng rất hiệu quả.
Nguyên tắc là xen kẽ sử dụng các loại thuốc nhuận tràng khác nhau và tránh dùng những thuốc có tác dụng mạnh.
Ví dụ như codein, thuốc chứa sắt, nhôm, canxi,…
Táo bón được hiểu là tình trạng phân khô cứng, mỗi lần đi đại tiện lượng phân rất ít, quá khô cứng, khoảng cách giữa các lần đi quá lâu, gây ra khó khăn khi đi đại tiện. Ở người bình thường, thức ăn sau khi được tiêu hóa và hấp thụ tạo thành phân, và quá trình này kéo dài khoảng 24–48 giờ; nếu vượt quá thời gian này thì có thể xem là táo bón. Tất nhiên, do thành phần thức ăn và thói quen đi đại tiện khác nhau, nên đi đại tiện 2–3 ngày một lần không nhất thiết là táo bón. Việc đi đại tiện mỗi 3 ngày hoặc mỗi ngày 3 lần đều có thể là bình thường.
Ngoài việc tập thể dục hợp lý, điều chỉnh chế độ ăn uống sẽ có tác dụng lớn trong điều trị táo bón. Táo bón có thể do nhiều nguyên nhân gây ra như già yếu, dinh dưỡng kém, thai kỳ, ung thư đại tràng, v.v. Táo bón thường được chia thành các loại sau:
Do rối loạn chức năng hệ thần kinh, dẫn đến co thắt thành ruột, khiến phân khó đi qua.
Lượng chất xơ thô quá nhiều trong khẩu phần ăn cũng có thể gây co thắt ruột và dẫn đến táo bón.
Do một phần ruột bị chặn bởi khối u hoặc trong trường hợp tắc ruột, phân (vật chứa trong ruột) không thể di chuyển, gây ra táo bón.
Do ăn thực phẩm quá tinh chế, thiếu chất xơ trong thời gian dài, dẫn đến việc chất bã trong thức ăn không đủ kích thích niêm mạc ruột để tạo cảm giác đi đại tiện;
Hoặc do người già yếu, bệnh tiêu hao mạn tính làm cho cơ bắp hỗ trợ đi đại tiện bị suy yếu.
Ngoài ra, ăn không đủ, uống nước quá ít, ăn ít chất béo cũng có thể gây ra táo bón.
Nguyên nhân phổ biến nhất của táo bón là do chế độ ăn không hợp lý. Bệnh nhân táo bón cần tìm ra nguyên nhân, từ đó áp dụng chế độ ăn uống điều trị phù hợp.
Tùy theo mức độ táo bón, có thể cho ăn các loại cháo hoặc bột mềm không chứa hoặc chứa ít chất xơ;
Cấm sử dụng các thực phẩm có tính kích thích như gia vị, trà đậm, cà phê đậm;
Bệnh nhân nên uống nhiều nước và có thể sử dụng các sản phẩm từ agar vì agar có khả năng hút nước trong ruột, làm cho phân mềm, không gây kích thích, hỗ trợ đi đại tiện.
Dùng nhiều thực phẩm chứa vitamin B như ngũ cốc nguyên hạt, đậu; khi cần có thể bổ sung vitamin B1 dạng viên. Vì thiếu vitamin B1 có thể ảnh hưởng đến truyền dẫn thần kinh, làm chậm nhu động dạ dày-ruột, không có lợi cho quá trình tiêu hóa, hấp thu và đi đại tiện.
Ví dụ như hành tươi, hành tây, dưa chuột tươi, cải bẹ xanh, củ cải tươi,… nhờ quá trình lên men trong ruột tạo áp lực nội tại, kích thích nhu động ruột, hỗ trợ đi đại tiện.
Uống đủ nước và các loại đồ uống; mỗi sáng khi đói nên uống 200–500 ml nước, đặc biệt là nước ấm pha chút muối sẽ mang lại hiệu quả tốt hơn.
Sử dụng các thực phẩm giàu chất dinh dưỡng một cách hợp lý để thúc đẩy quá trình đi đại tiện.
Chế độ ăn cho bệnh nhân táo bón nên tập trung vào thực phẩm giàu chất xơ, tạo nhiều khí, chứa nhiều nước và chất béo. Bệnh nhân cần tránh rượu, trà đậm, cà phê, tỏi, ớt và các thực phẩm cay nóng kích thích.
Có thể áp dụng một số phương pháp ăn uống hỗ trợ như sau:
Dùng 200g cải bó xôi, 150g máu heo, nấu chung, sau khi chín thêm chút muối rồi uống canh.
Dùng 1 trái tim heo, 15g bá tử nhân. Cho bá tử nhân vào lòng tim heo, nấu với nước sạch cho đến khi chín. Uống mỗi 2 ngày 1 lần.
Lấy 100 ml nước mía, 50g gạo nếp. Rửa sạch mía tươi, ép lấy nước; nấu 50g gạo nếp với 400 ml nước cho đến khi gạo nở, sau đó đổ nước mía vào. Uống ấm vào buổi sáng và buổi tối.
Cho 15g hoắc hương vào nồi đất, thêm 500 ml nước sạch, đun đến khi còn lại 300 ml, lọc bỏ bã lấy nước, sau đó thêm 30g mật ong khuấy đều, đun sôi 1–2 lần. Uống thay trà.
Lấy 15g mè đen, 30g hải sâm, 150g ruột heo. Lột ruột heo, rửa sạch, cho cùng mè đen và hải sâm, hầm chín, thêm một chút muối, nước tương và bột ngọt, rồi ăn.
Ngâm 10g Úc lý nhân cho mềm, bóc vỏ, nghiền thành bột nhão; nấu 50g gạo nếp thành cháo, khi cháo chín thêm bột hạt liễu, nước gừng và mật ong vừa đủ. Dùng khi bụng đói.
Lấy 30g Thảo quyết minh, rang vừa đủ, nghiền nhỏ, đổ nước sôi ngâm 5–10 phút, mỗi ngày 1 liều dùng thay trà.
Táo bón có nghĩa là rối loạn việc đại tiện, khi phân bị kết tụ không thông. Nó chỉ việc khoảng cách giữa các lần đi đại tiện kéo dài, hoặc dù không kéo dài nhưng gặp khó khăn khi đại tiện.
Táo bón thường do nhiệt tích trong đại tràng, hoặc khí trệ, hoặc do lạnh gây táo bón, hoặc do âm dương, khí huyết khuy hư, làm rối loạn chức năng truyền dẫn của đại tràng.
Các bệnh liên quan trong y học hiện đại: Táo bón do thói quen, rối loạn chức năng thần kinh ruột, viêm ruột, nứt hậu môn, trĩ, viêm trực tràng.
Phân loại theo triệu chứng
Triệu chứng: Phân khô cứng, tiểu ít và có màu đỏ, mặt ửng hồng, tim bực bội, hoặc cảm thấy nóng người, miệng khô, hôi miệng, bụng căng hoặc đau, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng và khô.
Trị pháp: Thanh nhiệt nhuận tràng. Có thể dùng hoàn Ma tử nhân(麻子仁丸).
Triệu chứng: Khó đi đại tiện, phân có thể khô cứng hoặc không khô, ợ nóng liên tục, bên sườn và bụng cảm thấy nặng, khó chịu, đau.
Trị pháp: Thuận khí đạo trệ. Có thể dùng Lục ma thang (六磨汤).
Triệu chứng: Phân không quá khô cứng, dù có cảm giác muốn đi nhưng khi đến nhà vệ sinh lại không đủ sức, khó đẩy phân ra; khi cố gắng thì ra mồ hôi, hơi thở ngắn, sau khi đi đại tiện cảm thấy mệt mỏi, mặt nhợt nhạt, thần hồn uể oải, tay chân mỏi, lưỡi nhạt mềm.
Trị pháp: Bổ khí, tăng cường chức năng tỳ. Có thể dùng Hoàng kỳ đồng thang (黄芪汤).
Triệu chứng: Phân khô cứng, mặt nhợt nhạt, không có sức sống, tim đập nhanh, quên lãng, chóng mặt, hoa mắt.
Trị pháp: Nuôi dưỡng huyết nhuận táo. Có thể dùng Hoàn nhuận tràng (润肠丸).
Triệu chứng: Phân khô cứng, thể trạng gầy yếu; hoặc thấy má hồng, hoa mắt, ù tai, tim đập không đều, eo gối đau nhức, phân như phân dê.
Trị pháp: Dưỡng âm, bổ thận. Có thể dùng Lục vị địa hoàng thang (六味地黄汤).
Triệu chứng: Phân có thể khô hoặc không khô, nhưng khó rút ra, tiểu nhiều nhưng nước, mặt xanh trắng, tay chân lạnh, thích nóng mà sợ lạnh, bụng đau lạnh hoặc lưng dưới lạnh nặng.
Trị pháp: Ấm áp, làm ẩm và thông ruột. Có thể dùng Tế xuyên tiễn (济川煎).
Phòng ngừa
Táo bón là tình trạng phân ở đại tràng lưu lại quá lâu, khiến nước bị hấp thu nhiều từ thành ruột, khối phân trở nên khô cứng, khó đưa ra ngoài. Nguyên nhân gây táo bón phần lớn do người già yếu, dinh dưỡng kém, cơ bụng hay cơ nâng hậu môn không đủ sức co bóp, chế độ ăn thiếu chất xơ, nước không đủ, khối u ngoài ruột ép vào ruột, các bệnh về trực tràng – hậu môn, v.v. Triệu chứng chủ yếu là phân khô cứng, khó đưa phân ra hoặc vài ngày không đi đại tiện, có thể kèm theo đau đầu, chóng mặt, chán ăn, mệt mỏi, đầy bụng, đau bụng, thậm chí sốt.
Hướng dẫn dưỡng sinh:
Nên duy trì tâm trạng vui vẻ, điều tiết cảm xúc. Nếu cảm xúc rối loạn, lo âu, suy nghĩ quá mức có thể gây khí uất trệ, làm rối loạn chức năng ruột dẫn đến táo bón. Hãy thường nghe nhạc du dương, tránh xem các chương trình kích thích giác quan hoặc có cốt truyện căng thẳng. Hãy giữ cho tâm hồn rộng mở, gặp chuyện đừng giận dữ. Phát triển thói quen trồng hoa, nuôi chim, nuôi cá,… để rèn luyện tinh thần.
Nên ăn rau và trái cây giàu chất xơ thô, uống nhiều nước và đồ uống. Ăn nhiều thực phẩm giàu vitamin nhóm B và có tác dụng làm ẩm ruột, như ngũ cốc nguyên hạt, đậu, tai sen, mật ong,… Khi xào, có thể tăng thêm dầu nấu. Tránh rượu, trà đậm, ớt, cà phê.
Ví dụ: cháo đậu xanh, cháo quả thiên hoa phấn, cháo tam nhân, cháo hoàng kỳ, v.v.
Giúp trực tràng hình thành phản xạ điều kiện cho hoạt động đi đại tiện. Mỗi sáng uống một ly nước muối nhạt có thể tăng khối lượng phân và kích thích nhu động ruột, hỗ trợ việc đi đại tiện.
Tìm ra nguyên nhân gây táo bón, chẩn đoán rõ ràng để có phương pháp điều trị theo nguyên nhân.
Ba cách điều trị táo bón:
Táo bón có luôn là do phân khô cứng không?
Táo bón là tình trạng khó đi đại tiện do phân ở ruột lưu lại quá lâu dẫn đến số lần đi đại tiện giảm, vì vậy, táo bón chủ yếu là chỉ khó đi đại tiện, không nhất thiết là phân khô cứng. Thông thường, bệnh nhân táo bón thường có phân khô cứng, nhưng cũng có một số người vài ngày không đi đại tiện mà phân không khô cứng, nhưng rất khó đi, những bệnh nhân này cũng thuộc nhóm táo bón.
Đối với những người không có phân khô cứng mà khó đi đại tiện, thường có cảm giác còn sót lại phân sau khi đi, phân thường không thành hình, hơi lỏng, nhiều người không nhận ra đó là táo bón. Vì vậy, khi khám, bác sĩ cần hỏi rõ về thời gian đi đại tiện, tính chất của phân và cảm giác sau đại tiện; bệnh nhân cũng nên chủ động trình bày những khó chịu khi đi đại tiện để bác sĩ có thể phối hợp điều trị tốt hơn.
Nguyên nhân và cơ chế của táo bón
Táo bón có liên quan đến thể chất của mỗi người không?
Tại sao bệnh nhiệt dễ gây táo bón?
Bệnh nhiệt ở đây chỉ các bệnh ngoại cảm do nhiễm bệnh nhiệt, có biểu hiện chủ yếu là nhiệt và rất dễ làm khô, tổn hại âm. Ở giai đoạn ban đầu, nhiệt bệnh xâm nhập vào bộ phận vệ khí của phế, mà phế và đại tràng có mối quan hệ biểu lý, khi nhiệt độc tấn công phế, phế bị nhiệt độc chặn lại, khí không lưu thông thuận lợi, dẫn đến chức năng truyền dẫn của đại tràng bị cản trở, gây táo bón. Nếu nhiệt độc không được giải, vào bên trong, sẽ dẫn đến nhiệt bên trong quá mạnh, gây thành chứng dương minh phủ thực, kèm theo thiếu hụt âm dịch, làm tăng nguy cơ táo bón. Nhiệt độc lưu lại nhiều ngày, hao tổn âm dịch, dịch đã suy hư, đại tràng khô khan, phân như thuyền không có nước “Thuỷ bất hành chu” hoặc nhiệt độc gây khô nóng cho đại tràng, hao tổn dịch, hoặc nhiệt độc làm chảy dịch, khiến tỳ âm không đủ, không thể truyền đến đại tràng, đều dẫn đến đại tràng thiếu dịch, gây táo bón.
Từ những phân tích trên, có thể thấy bệnh nhiệt dễ gây táo bón do đặc tính của nhiệt độc trong việc gây bệnh và quá trình biến đổi của nó.
Cơ chế của táo bón mà phân không khô là gì?
Những trường hợp khó đi đại tiện mặc dù phân không khô cũng khá phổ biến lâm sàng. Nhiều người cho rằng khi bị táo bón chỉ cần dùng thuốc thông tiện, nhưng chỉ giải quyết vấn đề tạm thời, không chữa khỏi tận gốc. Trên thực tế, với nhóm bệnh nhân này, việc dùng thuốc thông tiện càng kéo dài thì táo bón càng trở nên nặng hơn.
Có hai cơ chế gây ra táo bón mà phân không khô:
Trong y học Trung Hoa, trung tiêu tỳ, vị được coi là nguồn gốc sinh hoá, trong đó tỳ khí chủ vận hóa, chủ yếu phụ trách tiêu hóa và hấp thu thức ăn. Khi tỳ khí không đủ, không thể vận hóa tốt, khí của trung tiêu không vận hành trôi chảy, làm cho những thứ cần thăng lên không được thăng, những thứ cần giáng xuống không được giáng hạ, dẫn đến thức ăn bã bị ứ đọng và gây táo bón. Đồng thời, do tỳ hư không chủ vận, nước trong phân không được hấp thu đầy đủ, do đó phân không khô mà trở nên lỏng và bã; loại táo bón này thuộc loại “táo bón do hư yếu”.
Nguyên nhân do thấp, phân thường có tính chất lỏng, không thành khối, và sau khi đi đại tiện, bệnh nhân thường cảm thấy còn sót phân. Y học Trung Hoa cho rằng thấplà yếu tố âm tà có tính nhớt, dễ cản trở khí vận; khi khí không điều hòa, phân sẽ kết tụ trong đại tràng và không trơn tru. Ngoài ra, ẩm dễ làm tỳ không khỏe, không chủ vận được, dẫn đến quá trình vận hóa không hiệu quả, việc hấp thu nước trong ruột không tốt, kết quả là phân lỏng. Loại táo bón này do thấp gây ra, không thuộc loại táo bón do hư.
Các loại thuốc gây táo bón
Các chất dẫn xuất từ ma phàm như ma phê và các chế phẩm từ thuốc phiện có thể làm cho cơ trơn ruột trở nên lỏng lẻo, đồng thời ức chế trung tâm thần kinh, làm giảm độ nhạy của phản xạ đại tiện.
Thuốc kháng cholinergic, thuốc chặn giao liên và thuốc chống trầm cảm có thể chặn các thụ thể M của cholin, gây giãn cơ ruột.
Các chất như bismuth subcitrate (次碳酸铋), benproperine (苯乙哌啶) và hydroxide of aluminum (khi trung hòa axit dạ dày tạo thành chloride of aluminum) có tác dụng se bớt, khi dùng những loại thuốc này đều có thể dẫn đến táo bón.
Tác động của việc lạm dụng thuốc nhuận tràng hoặc thủ thuật rửa âm đạo đối với táo bón
Thuốc nhuận tràng và rửa âm đạo hoạt động chủ yếu bằng cách kích thích niêm mạc ruột, khiến ruột tạo ra cảm giác muốn đi đại tiện, hoặc bôi trơn thành ruột nhằm mục đích hỗ trợ quá trình đại tiện. Tuy nhiên, điều này chỉ giải quyết khẩn cấp, không nên lạm dụng lâu dài.
Trừ khi thực sự không còn lựa chọn, không nên dễ dàng sử dụng thuốc dẫn tiêu hoặc rửa âm đạo để đi đại tiện, vì chúng không loại bỏ nguyên nhân gây ra táo bón mà chỉ giải quyết tạm thời khó khăn trong việc đi đại tiện.
Ví dụ, với bệnh nhân người già thường gặp táo bón do khí hư, nếu gặp táo bón có thể dùng thuốc nhuận tràng hoặc rửa âm đạo tạm thời để giải quyết khó khăn đi đại tiện thì được, nhưng nếu dùng lâu dài sẽ làm tổn hại dịch tiết, hao tổn âm dịch, làm trầm trọng thêm tình trạng khí hư, tạo ra vòng luẩn quẩn xấu.
Việc lặp đi lặp lại sử dụng thuốc dẫn tiêu hoặc rửa âm đạo sẽ gây kích thích liên tục cho niêm mạc ruột, khiến khả năng đáp ứng của ruột giảm đi, làm táo bón trở nên nặng hơn. Đồng thời, nó cũng có thể gây rối loạn chức năng ruột, dẫn đến phụ thuộc vào thuốc hoặc rửa âm đạo trong việc đi đại tiện, gây ra tình trạng táo bón do y khoa, càng làm tình trạng trở nên tồi tệ hơn.
Do đó, trước khi bệnh nhân dự định dựa vào thuốc nhuận tràng hoặc rửa âm đạo để đi đại tiện, cần cân nhắc kỹ lưỡng, đặc biệt là người già và trẻ em cần sử dụng một cách thận trọng.
Đặc điểm của táo bón do hội chứng ruột kích thích (IBS)
Hội chứng ruột kích thích (IBS) là một rối loạn về chức năng chuyển động của đường tiêu hóa, trước đây được gọi là “viêm đại tràng quá mẫn” hoặc “viêm đại tràng nhầy”, là bệnh khá phổ biến.
Đặc điểm gây ra táo bón ở IBS như sau:
Bệnh nhân hiếm khi chỉ gặp táo bón đơn thuần; thường có tình trạng xen kẽ với tiêu chảy. Ngoài ra, bệnh nhân rất nhạy cảm với các kích thích, thường đi kèm với yếu tố tinh thần, hoặc do chế độ ăn không phù hợp, hay không thích nghi được với thay đổi của môi trường (như tiếp xúc với lạnh, mệt mỏi, thay đổi cảm xúc, thay đổi thói quen sinh hoạt, v.v.) dẫn đến bộc phát triệu chứng. Khi táo bón, phân có tính chất cứng, hình dáng như hạt dẻ; Khi tiêu chảy, phân thường có nhầy, kết dính như đông đặc, và dưới kính hiển vi chỉ có rất ít bạch cầu.
Bệnh nhân cảm thấy có nhu cầu đi đại tiện nhiều lần trong ngày nhưng lượng phân ra rất ít; ở vùng hạ bụng thường có thể sờ thấy khối u dạng dây, trong khi khám bằng ngón tay qua hậu môn thì ruột trực tràng cảm thấy rỗng.
Đau bụng thường tái phát, chủ yếu tập trung quanh rốn hoặc hạ bên trái của bụng, cơn đau trở nên nặng hơn trước khi đi đại tiện và giảm đi sau khi đi đại tiện hoặc thải khí.
Khi dùng thuốc cát bối (barium enema), có thể thấy co thắt của đại tràng, sự tăng sinh dạng túi, nhưng cấu trúc đường nhám của niêm mạc vẫn bình thường.
Những biến đổi ở trực tràng và hậu môn có thể gây táo bón
Trong các bệnh của trực tràng, nguyên nhân phổ biến nhất gây táo bón là ung thư trực tràng. Khi khối u phát triển, ruột trực tràng ngày càng hẹp lại, gây khó khăn trong việc đi đại tiện và thậm chí có thể dẫn đến tắc ruột.
Ngoài ra, những hẹp do viêm trực tràng cũng có thể gây ra táo bón.
Các bệnh ở hậu môn có thể gây táo bón bao gồm:
Các hẹp cơ học như hẹp do sẹo của khối u;
Cũng có những trường hợp chức năng, chủ yếu là do các bệnh đau ở vùng hậu môn gây co thắt cơ vòng hậu môn, chẳng hạn như trĩ, nứt hậu môn, áp xe vùng hậu môn, rò hậu môn, trệ hậu môn, v.v. Những bệnh nhân do đau hoặc chảy máu thường cố ý kiềm chế và kéo dài thời gian đi đại tiện, từ đó gây ra táo bón.
Các bệnh ở đại tràng có thể gây táo bón
Táo bón do bệnh đại tràng có thể được chia thành ba nhóm chính:
Bao gồm cả tắc nội tạng (bên trong ống ruột) và tắc ngoại tạng (áp lực từ ngoài).
Tắc ngoại tạng chủ yếu do các yếu tố như u nang buồng trứng, khối u trong khoang bụng, tràn dịch trong khoang bụng hoặc thoát vị gây áp lực lên ruột, làm cho việc đi đại tiện trở nên khó khăn.
Tắc nội tạng chủ yếu do khối u và hẹp, chẳng hạn như trật ruột, xoắn ruột, nhiễm ký sinh trùng, dính ruột, u lành tính hoặc ác tính trong ruột, tắc mạch ruột do huyết khối hoặc xơ vữa, hoặc viêm mô dạng do bệnh tình dục.
Ví dụ như viêm đại tràng loét, lao ruột, bệnh Crohn, viêm túi thừa đại tràng cũng như giai đoạn phục hồi của các bệnh như viêm ruột, lỵ,… khi mà chức năng ứng thích của niêm mạc ruột bị suy giảm dẫn đến táo bón.
Như trong trường hợp viêm đại tràng quá mẫn; Ngoài ra, tắc ruột do tê liệt ruột, dẫn đến nhu động ruột giảm hoặc hoàn toàn mất cũng có thể gây táo bón.
Các bệnh trong khoang bụng có thể gây táo bón
Các tình trạng bệnh lý trong khoang bụng gây táo bón có thể được phân loại như sau:
Ví dụ như viêm ruột thừa, viêm tụy cấp, viêm túi mật, viêm phúc mạc,… gây ức chế phản xạ của ruột và dẫn đến táo bón.
Ví dụ như sỏi mật, sỏi thận,… cũng có thể gây ức chế phản xạ nhu động ruột.
Ví dụ như tụy chảy xệ; do cơ bụng, cơ hậu môn hoặc cơ trơn ruột suy yếu, làm giảm lực đẩy của ruột.
Ví dụ như u nang buồng trứng, khối u trong khoang bụng, tràn dịch,… gây áp lực cơ học từ bên ngoài lên ruột, dẫn đến khó khăn trong việc đẩy phân ra ngoài.
Các bệnh nội tiết và chuyển hóa có thể gây táo bón
Khi cường parathyroid, cơ trơn ruột trở nên lỏng lẻo, giảm sức căng;
Khi suy giáp hoặc suy tiết thượng thận trước, nhu động ruột giảm;
Bệnh tiểu đường kèm theo bệnh thần kinh, mất nước trong bệnh tiểu đường cũng có thể dẫn đến táo bón.
Các bệnh về hệ thần kinh có thể gây táo bón
Quá trình đi đại tiện bình thường sau bữa sáng là khi phân được chuyển đến đại tràng ngang nhờ hoạt động tập hợp của ruột, sau đó được chuyển thẳng đến đại tràng sigma và trực tràng. Khi niêm mạc trực tràng bị dãn do phân đầy, các cơ quan cảm thụ trên thành trực tràng tạo ra xung cảm giác, truyền qua các dây thần kinh chậu và tủy sống thắt lưng, lên đến vỏ não, rồi truyền xuống để làm co bóp trực tràng, làm giãn cơ vòng hậu môn, đồng thời co cơ bụng và cơ lồng ngực để đẩy phân ra ngoài qua hậu môn.
Các bệnh như Parkinson, khối u não, rối loạn mạch máu não, viêm não… đều có thể ảnh hưởng đến chức năng của vỏ não, dẫn đến táo bón.
Các bệnh như u đuôi tủy, chấn thương tủy sống vùng thắt lưng và xương cùng, lao tủy, đa xơ cứng, viêm tủy… gây cản trở truyền xung cảm, từ đó dẫn đến táo bón.
Ví dụ như cắt đứt thần kinh chậu, viêm nhiều rễ thần kinh,… làm tổn thương các dây thần kinh dẫn truyền xung cảm, không thể tạo ra phản xạ đại tiện.
Một số rối loạn như rối loạn trầm cảm kiểu ức chế, rối loạn thần kinh chức năng hoặc rối loạn hưng cảm cũng có thể làm mất cân bằng hệ thần kinh tự động, khiến tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm ở ruột và giảm tác dụng của hệ thần kinh đối giao cảm, từ đó ức chế hoạt động và tiết chất của ruột, gây ra táo bón.
Các chất hóa học gây ngộ độc có thể gây táo bón
Ngộ độc chì, arsê, thủy ngân, phốt pho,… có thể gây co thắt ruột, dẫn đến táo bón.
Các chất hóa học và thuốc có thể gây táo bón
Các chất hóa học và thuốc có thể gây táo bón bao gồm:
Thuốc gây mê, thuốc giảm đau, thuốc chống axit (các hợp chất của canxi và magiê), thuốc kháng cholinergic, thuốc chống co giật, thuốc chống trầm cảm, sulfate bari, bismuth, thuốc lợi tiểu, thuốc điều trị bệnh Parkinson, thuốc chẹn giao liên, thuốc bổ huyết (đặc biệt là thuốc sắt), thuốc hạ huyết áp, chất ức chế monoamine oxidase, ngộ độc kim loại (arsen, chì, thủy ngân, phốt pho), thuốc gây liệt cơ, các thuốc thuộc nhóm phiện, thuốc điều trị thần kinh, và thuốc gây nghiện nhuận .
Rối loạn điện giải có thể gây táo bón không?
Trong dịch thể của con người, các muối vô cơ và một số hợp chất hữu cơ (như protein) chủ yếu tồn tại ở trạng thái ion, mang điện tích dương (cation) hoặc âm (anion), do đó chúng được gọi chung là điện giải. Các điện giải chính trong dịch thể gồm có Na⁺ (ion natri), K⁺ (ion kali), Ca²⁺ (ion canxi), Mg²⁺ (ion magiê) và HCO₃⁻ (ion bicarbonat), Cl⁻ (ion clo), HPO₄²⁻ (ion phosphat đơn), SO₄²⁻ (ion sulfat), protein, v.v. Khi quá trình trao đổi chất của các điện giải trong cơ thể bị rối loạn do nhiều nguyên nhân khác nhau, ta gọi đó là rối loạn điện giải. Trong đó, những rối loạn điện giải có thể dẫn đến triệu chứng táo bón chủ yếu có hai loại: Hạ kali máu và tăng canxi máu.
Những bệnh có thể gây táo bón
Các bệnh chính có thể dẫn đến táo bón bao gồm:
Những bệnh gây yếu lực trong quá trình đại tiện có thể dẫn đến táo bón
Động lực của quá trình đại tiện chủ yếu phụ thuộc vào bốn nhóm cơ: Cơ hoành, cơ bụng, cơ nâng hậu môn và cơ trơn ruột. Bất kỳ sự suy yếu nào của bốn nhóm cơ này đều có thể dẫn đến táo bón.
Ảnh hưởng của táo bón đối với cơ thểnhư thế nào?
Thời gian giữa các lần đi đại tiện khác nhau tùy vào thói quen của mỗi người; Có người mỗi ngày đi đại tiện 1–2 lần hoặc nhiều hơn, có người 2–3 ngày mới đi một lần. Do đó, chỉ những trường hợp rõ ràng giảm số lần đi đại tiện so với thói quen chung mới được xem là táo bón. Thông thường, nếu một người không đi đại tiện hơn 2–3 ngày, có thể được coi là táo bón.
Dù nguyên nhân gây táo bón là gì, nếu táo bón được giải quyết trong thời gian “ngắn”, sẽ không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe. Nhưng nếu táo bón kéo dài, và khoảng cách giữa các lần đi đại tiện quá dài (ví dụ trên 2–3 ngày), tình trạng sẽ khác. Trước hết, về mặt cục bộ, người bị táo bón thường có phân rất khô; Khi phân khô cứng được đẩy ra, có thể làm tổn thương niêm mạc ruột, gây ra chảy máu và nứt hậu môn. Thứ hai, phân khô cứng tích tụ trong trực tràng, gây áp lực lên các mạch máu trên thành trực tràng, cản trở lưu thông tĩnh mạch; theo thời gian, các tĩnh mạch này sẽ giãn nở, uốn khúc, hình thành trĩ nội hoặc trĩ ngoại.
Về mặt toàn thân, do phân khô cứng và khó đi đại tiện, bệnh nhân thường có một số triệu chứng như: Cảm giác đầy bụng, cảm giác còn sót phân sau đại tiện, hoặc tăng khí; đồng thời, tiêu hóa bị ảnh hưởng, dẫn đến chán ăn. Khi phân lưu lại trong ruột càng lâu, các vi khuẩn phân hủy phân tạo ra nhiều chất độc (như indole, amoniac) và cơ hội hấp thu chúng qua ruột càng cao; đến một mức độ nhất định, bệnh nhân có thể bị chóng mặt, đau đầu, mệt mỏi, và ảnh hưởng đến cảm giác thèm ăn. Đối với những bệnh nhân mắc bệnh tim hoặc bệnh mạch máu não, táo bón càng là một nguy cơ lớn. Do khi đi đại tiện phải dùng lực quá mức, đôi khi có thể dẫn đến suy tim hoặc vỡ mạch máu não, thậm chí đe dọa tính mạng bệnh nhân. Vì vậy, khi những bệnh nhân này gặp táo bón, cần có các biện pháp tích cực để giải quyết.
Táo bón có thể dẫn đến những bệnh nào?
Các bệnh phát sinh do táo bón tái phát khá nhiều, phổ biến nhất là:
Táo bón gây ra những triệu chứng gì?
Tác hại của táo bón đối với cơ thể có thể chia thành hai nhóm lớn:
Các triệu chứng khó chịu do táo bón bao gồm:
Táo bón có ảnh hưởng gì đến quá trình lão hóa?
Phân là phần bã còn lại của thực phẩm sau quá trình tiêu hóa và hấp thu ở dạ dày và ruột. Đặc điểm chính của táo bón là phân lưu lại trong đại tràng quá lâu. Khi bã thức ăn nằm trong ruột quá lâu, dễ bị lên men, phân hủy tạo ra nhiều khí; Đồng thời, sự lên men và phân hủy bất thường của các vật chứa trong ruột cũng tạo ra nhiều chất độc, như axit lactic, axit acetic, ethanol, phenol, amoniac, hydro sulfide, indole, histamine,… Những chất này, nếu không được đào thải kịp thời qua đại tiện, sẽ được hấp thu vào máu, gây ra các triệu chứng ngộ độc tự thân như chóng mặt, mệt mỏi, tinh thần uể oải, căng thẳng, dễ cáu gắt, hôi miệng, buồn nôn, v.v. Thậm chí, chúng còn có thể dẫn đến thiếu máu và suy dinh dưỡng. Có người cho rằng sự ngộ độc tự thân kéo dài này có thể thúc đẩy quá trình lão hóa sớm, hay nung nấu “chưng nất” cơ thể, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tuổi thọ. Vì vậy, phòng chống và điều trị táo bón đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì sức khỏe và kéo dài tuổi thọ.
Táo bón ảnh hưởng như thế nào đến huyết áp?
Huyết áp là áp lực của máu khi chảy qua thành mạch máu. Tim, một cơ quan có sức mạnh như một máy “bơm”, hoạt động nhịp nhàng qua các chu kỳ co bóp và giãn nở để đẩy máu đến khắp nơi trong cơ thể, cung cấp năng lượng cho các cơ quan nhằm duy trì các hoạt động sống bình thường. Lúc tim co bóp, máu được đẩy vào động mạch chủ với lực gọi là huyết áp tâm thu (áp lực cao). Sau đó, khi tim giãn nở, máu không chảy ngược lại mà tiếp tục chảy, nhưng áp lực dần giảm xuống, được gọi là huyết áp tâm trương (áp lực thấp).
Một số người cho rằng mức huyết áp chỉ phụ thuộc vào sức mạnh co bóp của tim, nhưng điều này chưa đầy đủ. Khi tâm thất trái co bóp, máu như lũ lụt chảy ra động mạch chủ; Sức mạnh này chính là động lực duy trì huyết áp. Tuy nhiên, sau khi ra khỏi động mạch chủ, máu phải chảy qua các động mạch nhỏ, rồi vào mao mạch và tĩnh mạch để quay trở lại tim. Nếu các động mạch nhỏ trên toàn cơ thể có sức cản cao (do xơ cứng mạch máu, ống mạch thu hẹp, độ đàn hồi giảm), máu phải được tim đẩy mạnh hơn để vượt qua sức cản đó, dẫn đến tăng huyết áp. Vì vậy, tình trạng của các động mạch nhỏ có ảnh hưởng lớn đến mức huyết áp.
Ngoài ra, sự thay đổi cảm xúc, trạng thái tinh thần căng thẳng, kích động, vui buồn đều có thể làm biến đổi huyết áp. Những người thường xuyên căng thẳng dễ mắc chứng tăng huyết áp. Các yếu tố tâm lý – thần kinh này cũng thường làm thay đổi thói quen đại tiện bình thường, ví dụ như khi bị căng thẳng kéo dài hoặc chịu kích thích mạnh về tinh thần, cảm giác đi đại tiện có thể mất dần, dẫn đến táo bón do thói quen. Cả hai hiện tượng này đều do rối loạn chức năng hoạt động của não bộ cấp cao (vỏ não) gây ra.
Một yếu tố khác ảnh hưởng đến tăng huyết áp là xơ vữa động mạch. Chế độ ăn quá tinh chế, thiếu chất xơ cũng là nguyên nhân chung dẫn đến tăng mỡ máu và táo bón. Do đó, có người cho rằng một số bệnh gây hại cho sức khỏe như tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành có thể được gọi chung là “Tiêm duy tố khuyết phạp bệnh” (纤维素缺乏病) là bệnh thiếu chất xơ. Vì vậy, tránh căng thẳng, giữ tinh thần thoải mái và bổ sung chế độ ăn giàu chất xơ không chỉ giúp ngăn ngừa táo bón mà còn có tác dụng tích cực trong phòng chống tăng huyết áp.
Mối quan hệ giữa táo bón và bệnh mạch vành (coronary heart disease) như thế nào?
Động mạch vành là những mạch máu cung cấp dưỡng chất cho cơ tim. Tim con người phải đập hàng tỷ lần trong đời và hoạt động không ngừng nghỉ; do đó, nhu cầu dinh dưỡng và oxy của cơ tim là rất lớn. Một trái tim người lớn, kích thước bằng nắm đấm và nặng khoảng 300 gam (chiếm khoảng 0,5% trọng lượng cơ thể), nhưng lượng máu cung cấp cho cơ tim lại chiếm khoảng 1/20 lượng máu tim bơm ra. Khi cơ thể hoạt động mạnh, lượng máu từ động mạch chủ chuyển vào động mạch vành có thể đạt tới 2/5 tổng lượng máu bơm ra, cho thấy tầm quan trọng của hệ thống này.
Động mạch vành là một hệ thống mạch máu khá hoàn chỉnh. Tại đầu động mạch chủ, hai mạch nhỏ tách ra gọi là động mạch vành trái và phải; Các nhánh của chúng trên bề mặt tim và bên trong cơ tim liên tục giao tiếp, tạo thành một mạng lưới mạch vành dày đặc phủ kín bề mặt tim, như một vương miện cho tim. Do ống mạch vành khá hẹp và có nhiều nhánh bên trong cơ tim, nên khi cơ tim co bóp, các nhánh này thường bị ép lại. Vì vậy, khi người bệnh bị xơ vữa động mạch, một số nhánh của động mạch vành có thể bị co thắt, hẹp lại thậm chí bị tắc, dẫn đến thiếu máu cơ tim, nhồi máu hoặc hoại tử cơ tim – đây chính là bệnh tim mạch do xơ vữa động mạch vành.
Hiện nay, rối loạn lipid máu (mỡ máu cao) đã được công nhận là một yếu tố nguy cơ độc lập và quan trọng của xơ vữa động mạch. Cholesterol cao có thể gây ra và làm tiến triển xơ vữa động mạch, do đó rối loạn lipid được coi là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh mạch vành và được chú ý rộng rãi. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến mỡ máu cao là chế độ ăn quá tinh chế, nhiều chất béo động vật và ít rau củ, thiếu chế độ ăn giàu chất xơ.
Táo bón là một chứng bệnh rất phổ biến, và một trong những nguyên nhân của nó chính là do thiếu chất xơ trong khẩu phần ăn. Hiện nay, nhiều người tin rằng chế độ ăn giàu chất xơ không chỉ có thể phòng và chữa táo bón mà còn ức chế sự hấp thu cholesterol, từ đó hạ thấp cholesterol huyết thanh, hỗ trợ loại bỏ mật muối và chất béo qua phân, giúp phòng ngừa và điều trị xơ vữa động mạch.
Như vậy, nguyên nhân chung của táo bón và xơ vữa mạch vành là do chế độ ăn quá tinh chế, thiếu chế độ ăn giàu chất xơ. Việc duy trì sự thông suốt của đại tiện không chỉ giúp đào thải mật muối và chất béo, giảm mỡ máu, phòng ngừa xơ vữa động mạch, mà còn đối với những bệnh nhân đã mắc bệnh xơ vữa động mạch vành, việc duy trì thói quen đi đại tiện đúng giờ, tránh phải nỗ lực quá mạnh khi đại tiện cũng giúp ngăn ngừa hiện tượng co thắt hay vỡ mạch vành.
Táo bón ảnh hưởng như thế nào đến mạch máu não?
Táo bón có thể do nhiều nguyên nhân gây ra, bao gồm yếu tố tinh thần – thần kinh, chế độ ăn và thói quen sinh hoạt.
Mạch máu não chủ yếu có nhiệm vụ cung cấp máu cho não bộ. Khi mạch máu não hoạt động bình thường, não sẽ nhận được đủ dưỡng chất, giúp duy trì các hoạt động sinh lý của cơ thể. Tuy nhiên, nếu do xơ vữa mạch máu (do chất béo cao, tăng huyết áp, xơ cứng mạch máu…) làm cho ống mạch trở nên hẹp hoặc hình thành phình động mạch, dưới tác động của các yếu tố kích thích như cảm xúc kích động, căng thẳng, nỗ lực quá mức hay huyết áp tăng, các mạch máu có thể bị vỡ hoặc tắc, dẫn đến rối loạn tuần hoàn máu cho não, từ đó gây ra các bệnh mạch máu não.
Sự xuất hiện của bệnh mạch máu não liên quan mật thiết đến các yếu tố như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu và xơ cứng động mạch. Bệnh nhân táo bón thường có chế độ ăn tinh chế, thiếu chất xơ. Vì chất xơ giúp hạ thấp cholesterol huyết thanh và hỗ trợ đào thải mật muối cũng như chất béo qua phân, nên bệnh nhân táo bón do thiếu chất xơ có xu hướng có mỡ máu cao, dễ bị xơ vữa động mạch. Hơn nữa, nhiều bệnh nhân táo bón thường do căng thẳng tinh thần, công việc bận rộn gây ra, những người này dễ mắc tăng huyết áp. Do đó, bệnh nhân táo bón dễ gặp tình trạng rối loạn lipid, xơ vữa động mạch và tăng huyết áp – những yếu tố này góp phần làm xơ vữa thành mạch máu não và dễ gây ra bệnh mạch máu não. Đặc biệt, ở những bệnh nhân đã có sẵn các yếu tố trên, việc phải nỗ lực quá mức khi đại tiện (do táo bón) làm tăng áp lực trong khoang bụng, làm tim co bóp mạnh hơn, từ đó huyết áp tăng cao, càng dễ dẫn đến bệnh mạch máu não.
Xơ gan là một bệnh gan mạn tính, được đặc trưng bởi sự xơ hóa lan tỏa trong gan kèm theo sự hình thành các hạch sẹo. Huyết áp tĩnh mạch cửa (viết tắt là mạch cửa) cao là hậu quả của xơ gan. Khi mô sợi trong gan dần tăng sinh tạo thành các hạch sẹo, cấu trúc bình thường của dải tế bào gan bị phá vỡ, và các hạch sẹo này còn chèn ép các nhánh của mạch cửa trong gan, gây cản trở lưu thông máu của hệ thống mạch cửa, từ đó dẫn đến hiện tượng tăng huyết áp mạch cửa. Trong tình trạng huyết áp mạch cửa tăng, nhờ vào việc hình thành mạch đối lưu, máu từ mạch cửa sẽ đi qua phần dưới của thực quản và tĩnh mạch đáy dạ dày, tạo thành hiện tượng giãn tĩnh mạch thực quản và tĩnh mạch đáy dạ dày; Khi tình trạng này trở nên nghiêm trọng, các mạch máu có thể bị vỡ ra và xuất huyết, trở thành biến chứng nghiêm trọng của xơ gan.
Ở bệnh nhân táo bón, do phân bị khô cứng và khó đưa ra ngoài, khi đến nhà vệ sinh bệnh nhân thường phải dùng lực rất mạnh, gây ra sự tăng đột ngột áp lực trong khoang bụng. Đối với bệnh nhân xơ gan, sự tăng đột ngột áp lực trong khoang bụng có thể khiến cho các mạch máu ở thực quản – đáy dạ dày, vốn đã giãn do tăng huyết áp mạch cửa, bị vỡ, gây xuất huyết nặng, dẫn đến bệnh nhân nôn máu, đi ngoài máu, thậm chí đe dọa tính mạng.
Gan của con người giống như một “nhà máy hóa chất” lớn, không chỉ tổng hợp nhiều chất cần thiết cho cơ thể mà còn thanh lọc các chất độc hại được tạo ra trong cơ thể hoặc nạp vào từ thực phẩm, nhằm đảm bảo sự trong sạch cho cơ thể. Khi gan bị bệnh, như trong trường hợp xơ gan, chức năng của gan sẽ bị suy giảm nghiêm trọng, nhiều con đường chuyển hóa và giải độc sẽ gặp trục trặc, dẫn đến sự tích tụ của amoniac và các chất độc hại khác trong máu. Những chất độc này có thể ảnh hưởng đến chức năng bình thường của não, gây ra bệnh não gan, hay còn gọi là hôn mê gan. Ở bệnh nhân táo bón, do các chất chứa nitơ trong phân tiếp xúc với vi khuẩn trong ruột trong thời gian dài, quá trình sản sinh và hấp thu amoniac cùng các chất độc khác sẽ tăng lên, từ đó có thể dẫn đến và kích thích sự xuất hiện của hôn mê gan. Vì vậy, ở bệnh nhân xơ gan, khi có hiện tượng táo bón, cần phải được xử lý kịp thời để đảm bảo đại tiện thông suốt, nhằm ngăn ngừa xuất huyết và kích thích hôn mê gan.
Lao phổi là một bệnh lý do nhiễm vi khuẩn lao trong phổi, với các triệu chứng chính chia thành hai nhóm: Triệu chứng toàn thân và triệu chứng của hệ hô hấp. Triệu chứng toàn thân chủ yếu gồm sốt, mệt mỏi, đổ mồ hôi đêm, chán ăn, và giảm cân dần theo thời gian. Các triệu chứng của hệ hô hấp có thể bao gồm ho, đờm, ra máu khi ho, cảm giác khó chịu ở ngực, và cảm giác nặng ngực.
Ở bệnh nhân lao phổi, hiện tượng ra máu khi ho (hemoptysis) thường là máu pha theo đờm, mặc dù một số ít bệnh nhân có thể biểu hiện ra máu với lượng lớn. Ra máu với số lượng lớn là triệu chứng nghiêm trọng ở bệnh nhân lao phổi, vì các cục máu đông có thể làm tắc nghẽn khí quản, gây ra hiện tượng ngạt thở; bệnh nhân có thể đột ngột ngừng ra máu, kèm theo cảm giác nặng ngực, bồn chồn, đổ mồ hôi lạnh, thậm chí mặt chuyển sang màu tím nếu không được xử lý kịp thời, đe dọa tính mạng. Tuy nhiên, ra máu không phải là triệu chứng đặc trưng của lao phổi; nhiều bệnh lý đường hô hấp khác như giãn phế quản hoặc ung thư phổi cũng có thể biểu hiện ra máu ở các mức độ khác nhau. Một số bệnh nhân lao phổi ở giai đoạn sớm dù bệnh nhẹ cũng có thể ra máu với lượng lớn, trong khi một số bệnh nhân có bệnh nặng lại không ra máu. Điều này chủ yếu phụ thuộc vào mức độ tổn thương của các mạch máu gần vùng tổn thương lao. Khi các vùng tổn thương lao xâm phạm và phá hủy thành mạch máu lân cận, sẽ có khả năng xảy ra hiện tượng ra máu với số lượng lớn. Thông thường, sau khi được điều trị, hiện tượng ra máu sẽ dần ngừng lại.
Đối với bệnh nhân lao phổi có triệu chứng ra máu, sau khi điều trị và hiện tượng ra máu ngừng lại, cần đặc biệt chú ý đảm bảo đại tiện thông suốt. Điều này nhằm tránh trường hợp bệnh nhân phải dùng lực quá mức khi đi đại tiện, gây ra đột ngột tăng áp lực trong khoang ngực và bụng, dẫn đến vỡ thành mạch, gây ra ra máu với số lượng lớn. Nếu điều này xảy ra, bệnh nhân có thể bị ngạt thở do mất máu lớn, gây nguy hiểm đến tính mạng. Vì vậy, đối với bệnh nhân lao phổi, đặc biệt là những người thường xuyên có triệu chứng ra máu, cần chú ý duy trì đại tiện thông thoáng và tránh mệt mỏi quá độ cũng như lao động nặng, để phòng tránh các nguy cơ đáng tiếc.
Đặc điểm chính của táo bón là phần bã còn lại của thức ăn sau quá trình tiêu hóa và hấp thu trong dạ dày – ruột lưu lại trong đại tràng quá lâu. Khi phân lưu lại trong ruột quá lâu, dưới tác động của vi khuẩn đường ruột, sẽ sản sinh ra các chất như phenylpyruvic acid, amoniac và các khí độc hại khác, cùng với việc tạo ra các chất độc hại khác. Những chất này được hấp thu vào máu và lưu thông khắp cơ thể, trong đó da là một trong những cơ quan đầu tiên bị ảnh hưởng, vì một phần các chất độc này được đào thải qua da. Do đó, da dễ bị lão hóa. Ngoài ra, khi táo bón xảy ra, chức năng của hệ thần kinh tự động bị suy giảm, gây ra rối loạn tuần hoàn máu ở da, dẫn đến mụn trứng cá và da trở nên thô ráp. Cuối cùng, khi táo bón xảy ra, vi khuẩn trong ruột có thể di chuyển lên ruột non, làm giảm khả năng hấp thụ dưỡng chất của ruột non, từ đó cản trở sức khỏe của da. Những yếu tố này kết hợp lại, nếu táo bón kéo dài, sẽ dẫn đến các vấn đề về da như mụn trứng cá, da thô ráp, xuất hiện tàn nhang và đốm nâu, ảnh hưởng đến nhan sắc.
Táo bón thường đi kèm với một số triệu chứng sau:
Đôi khi có thể xen kẽ với tiêu chảy. Trong trường hợp này, cần cân nhắc đến các bệnh như viêm đại tràng mạn tính, dị ứng đại tràng, lao ruột, hoặc các khối u của đại tràng.
Đây có thể là dấu hiệu của ung thư đại tràng hoặc ung thư trực tràng.
Có thể là táo bón do thói quen.
Cần cân nhắc khả năng tắc ruột.
Có thể là do trĩ, khối u trực tràng, v.v.
Phần lớn người khỏe mạnh đi đại tiện mỗi ngày, nhưng cũng có thể không đi đại tiện trong vòng 1 ngày hoặc 2–3 ngày mà vẫn bình thường. Tuy nhiên, nếu phân lưu lại trong ruột quá lâu khiến nước trong phân bị hấp thu quá mức, làm cho phân trở nên quá khô và cứng, dẫn đến rối loạn tần suất đi đại tiện và giảm số lần đi đại tiện; nếu không đi đại tiện trong hơn 48–72 giờ, đó được coi là táo bón.
Triệu chứng chính của táo bón là:
Táo bón, với đặc điểm là phân khô cứng và khó đi ra, không chỉ gây ra triệu chứng khó đại tiện mà còn có thể gây ra các triệu chứng ở hệ thống toàn thân và khu vực cụ thể.
Polyp đại tràng là thuật ngữ chỉ các tổn thương nhô lên bề mặt niêm mạc và chui vào lòng ống tiêu hóa. Ung thư đại tràng là một cách gọi chung cho bất kỳ tổn thương nào nhô lên trên bề mặt niêm mạc của đại tràng; tên gọi này chỉ dựa trên hình thái ngoại quan mà không nói lên bản chất mô học của nó. Trong đường tiêu hóa, polyp thường gặp nhất ở đại tràng, đặc biệt là ở trực tràng và đại tràng sigma, có kích thước có thể từ dưới 2 milimet đến hơn 10 cm, thường do kích thích mạn tính từ phân và các tác nhân khác gây ra.
Táo bón kéo dài làm cho phân lưu lại trong đại tràng quá lâu. Các chất bã thô và dị vật trong phân liên tục kích thích biểu mô niêm mạc ruột, dễ gây tổn thương niêm mạc đại tràng. Hoặc do kích thích kéo dài làm phá vỡ sự cân bằng ổn định của biểu mô, dẫn đến sự tăng sinh tế bào quá nhanh; hoặc do tốc độ tẩy tế bào giảm; hoặc cả hai yếu tố cùng xảy ra, từ đó hình thành các khối nhô lên như polyp. Vì vậy, táo bón kéo dài cũng có thể dẫn đến sự hình thành polyp đại tràng.
Diverticula đại tràng thường gặp nhất ở đại tràng sigma, sau đó là đại tràng xuống, manh tràng và trực tràng. Trên thực tế, diverticula hình thành do lớp niêm mạc và lớp dưới niêm mạc xuyên qua cơ thành ruột tạo thành một loại bọc nhô ra. Diverticulum có miệng và cổ kết nối với lòng ruột. Khi táo bón kéo dài, phân trong đại tràng có thể đi “vào nghỉ” hoặc “Định cư” trong túi diverticulum qua cổ túi. Trong túi diverticulum thường đầy chất phân; nếu phân lưu lại quá lâu, chúng có thể biến thành cục phân khô cứng (phân đá). Nếu cổ túi diverticulum hẹp lại, chất phân đi vào và tích tụ thành cục cứng, không thể được đẩy ra ngoài, làm cho túi diverticulum giãn ra, gây viêm loét niêm mạc, từ đó dẫn đến viêm diverticulum. Nếu viêm diverticulum làm tổn thương đến các mạch máu lớn, có thể dẫn đến xuất huyết nặng; Nếu loét phá vỡ, có thể gây ra thủng ruột và viêm phúc mạc, đem lại nguy cơ lớn cho bệnh nhân.
Trong trường hợp diverticulosis do táo bón không viêm, thường không có triệu chứng rõ ràng hoặc chỉ có cảm giác khó chịu nhẹ ở bụng, khó tiêu và táo bón. Tuy nhiên, đôi khi có thể xảy ra đột ngột hiện tượng ra máu tươi hoặc máu kèm cục. Nếu phát triển thành viêm diverticulum, các triệu chứng sẽ trở nên rõ ràng hơn: Có thể xuất hiện tiêu chảy có mủ và máu, tương tự như bệnh lỵ; đôi khi táo bón xen kẽ với tiêu chảy, hầu hết đều kèm theo đau bụng, thường ở vùng bụng trái dưới và vùng bụng giữa. Xuất huyết cũng là triệu chứng chính, lượng máu có thể thay đổi, màu máu tươi đỏ hoặc kèm cục máu. Nếu nhiễm trùng tạo thành áp xe, có thể gây sốt cao, ớn lạnh, tăng bạch cầu và đau bụng dữ dội; nếu có thủng, có thể gây viêm phúc mạc, áp xe trong khoang bụng hoặc quanh trực tràng, và sau khi thủng có thể hình thành fistula ruột hoặc fistula trực tràng – hậu môn.
Táo bón chủ yếu gây ra ngoại trĩ do khi đi đại tiện bệnh nhân phải dùng lực quá mạnh, làm tăng áp lực bụng, gây vỡ các mạch máu nhỏ ở vùng hậu môn, dẫn đến máu tràn ra dưới da, tụ lại tạo thành một cục bầm máu nhô lên dưới da, có thể cảm nhận được khi sờ và có đặc tính cứng, trơn – được gọi là ngoại trĩ huyết khối. Biểu hiện lâm sàng của ngoại trĩ huyết khối là khởi phát đột ngột, ban đầu chỉ cảm thấy khó chịu ở vùng hậu môn, sau đó nhanh chóng xuất hiện một khối u hình tròn hoặc hình bầu dục bên ngoài hậu môn, kèm theo cảm giác nặng buồn, khó vận động. Nếu có nhiễm trùng, búi trĩ sẽ sưng to, vùng hậu môn phù nề, đau đớn dữ dội, bệnh nhân trở nên bồn chồn, kèm theo cảm giác ớn lạnh, sốt, và các triệu chứng toàn thân khác.
Nứt hậu môn, theo y học Trung Hoa gọi là “Giang liệt sang” (肛裂疮) “Liệt khẩu trĩ” (裂口痔)vết nứt hậu môn hay “Câu tràng trĩ” (钩肠痔) trĩ móc ruột, là tình trạng ở vùng hậu môn xuất hiện các vết nứt, thường xảy ra ở vị trí giữa trước và sau của hậu môn. Nứt hậu môn được phân thành giai đoạn ban đầu và nứt hậu môn mãn tính. Táo bón vừa là nguyên nhân gây ra nứt hậu môn, vừa là triệu chứng của nứt hậu môn. Biểu hiện lâm sàng chủ yếu gồm:
① Đau: Đau là triệu chứng chính của nứt hậu môn. Cơn đau rất dữ dội, không thể chịu đựng nổi, như bị xé hay cắt bằng dao, đặc biệt sau khi đi đại tiện khi phân khô, gây dãn hậu môn, làm rách vết nứt gây ra cơn đau dữ dội. Cơn đau không chỉ rất mạnh mà còn có tính chu kỳ và gián đoạn. Khi đi đại tiện, ban đầu do phân khô làm dãn hậu môn, vết nứt bị kéo dãn gây ra cơn đau dữ dội kéo vài phút rồi giảm bớt; sau đó, do co thắt của cơ vòng hậu môn, cơn đau lại quay trở lại và có thể kéo dài từ vài giờ đến hơn mười giờ cho đến khi cơ vòng hậu môn mỏi và giãn ra thì mới hết. Quá trình từ đại tiện → đau → giảm đau → cơn đau kéo dài là đặc điểm riêng của nứt hậu môn; bệnh nhân càng mắc bệnh lâu, hiện tượng này càng rõ rệt. Vì sợ đau, bệnh nhân có xu hướng trì hoãn việc đi đại tiện, nhưng việc kéo dài khoảng cách giữa các lần đại tiện chỉ làm cho phân càng khô, gây tổn thương vết nứt nặng hơn và đau đớn hơn, tạo thành một vòng luẩn quẩn ác liệt.
② Cảm giác căng cứng: Phân khô không dễ ra ngoài do vết nứt kéo dài gây ra sự hình thành sẹo dưới vết nứt, làm giảm khả năng giãn nở của hậu môn, khiến hậu môn trở nên căng cứng. Lâm sàng, bệnh nhân thường than rằng “hậu môn nhỏ lại”, và khi khám bằng tay sau gây tê, có thể cảm nhận được sự co thắt của hậu môn.
③ Xuất huyết: Trong quá trình đi đại tiện, do vết nứt bị kéo dãn có thể gây ra chảy máu. Máu có màu tươi đỏ, lượng không nhiều, chảy dưới dạng từng giọt, và sau khi đại tiện có thể tự ngừng.
Ở người cao tuổi, đặc biệt là những người yếu ớt, ít vận động, dễ mắc táo bón đơn thuần. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân cao tuổi có táo bón dai dẳng, cần phải cân nhắc đến khả năng tắc ruột do ung thư trực tràng hoặc đại tràng. Ung thư đại tràng và trực tràng thường gặp ở người trên 50 tuổi, nhưng cũng có khoảng 20% trường hợp ở người trẻ. Ở trẻ sơ sinh mắc táo bón dai dẳng, cần cân nhắc khả năng xơ đại tràng bẩm sinh hoặc hẹp – khép hậu môn.
Nếu bệnh nhân có tiền sử tiếp xúc với chì trong công việc, chẳng hạn như làm việc với sơn chứa chì, thuốc nhuộm, pin, hay in ấn bằng chì, cần cân nhắc khả năng ngộ độc chì mãn tính.
Cần hỏi về thói quen ăn uống, có ăn theo sở thích không, lượng thực phẩm nạp vào, lượng chất xơ trong khẩu phần ăn; Đồng thời cần xem xét liệu thói quen sinh hoạt và công việc có bị gián đoạn hay không, chẳng hạn như đi công tác xa, làm việc quá sức, ăn uống không đúng giờ, nằm liền giường và sử dụng bồn cầu thay đổi điều kiện đại tiện, vì những yếu tố này đều có thể gây ra táo bón đơn thuần. Ngoài ra, cần tìm hiểu về trạng thái tinh thần của bệnh nhân, bao gồm căng thẳng, lo âu, trầm cảm – những yếu tố thường là nguyên nhân kích thích hội chứng ruột kích thích.
Cần tìm hiểu kỹ xem bệnh nhân có sử dụng thuốc có thể gây táo bón hay không, bao gồm các thuốc như ma phê hoặc các chế phẩm từ thuốc phiện, codein, belladonna, propoxyphene, thuốc chẹn giao liên thần kinh và các chất có tác dụng hấp phụ, co lại ruột. Đặc biệt, cần hỏi xem bệnh nhân có thường xuyên sử dụng thuốc nhuận tràng không.
Nếu thói quen đi đại tiện của bệnh nhân vốn bình thường nhưng gần đây xuất hiện táo bón dai dẳng, sau khi loại trừ các ảnh hưởng từ tiền sử sinh hoạt và thuốc, cần cảnh giác khả năng có khối u ở trực tràng, đại tràng sigma hoặc đại tràng xuống. Nếu bệnh có tiến triển mãn tính, xen kẽ giữa giai đoạn giảm và tăng, thường liên quan đến dị ứng đại tràng.
Tiếp theo là xét nghiệm máu toàn phần. Xét nghiệm máu toàn phần có thể cho thấy tình trạng thiếu máu, tăng số lượng hồng cầu lưới, hồng cầu điểm và hồng cầu đa nhuộm, thường là dấu hiệu của ngộ độc chì mãn tính. Ngoài ra, đo hàm lượng chì trong máu và nước tiểu cũng góp phần hỗ trợ chẩn đoán ngộ độc chì.
Thứ ba là nội soi hậu môn – trực tràng, nội soi đại tràng sigma, nội soi dạ dày – ruột (fiberoptic endoscopy) và các loại nội soi khác. Những phương pháp này có thể được sử dụng để xác nhận những phát hiện từ khám trực tràng bằng ngón tay, hay để trực tiếp quan sát xem niêm mạc ruột có tổn thương hay không, và có thể lấy mẫu mô (sinh thiết) để xác định bản chất của tổn thương.
Thứ tư là các xét nghiệm X-quang đường tiêu hóa. Xét nghiệm dạ dày – ruột bằng barium (barium meal) có giá trị tham khảo trong việc đánh giá chức năng vận động của đường tiêu hóa; nội dung chi tiết sẽ được giới thiệu trong câu hỏi số 145 của cuốn sách này.
Cuối cùng là những xét nghiệm đặc biệt. Ví dụ, bệnh nhân có thể uống một lượng nhất định các mảnh vụn ống nhựa không che phủ X-quang làm dấu hiệu, sau đó chụp phim định kỳ để đánh giá tốc độ di chuyển và sự phân bố của dấu hiệu trong đường tiêu hóa. Nếu là táo bón trực tràng, dấu hiệu sẽ di chuyển nhanh qua đại tràng và cuối cùng tập trung ở trực tràng; nếu là táo bón do đại tràng, dấu hiệu sẽ phân bố giữa ruột non và trực tràng.
Việc làm trực tràng nội soi và nội soi đại tràng sigma có ý nghĩa lâm sàng là: Giúp xác nhận những phát hiện từ khám trực tràng bằng ngón tay, đồng thời có thể phát hiện những khối u mà khám trực tràng bằng ngón tay không thể sờ được; ngoài ra, có thể lấy mẫu mô từ những tổn thương khả nghi để làm sinh thiết, giúp chẩn đoán chính xác bệnh. Với các bệnh nghi ngờ về u đường tiêu hóa dưới, các loại viêm, loét, nhiễm ký sinh trùng, polyp,… cần được chẩn đoán hoặc phân biệt, hay trong trường hợp do các nguyên nhân cục bộ như nứt hậu môn, xuất hiện hội chứng ngứa hậu môn thứ phát do trĩ, lao ruột,… cũng cần thực hiện trực tràng nội soi và nội soi đại tràng sigma. Thông thường, khoảng 70% các trường hợp ung thư đại tràng có thể được nhìn thấy trực tiếp qua nội soi. Ngoài chẩn đoán, phương pháp này còn có thể dùng trong điều trị, ví dụ như polyp trực tràng có thể được đốt điện hoặc cắt bỏ qua nội soi đại tràng sigma, cũng như dùng để lấy các dị vật ở trực tràng, đại tràng sigma ra.
Tuy nhiên, phương pháp nội soi này không phải dành cho mọi người hay mọi thời điểm. Nếu gặp trường hợp hẹp ở đoạn xa của trực tràng hoặc đại tràng sigma khiến nội soi không thể đi qua, không nên cố gắng cho vào; hoặc khi bệnh nhân có triệu chứng kích thích màng phúc mạc, không đủ điều kiện thực hiện nội soi, cũng không nên ép buộc; đối với bệnh nhân đang mắc các bệnh nhiễm trùng cấp tính, vừa mới trải qua nhồi máu cơ tim, chấn thương lưng – hông cấp tính hoặc bong gân chi dưới, cũng như phụ nữ đang trong kỳ kinh, nên hoãn lại việc nội soi; đối với bệnh nhân có xu hướng chảy máu hoặc rối loạn đông máu, nên tránh lấy mẫu mô từ ruột.
Táo bón là một triệu chứng của hệ tiêu hóa, và nhiều bệnh lý đường tiêu hóa có thể gây ra táo bón. Do đó, đối với bệnh nhân táo bón nghi ngờ có tổn thương đường tiêu hóa, làm xét nghiệm cản quang đường tiêu hóa là phương pháp kiểm tra cơ bản và quan trọng, giúp hiển thị xem đường tiêu hóa có hẹp, polyp, khối u, giãn nở, hoặc các túi diverticulum gây táo bón hay không. Đồng thời, xét nghiệm này cũng giúp đánh giá chức năng vận động của ruột. Ở trạng thái bình thường, barium sẽ di chuyển tới cung lá của đại tràng trong vòng 12–18 giờ và hoàn toàn được đẩy ra khỏi đại tràng trong vòng 24–72 giờ, nhưng ở bệnh nhân táo bón có thể thấy hiện tượng trễ di chuyển. Phương pháp barium enema, đặc biệt là kỹ thuật đối chiếu barium – khí với áp lực thấp được sử dụng trong những năm gần đây, có thể giúp phát hiện nguyên nhân gây táo bón.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng khi có tắc ruột đường tiêu hóa (đặc biệt là không có đại tiện và không có khí) thì không nên thực hiện xét nghiệm barium, nhằm tránh làm nặng thêm tình trạng bệnh. Đối với bệnh nhân có xu hướng chảy máu hoặc rối loạn đông máu, nên tránh lấy mô sinh thiết từ ruột.
(1) Cục phân trong đại tràng:
– Có thể bị nhầm lẫn với khối u. Cục phân này thường có cảm giác mềm dẻo, nhưng cũng có thể cứng như đá, thường có hình dáng giống xúc xích hoặc dạng khối, có thể có đau nhẹ khi nén. Khám trực tràng có thể phát hiện được cục phân, và sau khi làm thủ thuật rửa âm đạo để thông tiện, khối u sẽ biến mất.
(2) Lao ruột:
– Thường kèm theo sốt nhẹ, đổ mồ hôi đêm, đau bụng, tiêu chảy hoặc táo bón xen kẽ. Một số bệnh nhân có thể sờ thấy khối u cố định, cứng và đau ở hạ bụng phải. Xét nghiệm dạ dày – ruột bằng barium cũng có ích trong chẩn đoán.
(3) Ung thư kết tràng:
– Gồm ung thư đại tràng bên phải và bên trái.
① Ung thư đại tràng bên phải:
– Khám có thể sờ thấy khối u dạng hạch, cứng. Thông thường, khối u của manh tràng nằm ở hạ bụng phải; Khối u của đại tràng lên nằm ở bên phải; Khối u tại khu vực cong gan nằm ở vùng bụng trên bên phải; Khối u của đại tràng ngang nằm gần rốn.
② Ung thư đại tràng bên trái:
– Triệu chứng ban đầu là số lần đi đại tiện tăng kèm theo chất nhầy và máu; Khi khối u phát triển, có thể xuất hiện táo bón, đau bụng, đầy bụng do tắc ruột. Khối u ở vùng cung tuỵ của đại tràng thường sờ thấy ở vùng bụng trên bên trái; Khối u của đại tràng xuống thường sờ thấy ở vùng eo bên trái.
(4) Tắc ruột:
– Nếu ở vùng bụng có khối u sờ được, có thể do hiện tượng trật ruột, bệnh sán dây, thoát vị có tính thắt chặt, xoắn ruột, khối u,…
Ở trẻ sơ sinh, tật trật ruột thường đi kèm với phân có màu như mứt dâu, nôn mửa; Ở trường hợp xoắn ruột của một đoạn ruột, vùng bụng có thể xuất hiện sưng cục bộ kèm theo đau; Nếu toàn bộ ruột non bị xoắn, bệnh nhân có thể rơi vào sốc nhanh chóng, kèm theo đau bụng dữ dội, buồn nôn, nôn mửa, sưng bụng và táo bón. Xét nghiệm barium enema có ích trong chẩn đoán.
Ở trường hợp bệnh do giun đũa, thường gặp ở trẻ em, vùng bụng mềm, có thể sờ thấy khối u dạng dây thừng do giun đũa cuộn lại, thường có tiền sử ra giun.
Xoắn ruột ở ruột non có thể liên quan đến các hoạt động uốn người sau bữa ăn. Xoắn đại tràng có thể xảy ra ở manh tràng và đại tràng sigma, với triệu chứng đau dữ dội ở vùng bụng dưới, thường gặp ở bệnh nhân già mắc táo bón mạn tính; Xét nghiệm barium enema có ích trong chẩn đoán.
(5) Viêm diverticulum của đại tràng sigma:
– Thường gặp ở nam giới trên 40 tuổi, có tiền sử táo bón kéo dài. Trong giai đoạn cấp tính, triệu chứng có thể giống với viêm ruột thừa bên trái. Ở trường hợp mạn tính, có thể tái phát, dẫn đến đại tràng sigma hình thành khối u giống xúc xích, cố định và có cảm giác đau khi nén. Nội soi và xét nghiệm barium enema giúp chẩn đoán rõ ràng.
(6) Ngoài ra:
– Có thể do u hạt do giun máu Schistosoma, bệnh amip mãn tính, khối u viêm, đoạn ruột co giật, cũng như các khối u trong khoang bụng do u cơ tử cung, u buồng trứng gây chèn ép cũng có thể dẫn đến táo bón và sờ thấy khối u ở vùng bụng.
(1) Đại tràng quá mẫn (hội chứng ruột kích thích):
– Đôi khi táo bón kèm theo đau bụng; Cơn đau có thể giảm sau khi đại tiện hoặc đẩy khí, và có thể đi kèm với tiêu chảy, hoặc táo bón xen kẽ với tiêu chảy. Thường bị ảnh hưởng bởi yếu tố cảm xúc, mệt mỏi,… Khi táo bón, phân có dạng cứng như hạt dẻ; Khi tiêu chảy, phân thường có chứa chất nhầy; Ở vùng bụng dưới bên trái có thể sờ thấy đoạn ruột dạng dây; Xét nghiệm barium enema có thể cho thấy co thắt đại tràng, sự tăng số túi, mà màng niêm mạc vẫn bình thường.
(2) Tắc ruột đại tràng:
– Bên cạnh táo bón, bệnh nhân có thể kèm theo đau bụng và đầy bụng, nôn mửa. Khi nguyên nhân là do phân đá, cục phân, ký sinh trùng, tắc mạch ruột do huyết khối, bệnh thường khởi phát đột ngột; Nếu do khối u, dính ruột, đại tràng to, bệnh khởi phát chậm hơn. Tắc ruột không hoàn toàn (như ung thư đại tràng) có thể do dùng thuốc nhuận tràng, co thắt hoặc cục phân làm tắc ruột chuyển thành tắc ruột hoàn toàn cấp tính. Tắc ruột do huyết khối mạch ruột thường có cơn đau dữ dội, có thể dẫn đến sốc sớm; Tắc ruột đơn thuần thường xuất hiện sốc muộn hơn và nhẹ hơn.
(3) Ngộ độc chì mãn tính:
– Đầu tiên cần có tiền sử tiếp xúc với chì; táo bón kèm theo đau bụng quanh rốn hoặc cơn co thắt, có thể đi kèm thiếu máu, tăng số lượng hồng cầu lưới, hồng cầu điểm và hồng cầu đa nhuộm trong máu. Việc sờ thấy đường viền răng màu xanh lam và tăng lượng chì trong nước tiểu cũng giúp chẩn đoán.
(4) Viêm diverticulum của đại tràng:
– Thường gặp ở bệnh nhân táo bón kèm theo đau bụng; đôi khi bệnh nhân đột ngột ra máu với số lượng lớn hoặc có cục máu; đau bụng thường tập trung ở vùng bụng dưới bên trái và vùng bụng giữa. Nội soi và xét nghiệm barium enema giúp chẩn đoán rõ.
88888888888888888
(5) Bệnh Crohn của đại tràng (Khắc long thị):
Triệu chứng chính là tiêu chảy hoặc phần lớn là tiêu chảy xen kẽ với táo bón. Phân thường có hình thái mềm, dạng nước, có chất nhầy, đồng thời đi kèm với đau bụng. Đau bụng đa phần là cơn đau âm ỉ nhẹ, nhưng trong giai đoạn phát cơn có thể có cơn co thắt dữ dội, chủ yếu ở vùng bụng dưới; Đôi khi cũng có thể lan ra toàn bộ bụng, kèm theo giảm cân. Chẩn đoán bệnh này khá khó khăn và cần phải thực hiện các xét nghiệm như X-quang đường tiêu hóa bằng barium, nội soi, sinh thiết mô học và các kiểm tra, xét nghiệm toàn thân khác để loại trừ các bệnh như viêm đại tràng loét, lao ruột, lỵ do vi khuẩn và lỵ do amip trước khi chẩn đoán chính xác.
Táo bón kèm sốt cần cân nhắc những bệnh nào?
Khi táo bón đi kèm với sốt, cần cân nhắc các bệnh sau:
Táo bón kèm máu trong phân cần cân nhắc những bệnh nào?
Khi táo bón đi kèm với máu trong phân, cần xem xét các bệnh sau:
Khi gặp hiện tượng táo bón – tiêu chảy xen kẽ, cần xem xét bệnh gì?
Táo bón và tiêu chảy đều là triệu chứng phổ biến ở đường tiêu hóa. Một số bệnh có thể gây ra cả hai triệu chứng này, và chúng thường xen kẽ với nhau. Cơ chế điều hòa đường ruột (cũng như nội tạng) được thực hiện bởi hệ thần kinh tự động, trong đó các hoạt động của não bộ cấp cao liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua hệ nội tiết) với nội tạng. Hệ thần kinh tự động gồm hai thành phần: Hệ thần kinh giao cảm và hệ thần kinh đối giao cảm. Hai hệ này có tác dụng khác nhau nhưng lại hỗ trợ lẫn nhau. Ví dụ, hệ giao cảm có thể ức chế vận động và công năng phân tiết của ruột, trong khi hệ đối giao cảm kích thích tăng cường vận động và công năng phân tiết. Khi một bộ phận ruột bị thay đổi do tổn thương “có tính khí chất” hoặc “có tính công năng”, các dây thần kinh sẽ bị kích thích và truyền tín hiệu liên tục đến vỏ não. Theo thời gian, điều này có thể làm rối loạn chức năng điều hòa của vỏ não, khiến trung tâm đối giao cảm “giải phóng” khỏi sự kiểm soát của vỏ não và tăng cường hoạt động, làm tăng chuyển động ruột, dẫn đến tiêu chảy; nhưng nếu kích thích quá lâu, hệ thần kinh này có thể “mệt” và chuyển sang trạng thái ức chế, làm cho cơ ruột từ từ giãn ra, nhu động giảm, và cuối cùng gây táo bón. Loại táo bón này, về mặt lâm sàng, được gọi là “táo bón do giãn cơ” và là biểu hiện điển hình của lao ruột. Trong hội chứng ruột kích thích, do trung tâm đối giao cảm bị kích thích mạnh, vùng cuối của đại tràng thường bị co thắt liên tục, dẫn đến “táo bón do co thắt”, với đặc điểm là phân rất mỏng, dạng băng, hoặc giống như phân của cừu. Nếu co thắt đại tràng tiếp diễn, nhu động ruột lại tăng lên, số lần đi đại tiện tăng, và từ táo bón chuyển sang tiêu chảy, từ đó tạo thành một vòng luẩn quẩn.
Các bệnh lý lâm sàng thường gặp gây hiện tượng xen kẽ táo bón – tiêu chảy bao gồm lao ruột, viêm ruột cục bộ, hội chứng ruột kích thích và một số trường hợp ung thư đại tràng, đặc biệt là ung thư đại tràng bên phải, thường có kết quả thử nghiệm ẩn máu dương tính liên tục (cho thấy có chảy máu từ vùng cuối đại tràng), có thể sờ thấy khối u ở vùng bụng phải kèm theo đau, dễ bị nhầm lẫn với khối u của ruột thừa.
Táo bón kèm theo toàn thân mệt mỏi cần xem xét bệnh gì?
Khi táo bón đi kèm với cảm giác mệt mỏi toàn thân, cần xem xét các bệnh sau:
Nguyên tắc điều trị táo bón là gì?
Đối với bệnh nhân táo bón, nguyên tắc điều trị gồm:
1/ Điều trị theo nguyên nhân
Cốt lõi trong điều trị táo bón là loại bỏ được nguyên nhân gây táo bón. Sau khi tìm ra nguyên nhân, cần loại bỏ hoặc điều trị dựa trên nguyên nhân đó. Đối với táo bón đơn thuần, cần khuyến khích bệnh nhân ăn nhiều hơn; thức ăn không nên quá tinh, quá ít chất xơ mà cần nhiều rau, trái cây và uống đủ nước. Cần hình thành thói quen đi đại tiện đúng giờ mỗi ngày, giúp bệnh nhân hiểu về sinh lý đại tiện và áp dụng liệu pháp phản hồi sinh học (biofeedback) để thiết lập phản xạ đại tiện tốt. Với những người suy yếu cơ bụng, cần khuyến khích họ lao động chân tay hoặc tập thể dục thể thao để tăng cường cơ bụng, cơ hoành, cơ nâng hậu môn, v.v. Nếu táo bón do tắc ruột (chẳng hạn khối u, hẹp lòng ruột), khi cần thiết có thể can thiệp phẫu thuật. Nếu táo bón do nguyên nhân khác thì điều trị dựa trên các nguyên nhân liên quan.
2/ Điều trị triệu chứng: Tùy trường hợp có thể dùng các loại thuốc nhuận tràng nhẹ (như glycerin enema – thường gọi là 开塞露, hoặc viên đặt glycerin), nhưng tránh lạm dụng. Khi cần thiết, có thể đeo găng tay luồn ngón tay vào hậu môn để lấy phân ra hoặc áp dụng các biện pháp điều trị triệu chứng khác (ví dụ: dùng thuốc y học cổ truyền). Các loại thuốc nhuận tràng hoặc thuốc làm trơn/làm mềm phân nên dùng một lần vào buổi tối trước khi ngủ, sáng hôm sau thức dậy sẽ đi đại tiện. Cách này phù hợp với nhịp sinh lý bình thường, giúp điều chỉnh táo bón bền vững. Nếu một ngày uống thuốc 2–3 lần, cứ 4–6 giờ lại đi đại tiện một lần, sẽ khó hình thành được thói quen đại tiện đúng giờ, hiệu quả điều trị không cao. Lưu ý, trước đây có trường hợp cả bác sĩ lẫn bệnh nhân không chú ý điều này, chia thuốc nhuận tràng làm nhiều lần uống trong ngày, thay vì dồn vào buổi tối. Uống thuốc một lần vào tối sẽ tận dụng được phản xạ đứng dậy buổi sáng và phản xạ dạ dày – đại tràng, giúp tăng nhu động đại tràng và trực tràng, đẩy phân ra tự nhiên hơn, đồng thời có thể giảm bớt liều lượng thuốc mà vẫn đem lại hiệu quả tốt.
Tránh lạm dụng thuốc nhuận tràng hoặc thụt tháo thường xuyên có ý nghĩa gì trong điều trị táo bón?
Làm thế nào để tự kích thích cảm giác muốn đi đại tiện?
Những người bị táo bón mạn tính, dù nguyên nhân nào, cuối cùng đều dẫn đến nhu động ruột chậm. Để tăng nhu động ruột, thúc đẩy cảm giác buồn đại tiện, cách nhanh nhất là dùng phương pháp bấm huyệt – xoa bóp. Phương pháp này kích thích trực tiếp đại tràng, tăng nhu động. Ngoài ra, xoa bóp vùng thắt lưng và huyệt ở tay sẽ kích thích thần kinh, tác động gián tiếp đến đại tràng, giúp nhanh có cảm giác muốn đi cầu.
1/ Xoa bóp bụng: Xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho ấm, đặt một tay vào vùng bụng giữa rốn và gốc đùi. Xoa tròn lần lượt từ hố chậu phải (bên phải bụng dưới), lên vùng trên rốn, sang hố chậu trái (bên trái bụng dưới). Mỗi vòng xoa 10–20 lần bằng cả lòng bàn tay. Tiếp theo, dùng đầu ngón tay ấn nhẹ di chuyển trên thành bụng, lặp lại nhiều lần, thứ tự như trên. Cuối cùng ấn mạnh vùng đại tràng sigma (bên trái bụng dưới) để kích thích, giúp gây cảm giác muốn đi đại tiện.
2/ Xoa bóp thắt lưng: Tư thế ngồi, ngồi quỳ hoặc ngồi xổm, giữ thẳng lưng, hai tay đặt sau lưng. Xoa kỹ từ vùng thắt lưng xuống đến xương cùng cho đến khi cảm thấy ấm nóng. Lúc đó tự nhiên sẽ buồn đi vệ sinh.
3/Bấm huyệt ở bàn tay: Ấn vào huyệt Hợp Cốc (合谷) và huyệt Thần Môn (神门) ở cổ tay với lực vừa phải, kết hợp thở ra khi ấn để tăng hiệu quả.
Thông thường chỉ cần một trong ba cách trên đã có kết quả. Nếu chưa hiệu quả, có thể kết hợp cả ba, sẽ dễ dàng tạo được cảm giác muốn đi đại tiện.
Cách làm xuất hiện cảm giác muốn đi đại tiện
1/Tập thói quen đi vệ sinh sau bữa sáng. Cơ thể con người hoạt động theo nhịp sinh lý nhất định. Việc có cảm giác muốn đi cầu sau bữa sáng gần như là một trong những nhịp độ tự nhiên đó. Nếu bị táo bón, nghĩa là nhịp sinh lý bên trong đã bị rối loạn. Nhiều người vì tiết kiệm thời gian, lười ăn sáng hoặc sợ tăng cân mà bỏ bữa sáng, dẫn đến mất phản xạ dạ dày – đại tràng (khi dạ dày nhận thức ăn, nó kích thích đại tràng co bóp). Như vậy, buổi sáng khó xuất hiện nhu động ruột mạnh, không có cảm giác muốn đi cầu. Do đó, hãy ăn sáng mỗi ngày, khi buồn đi đại tiện thì đi ngay. Duy trì liên tục, cơ thể sẽ dần hình thành thói quen buổi sáng đi cầu.
2/ Dùng thực phẩm giúp kích thích nhu động ruột vào buổi sáng. Uống nước đun sôi để nguội sau khi thức dậy (2–3 cốc). Nước lạnh sẽ khởi phát phản xạ dạ dày – đại tràng, làm tăng nhu động ruột. Đồng thời cũng bổ sung nước cho khối phân, tránh phân quá khô.
Uống sữa lạnh: Tác dụng tương tự nước đun sôi để nguội, hơn nữa đường lactose trong sữa cũng kích thích đại tràng, tăng nhu động ruột.
3/ Kết hợp xoa bóp, bấm huyệt, tập thể dục để tăng hiệu quả điều trị táo bón.
Trong Tây y, các loại thuốc nhuận tràng tăng thể tích (容积泻剂) gồm những gì, cơ chế ra sao và cách dùng thế nào?
Các thuốc nhuận tràng kích thích đường ruột gồm những gì, cơ chế tác dụng ra sao và cách dùng thế nào?
Nhóm thuốc làm trơn (润滑剂) gồm những gì, cơ chế tác dụng ra sao và cách dùng thế nào?
Thuốc nhuận tràng (缓泻剂) gồm những loại nào, được chia thành mấy nhóm?
Thuốc nhuận tràng gồm: Vị Tràng Thư (胃肠舒), dầu thầu dầu (蓖麻油)Tì ma du, Bạch Sắc Hợp Tễ (白色合剂), Quả Đạo (果导), viên đạn glycerin (甘油栓), đại hoàng (大黄), dung dịch thụt “Khai Tắc Lộ” (开塞露), thuốc “Ma Nhân Hoàn” (麻仁丸), v.v. Trong đó: Vị Tràng Thư (胃肠舒) là chế phẩm sinh học có tác dụng kích thích tiết mật, nhũ hóa mỡ, tăng cường men tụy, thúc đẩy và điều hòa nhu động ruột. Đại hoàng (大黄), Ma Nhân Hoàn (麻仁丸) là thuốc y học cổ truyền. Đại hoàng có tác dụng thanh nhiệt, thông phủ, tấn công và bài tiết xuống; còn hạt gai dầu (ma tử nhân) trong Ma Nhân Hoàn có tác dụng nhuận tràng thông tiện.
Cụ thể, người ta chia thành 3 nhóm chính:
1/ Nhóm tăng thể tích (容积泻剂): Bạch Sắc Hợp Tễ (白色合剂). 2/Nhóm kích thích ruột (肠道刺激剂): Dầu thầu dầu (蓖麻油), Quả Đạo (果导), Đại hoàng (大黄).
3/Nhóm làm trơn (润滑剂): Viên đạn glycerin (甘油栓), dung dịch thụt “Khai Tắc Lộ” (开塞露), Ma Nhân Hoàn (麻仁丸), v.v.
Nguyên tắc sử dụng thuốc nhuận tràng đúng cách là gì?
Các nguyên tắc khi dùng thuốc điều trị táo bón như sau:
Làm thế nào để tránh hình thành thói quen lạm dụng thuốc?
Dân gian thường nói: “Thuốc trị táo bón dễ gây nghiện”. Thực tế quả đúng như vậy. Nếu tùy tiện uống liên tục, hiệu quả của thuốc sẽ giảm, buộc phải tăng liều dần, thậm chí không có thuốc là không thể đi tiêu, dẫn đến tư tưởng lệ thuộc không tốt.
Có người chỉ cần một ngày không đi đại tiện là lo lắng, khó chịu, tìm mọi cách để đi ngoài. Ban đầu họ chỉ dùng thuốc khi không đi được, dần dần tăng số lần và liều, cuối cùng ngày nào cũng phải dùng một lượng lớn thuốc, rất đáng sợ. Thực ra, nhóm bệnh nhân này cần cải thiện nếp sống và chế độ ăn, rèn thói quen đi tiêu tốt, giảm phụ thuộc vào thuốc. Tuy nhiên, nếu yếu tố tâm lý quá nặng, khó khống chế, thì cần đến sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa tâm lý hoặc tâm thần.
Ngoài ra, cũng có người không bận tâm đến chuyện đại tiện, dù táo bón cũng không để ý, vài ngày sau khi bụng trướng to, đau đớn mới vội uống thuốc, lâu ngày tạo thành phụ thuộc thuốc. Những bệnh nhân này chỉ cần nghe theo hướng dẫn ăn uống, sinh hoạt của bác sĩ, tập thói quen đi cầu là có thể dần dần bỏ được thuốc.
Tóm lại, nếu coi thuốc là giải pháp duy nhất để điều trị táo bón, lâu dần sẽ tạo thành thói quen và cần tăng liều. Ngược lại, nếu lấy việc điều chỉnh lối sống, ăn uống làm trọng tâm, phối hợp các phương pháp không dùng thuốc và coi thuốc nhuận tràng chỉ là hỗ trợ, thì sẽ không bị lệ thuộc, dần dần còn giảm liều và không lo tác dụng phụ.
Làm thế nào để chọn thuốc nhuận tràng đúng cách?
Thuốc nhuận tràng chủ yếu dùng để điều trị táo bón hoặc làm sạch ruột trước khi nội soi đại tràng, chụp cản quang đường mật, v.v. Tuy nhiên, không nên xem thuốc nhuận tràng là biện pháp duy nhất để trị táo bón. Trước hết phải tìm hiểu nguyên nhân táo bón và sửa đổi (không nên lạm dụng).
Những vitamin nào có thể điều trị táo bón?
Khi phân cứng ứ đọng tại trực tràng, thuốc nhuận tràng có hiệu quả không? Phương pháp nào điều trị hiệu quả?
Khi phân cứng ứ đọng ở trực tràng, thuốc nhuận tràng thông thường khó phát huy tác dụng tại trực tràng, kích thích từ trên khó tăng nhu động tại trực tràng để tống phân ra. Do đó, trước hết nên dùng dung dịch “Khai Tắc Lộ” (开塞露) để thụt, nếu không hiệu quả thì phải dùng tay móc phân để giải trừ đau đớn cho bệnh nhân.
Sau khi dùng thuốc nhuận tràng mà vẫn không đi tiêu được, nên làm gì?
Với một số trường hợp táo bón nặng, nhất là phân cứng ứ đọng tại trực tràng, uống thuốc nhuận tràng mà vẫn không thông thì cần thụt tháo trước xem có hiệu quả không. Nếu thụt tháo vẫn không thông, thì phải dùng tay móc phân để giảm đau. Nếu do rối loạn chức năng cơ trực tràng – hậu môn, điều trị nội khoa không hiệu quả, có thể phẫu thuật, cắt hoặc nới lỏng một phần cơ trực tràng, hậu môn.
Điều trị táo bón ở người nghiện ma túy như thế nào?
Thuốc phiện (鸦片) có vị đắng, tính ấm, chua chát, cay, vừa “trợ hỏa, thăng dương” vừa “Trệ khí, ngưng đọng huyết”, lại “cay thơm, tẩu thoán”, nên dễ tổn âm, hao khí. Vì thuốc phiện thuộc tính nhiệt, người mới nghiện thường có triệu chứng hỏa nhiệt như lo âu, bứt rứt, giãn đồng tử, đau cơ xương khắp người, hung hăng kích động, rêu lưỡi vàng nhớt, phân khô cứng. Với những người thực nhiệt như thế, nên thanh nhiệt giải độc, thông phủ tả thực.
Có tác giả dùng bài thuốc sau điều trị 20 ca nghiện thuốc phiện cho kết quả tốt: Đại hoàng (大黄) 10g, Sài hồ (柴胡) 30g, Ngư tinh thảo (鱼腥草) 30g, Chỉ thực (枳实) 15g, Hoàng liên (黄连), Hoàng cầm (黄芩) mỗi thứ 10g, Bạch thược (白芍) 30g, Bán hạ (半夏), Chi tử (栀子), Nguyên hồ (元胡) mỗi thứ 15g, Đậu xị (豆豉) 20g, Sơn tra (山楂) 25g, Đại táo (大枣) 5 quả, Sinh khương (生姜) 6g, Cam thảo (甘草) 15g. Mỗi ngày 1 thang, sắc lấy 450 ml, chia 3 lần uống, liệu trình 21 ngày. Trong thời gian uống thuốc, cấm dùng ma túy và các thuốc gây nghiện khác. Kết quả 20 ca: khỏi 17 ca, chuyển biến tốt 3 ca.
Bệnh nhân suy thận mạn xuất hiện táo bón thì điều trị thế nào?
Suy thận mạn phát triển trên nền các bệnh thận mạn tính, dẫn đến giảm dần chức năng thận rồi suy thận, kèm ứ đọng các sản phẩm chuyển hóa, rối loạn nước – điện giải, cân bằng acid-base. Y học cổ truyền cho rằng bệnh này liên quan đến “hư, trọc, ứ, độc”. Trên lâm sàng, một số bệnh nhân xuất hiện táo bón. Phân không tống ra kịp, khiến bệnh nhân khó chịu. Khi kết hợp y học cổ truyền trị táo bón ở bệnh nhân suy thận mạn, nhiều trường hợp cải thiện rõ. Phương pháp thường dùng:
1/ 30g lá Phan Tả (番泻叶), sắc nước uống thay trà.
2/ Bột đại hoàng sống (生大黄粉), mỗi ngày 3g, uống.
3/ Sinh đại hoàng (生大黄) 30g, Lục Nguyệt Tuyết (六月雪) 30g, Bồ công anh (蒲公英) 30g, Đan sâm (丹参) 20g, Quế chi (桂枝) 10g, Phụ phiến (附片) 10g, Ích mẫu thảo (益母草) 30g, sắc đặc còn 200 ml, giữ trong ruột (bơm hậu môn) 1–2 lần/ngày.
Những cách này vừa giảm táo bón, vừa cải thiện triệu chứng, giảm creatinin và urê máu. Thực tế cho thấy, kể cả bệnh nhân không táo bón, dùng các phương pháp trên cũng cải thiện được bệnh cảnh, nên phép thông tiện và thụt tháo được áp dụng rộng rãi trong điều trị suy thận mạn, nâng cao đáng kể hiệu quả lâm sàng.
Tại sao viêm tụy cấp (急性胰腺炎) dễ xuất hiện táo bón?
Viêm tụy cấp là do nhiều nguyên nhân dẫn đến các men tiêu hóa của tụy tiêu hủy chính nhu mô tụy, gây viêm hóa học cấp, thuộc nhóm cấp cứu bụng thường gặp. Hay gặp ở người 20–40 tuổi, nam/nữ = 1,2–2 : 4. Biểu hiện rất đa dạng, thường chia làm viêm tụy cấp thể phù nề và viêm tụy cấp thể xuất huyết. Lâm sàng chủ yếu là đau bụng, buồn nôn, nôn, sốt, vàng da…
Theo Y học cổ truyền, bệnh này do ăn uống không điều độ, giun đũa quấy rối, ngoại cảm lục dâm, thất tình nội thương gây can, đởm, tỳ, vị rối loạn, can uất khí trệ, thấp nhiệt ứ đọng, trung tiêu không thông, khí của phủ không thông. Táo bón chính là do phủ khí không thông, mà nguyên nhân là thấp nhiệt ứ đọng, khí trệ, vậy nên sau khi phát bệnh cần lý khí (điều khí), dẫn ứ trệ, thanh trừ thấp nhiệt, thông lý công hạ (thông phủ tả nhiệt). Uống thuốc xong đại tiện thông, phủ khí được lưu thông, khí trệ, thấp nhiệt tan đi, bệnh tình tự nhiên thuyên giảm. Vì vậy, bệnh nhân viêm tụy cấp phải giữ cho đại tiện thông suốt là điều đặc biệt quan trọng.
Khi viêm tụy cấp xuất hiện táo bón thì điều trị như thế nào? Cơ chế chủ yếu của viêm tụy cấp: can uất khí trệ, thấp nhiệt ứ đọng, trung tiêu không thông, phủ khí bế tắc. Vì thế pháp trị là lý khí dẫn ứ, thanh trừ thấp nhiệt, thông lý công hạ (thông phủ tả nhiệt). Tuy nhiên, do thể trạng mỗi bệnh nhân khác nhau, biểu hiện không hoàn toàn giống nhau. Qua quan sát lâm sàng, khí trệ, thực tích, nhiệt uất, thực nhiệt tỳ vị, thấp nhiệt can đởm, nhiệt thực kết hung thường gặp. Dưới đây là hướng điều trị:
1/ Khí trệ, thực tích, nhiệt uất Biểu hiện: Vùng thượng vị hoặc hạ sườn trái căng tức không hết, cơn đau tăng dần, nôn khan, nôn không dễ chịu, ợ hơi chua, có lúc đầy tức bụng, xì hơi thì đỡ. Lưỡi rêu mỏng nhầy hoặc vàng dày. Trị pháp: Lý khí tiêu thực, thanh nhiệt thông tiện.
Phương: Thanh Di Thang (清胰汤) gia giảm: Sài hồ (柴胡), Hoàng cầm (黄芩), Hồ hoàng liên (胡黄连), Mộc hương (木香), Liên kiều (连翘) – mỗi thứ 15g; Chỉ thực (枳实), Hậu phác (厚朴), Bạch thược (白芍) – mỗi thứ 12g; Đại hoàng (大黄, bỏ sau) 10g; Mạch nha (麦芽) 20g. Đau nhiều gia Xuyên luyện tử (川楝子), Nguyên hồ (元胡). Nôn nhiều gia Trần bì (陈皮), Bán hạ (半夏), Trúc nhự (竹茹).
2/ Thực nhiệt tỳ vị :Biểu hiện Đau tức vùng thượng vị, bụng đầy cứng không muốn chạm, cảm giác cứng nghẹt, bí tắc khí và phân, miệng khô khát, tiểu đỏ, sốt. Lưỡi đỏ, rêu vàng dày nhầy, khô.
Trị pháp: Thông lý công hạ.
Phương: Thanh Di Thang hợp với Đại Thừa Khí Thang (大承气汤) gia giảm: Sài hồ, Hoàng cầm, Hồ hoàng liên, Mộc hương, Nguyên hồ, Bạch thược, Chỉ xác(枳壳), Hậu phác, Đại hoàng (bỏ sau) – mỗi thứ 15g; Kim ngân hoa (金银花) 30g; Mang tiêu (芒硝, hoà uống) 5g. Nếu khát nhiều gia Sinh địa (生地), Huyền sâm (玄参), Mạch môn (麦冬). Nếu đau bụng táo bón nặng, có thể lấy 150 ml nước thuốc để thụt (giữ trong ruột).
3/ Thấp nhiệt can đởm Biểu hiện: Đau tức vùng thượng vị, hông sườn, tức ngực, ợ nóng, miệng đắng, người nóng, vàng da, mệt mỏi, lưỡi rêu vàng nhầy, phân táo hoặc không thoải mái.
Trị pháp: Thanh can đởm, lợi thấp nhiệt.
Phương: Thanh Di Thang hợp Long Đởm Tả Can Thang (龙胆泻肝汤) gia giảm: Nhân trần (茵陈) 30g, Long đởm thảo (龙胆草), Chi tử (栀子), Sài hồ, Hồ hoàng liên, Quảng mộc hương, Nguyên hồ – mỗi thứ 15g; Mộc thông (木通), Bạch thược – mỗi thứ 10g; Đại hoàng sống (生大黄, bỏ sau) 12g; Mang tiêu (冲服) 3g. Nếu vàng da nhiều, gia Kim tiền thảo (金钱草), Hổ trượng (虎杖). Nếu nôn nhiều, gia Bán hạ, Trúc nhự.
4/ Nhiệt thực kết hung (nhiệt nhiều, ứ đọng vùng ngực) Biểu hiện: Đau tức vùng thượng vị, đau cạnh sườn, ngực cứng, sợ chạm, sốt, sợ lạnh, miệng đắng, chán ăn, thở gấp, rêu lưỡi vàng mỏng.
Trị pháp: Thanh nhiệt hóa đàm, tả phế trục ẩm.
Phương: Đại – Tiểu Hãm Hung Thang (大小陷胸汤) gia giảm: Đại hoàng (bỏ sau) 10g, Mang tiêu (冲服) 6g, Cam toại (甘遂) 1g, Hoàng liên (黄连) 6g, Bán hạ (半夏) 12g, Qua lâu (瓜蒌) 30g, Đình lịch tử (葶苈子) 15g. Nếu bụng trướng nhiều, gia Hậu phác, cải rang Lai Phúc tử (炒莱菔子).
Điều trị táo bón ở viêm túi mật cấp thế nào?
Viêm túi mật cấp là tình trạng viêm túi mật cấp tính do kích thích hóa học và nhiễm khuẩn. Theo y học cổ truyền, viêm túi mật cấp thường do ăn uống không điều độ, nhiễm lạnh nóng bất thường, tình chí không thoải mái, hoặc tích trệ ký sinh trùng, dẫn đến can đởm khí trệ, thấp nhiệt ứ đọng, chức năng túi mật suy yếu. Thêm vào đó, có thể hình thành chứng khí huyết ứ trệ, nhiệt độc uất kết. Trên lâm sàng, trường hợp thấp nhiệt ứ đọng, hỏa can đởm mạnh mẽ(thực chứng) rất hay gặp, thường kèm táo bón. Vì vậy, một trong những phương pháp quan trọng để chữa viêm túi mật cấp là thông phủ hóa trọc.
Thấp nhiệt ứ đọng, hỏa can đởm mạnh mẽ: Triệu chứng gồm đau tức hạ sườn phải dai dẳng, bụng cứng chướng, ấn đau, cơn đau lan lên vai lưng, buồn nôn và nôn, miệng đắng họng khô, khát nước thích uống nhiều, sốt cao rét run, da và mắt vàng, nước tiểu vàng đỏ, táo bón, lưỡi đỏ rêu vàng nhớt.
Phép trị: thanh nhiệt hóa thấp, sơ can lợi đởm, thông phủ tống trọc.
Phương thang: Hao Cầm Thanh Đảm Thang (蒿芩清胆汤) gia giảm: Thanh hao 15g, Sài hồ, Nhân trần, Long đởm thảo, Hoàng cầm, Chi tử, Chỉ khâu (hoặc Chỉ thực), Nguyên hồ (hay Huyền hồ), Uất kim mỗi thứ 12g, Hoàng liên 6g, Đại hoàng 15g, Kim tiền thảo 30g, Nguyên minh phấn (mang tiêu) 30g (hòa uống). Nếu chướng bụng nhiều: gia Hậu phác, Chỉ thực để hành khí tiêu đầy. Nếu buồn nôn, nôn nặng: gia Trúc nhự, Bán hạ để giáng nghịch chỉ nôn. Nếu hôn mê, nói sảng, biểu hiện nhiễm mủ nặng, gia Ngân hoa, Liên kiều, Tảo hưu… để thanh nhiệt giải độc.
Có quan điểm cho rằng chữa viêm túi mật cấp nên sơ tiết can đởm, thanh trừ thấp nhiệt là chính, hơn nữa “lục phủ dĩ thông vi dụng” (sáu phủ cần thông suốt). Trong cơn cấp, nên dùng thuốc thông lợi, tống hạ, người có táo bón thì dùng, không táo bón vẫn có thể dùng.
Viêm túi mật, sỏi mật kèm táo bón điều trị thế nào?
Cách dùng mannitol chữa táo bón?
Dùng mannitol để thụt hậu môn. Bệnh nhân nằm nghiêng trái, bôi trơn ống thông (đã tiệt trùng) bằng dầu paraffin, luồn vào hậu môn 10–30 cm, rồi dùng bơm tiêm bơm 200 ml mannitol 10% (trẻ em 50–100 ml), sau đó rút ống, bệnh nhân nằm yên.
Có báo cáo dùng cách này cho 95 ca táo bón, hiệu quả hài lòng. Mannitol là thuốc nhuận tràng thẩm thấu không hấp thu, khi nồng độ cao đi vào ruột sẽ kéo nước từ thành ruột vào lòng ruột, tăng lượng nước trong phân. Sau thụt chừng 15–30 phút, bệnh nhân thấy mót rõ rệt, tống ra một lượng lớn phân, đầu tiên phân khô, về sau phân mềm. Phương pháp này khắc phục nhược điểm của việc dùng nhiều nước xà phòng hoặc nước muối sinh lý khiến bệnh nhân buồn đi cầu sớm, không giữ được dung dịch đủ lâu.
Tại sao cần duy trì đại tiện thông suốt ở bệnh nhân đột quỵ cấp?
Bệnh nhân đột quỵ não cấp (thiếu máu hay xuất huyết) thường có xơ cứng động mạch và tăng huyết áp, việc ổn định huyết áp là biện pháp rất quan trọng. Phần lớn bệnh nhân là người già, nhiều người đã bị táo bón trước đó. Sau đột quỵ, do nằm lâu, nhu động ruột giảm, ăn ít, thiếu chất xơ…, dễ gây phân khô. Điều này nguy hiểm ở người đột quỵ: 1/ Phân khô ứ đọng, sinh nhiễm độc (hấp thu độc tố), gây bồn chồn, rối loạn ý thức nặng thêm, tăng huyết áp…2/ Chướng bụng, kém ăn. 3/Rặn mạnh làm tăng áp lực ổ bụng, huyết áp, áp lực nội sọ, có thể gây xuất huyết não, thoát vị não, nhồi máu cơ tim, dẫn đến tử vong. Thực tế, có nhiều ca tử vong chỉ vì dùng sức rặn khi phân khô cứng. 4/ Lâu ngày còn gây trĩ, nứt hậu môn. Do vậy, bệnh nhân đột quỵ nhất thiết phải giữ đại tiện thông. Các biện pháp ngừa táo bón:
Tại sao bệnh nhân mụn trứng cá thường kèm táo bón?
Qua nhiều quan sát lâm sàng, phần lớn người bị mụn trứng cá đều có táo bón (phân khô, khó đi) ở các mức độ khác nhau. Độc tố ứ đọng trong cơ thể được xem là nguyên nhân gốc sinh ra mụn. Nếu đường tiêu hóa và đại tiện không thông, độc tố còn sót lại tái hấp thu vào cơ thể, rồi bốc lên da mặt gây mụn. Đồng thời độc tố làm cản trở khí cơ, ảnh hưởng lưu thông khí huyết, sinh rối loạn nội tiết khiến mụn nặng, kéo dài. Bác sĩ Khương Lương Đạc (姜良铎) đã bào chế “Viên bài độc dưỡng nhan”, giúp thải độc, điều chỉnh khí cơ cho cơ thể, khí cơ thăng giáng thuận, khí huyết lưu thông, nội tiết bình thường, do đó chữa mụn rất hiệu quả, cũng khẳng định quan điểm “mụn do độc” là đúng.
Phòng ngừa và chăm sóc táo bón
Khi bị táo bón nên làm gì?
Táo bón là bệnh thường gặp. Người mắc không nên lo lắng hay căng thẳng quá mà hãy khám và điều trị kịp thời:
Táo bón trong trường hợp nào cần đến bệnh viện?
Nhiều người xem nhẹ táo bón, nhưng có những loại táo bón tiềm ẩn bệnh lý khác (như táo bón do hội chứng hoặc do thực thể). Vì thế, ngay cả táo bón thông thường cũng nên khám để chắc chắn không tiềm ẩn bệnh. Nếu bạn có các triệu chứng dưới đây, cần đi viện ngay:
Gây cảm giác muốn đi tiêu, đi cầu đúng giờ có tác dụng gì trong phòng táo bón?
Một số táo bón, đặc biệt táo bón thói quen, liên quan căng thẳng và thay đổi nếp sống. Ví dụ, đi xa không tiện đi cầu, dẫn đến táo bón; hoặc căng thẳng tinh thần làm lơ cảm giác mót, khiến phân ở đại tràng quá lâu, bị hấp thu nước nhiều dẫn đến khô cứng. Căng thẳng, thay đổi thói quen cũng gây bỏ qua phản xạ mót dẫn tới táo bón.
Vì vậy, gây buồn đại tiện, đi cầu ngay khi buồn và đi cầu đúng giờ là cách tạo phản xạ đại tiện tốt, ngăn ngừa táo bón.
Nắm vững cách dùng các thuốc nhuận tràng “chậm” ra sao?
Thuốc nhuận tràng “chậm” cũng dùng để chữa táo bón và làm sạch ruột trước nội soi đại tràng, chụp đường mật… Vì các thuốc này tống phân vừa phải, ít độc, rất phù hợp với người già yếu, nhiều bệnh, phụ nữ có thai, trẻ em. Tuy nhiên, không nên coi là thuốc thường quy cho nhóm này. Trước hết phải tìm và sửa nguyên nhân táo bón, không lạm dụng.
Ngoài ra, dầu thầu dầu và một số thuốc tương tự không dùng để đào thải chất độc tan trong mỡ, nếu không sẽ tăng hấp thu chất độc. Ở người suy nhược nặng, mất nước, tắc ruột cơ học, viêm phúc mạc, thương hàn, phụ nữ mang thai cuối kỳ, đau bụng chưa rõ nguyên nhân, chống chỉ định dùng nhuận tràng “chậm”.
12 12 12 12 12Làm thế nào để lấy phân bằng tay?
Đối với bệnh nhân táo bón có phân cứng đọng lại ở trực tràng, thường các loại thuốc nhuận tràng không thể giải quyết được, lúc này cần dùng tay để móc phân ra. Cách làm cụ thể như sau:
Trước hết, để bệnh nhân ở tư thế ngồi xổm hoặc quỳ gối – nằm sấp, để lộ mông. Người thực hiện đeo găng tay vô trùng, bôi dầu paraffin (hoặc chất bôi trơn tương tự) lên mặt ngoài găng.
Dùng ngón trỏ tay phải từ từ đưa vào hậu môn. Khi chạm vào đầu khối phân cứng, cố gắng cho ngón tay trượt dọc theo thành trước (thành bụng) trực tràng, vượt qua chỗ phân cứng sang phía còn lại. Lúc này, khẽ gập ngón tay để móc khối phân ra. Nếu khối phân cứng quá dài, có thể chia nhỏ thành nhiều phần rồi lần lượt móc ra.
Toàn bộ quá trình cần tiến hành nhẹ nhàng, chậm rãi, đặc biệt ở bệnh nhân có bệnh quanh hậu môn, tránh tổn thương vùng hậu môn và niêm mạc trực tràng.
Táo bón là gì?
Táo bón là một triệu chứng thường gặp. Hầu như ai cũng có thể mắc táo bón, trong đó người già, phụ nữ và trẻ em hay bị nhất.
Táo bón không chỉ là một yếu tố khởi phát bệnh lý ở hậu môn – trực tràng, mà còn có thể làm nặng thêm nhiều bệnh toàn thân. Ngược lại, nhiều bệnh lý cũng có thể gây ra táo bón tạm thời hoặc lâu dài.
Thông thường, người ta tính từ lúc ăn vào đến khi phân được hình thành và thải ra ngoài mất 24 – 48 giờ; thời gian trung bình là 27,6 ± 9,5 giờ. Nếu quá 48 giờ thì xem là táo bón. Tuy nhiên, do khác biệt về cơ cấu thực phẩm, chất lượng bữa ăn cũng như thói quen đại tiện, khoảng cách giữa các lần đi cầu có thể khác nhau rất nhiều. Có người 2 – 3 ngày mới đi một lần, thậm chí lâu hơn. Nếu họ đi cầu không đau, thoải mái, thì không được coi là táo bón. Ngược lại, nếu phân khô cứng, khó thải ra, sau khi đi cầu vẫn khó chịu, hoặc bụng chướng, choáng đầu, mệt mỏi, thì dù khoảng cách ngắn hay dài, cũng gọi là táo bón.
Tóm lại, về bản chất, táo bón là tình trạng khó khăn khi phân đi qua ống hậu môn, thời gian bị kéo dài, số lần đại tiện ít, phân khô cứng, khó tống ra.
Táo bón thường xuất hiện sau những bệnh gì?
Trong quá trình mắc một số bệnh, táo bón có thể xuất hiện, trở thành yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tiên lượng và quá trình hồi phục:
Táo bón nguyên phát (原发性便秘) là gì?
Táo bón nguyên phát do thành phần phân, yếu tố tinh thần hoặc giảm trương lực cơ của ruột dẫn đến. Không kèm theo những tổn thương thực thể rõ ràng nào khác:
Phân loại và triệu chứng táo bón thế nào?
Dựa trên bệnh lý, chia làm 2 nhóm lớn:
Chỉ tổn thương hình thái ở đại tràng gây tắc đường đi của phân, dẫn đến táo bón. Chẳng hạn, táo bón do khối u đại tràng khiến hình dạng phân thay đổi, có thể kèm dịch nhầy, máu. Nếu đột ngột không đại tiện, đau bụng, buồn nôn, nôn, cần nghĩ đến tắc ruột, lồng ruột, v.v. Sau mổ bụng cần lưu ý khả năng dính ruột.
Tóm lại, cần điều trị theo nguyên nhân mới có thể cải thiện táo bón một cách căn bản.
Tại sao phải điều trị táo bón kịp thời?
Mặc dù có nhiều nguyên nhân, nhưng bản thân táo bón cũng có thể dẫn đến nhiều bệnh hậu môn – trực tràng:
Do đó, nếu táo bón kéo dài, nhất thiết phải chữa sớm, đây là một khâu quan trọng trong dự phòng và điều trị bệnh hậu môn – trực tràng.
Táo bón thường kèm theo những biến chứng nào?
Táo bón là một triệu chứng, trong quá trình diễn biến có thể kèm một số biến chứng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả điều trị:
Những nguyên tắc điều trị táo bón là gì?
Khi xác định được nguyên nhân gây táo bón, cần áp dụng biện pháp thích hợp để điều trị theo triệu chứng và theo căn nguyên.
①Loại bỏ căng thẳng tinh thần
Hướng dẫn bệnh nhân về lối sống và cách phòng/điều trị bệnh, giúp họ hiểu những bệnh thường gặp liên quan đến táo bón, giải tỏa tâm lý lo sợ. Đồng thời, hình thành thói quen đi đại tiện đúng giờ.
Bệnh nhân cũng cần hiểu mối nguy hại của lo lắng, căng thẳng công việc đối với sức khỏe, từ đó biết kết hợp lao động và nghỉ ngơi, coi việc đi tiêu là quan trọng, duy trì nhịp sinh lý đại tiện đều đặn
②Điều chỉnh cơ cấu bữa ăn
Khuyên bệnh nhân giảm bớt chất béo, đạm động vật trong chế độ ăn, tăng cường chất xơ hoặc thực phẩm có tác dụng làm trơn ruột, giúp phân bài tiết đúng giờ.
③Tăng cường tập luyện thể thao
Tập thể dục giúp tăng nhu động ruột và nâng cao sức cơ, bao gồm cơ bụng, cơ ruột, cơ hoành và cơ thắt hậu môn, nhờ đó thúc đẩy tống phân và phòng ngừa táo bón.
④Điều trị bằng thuốc
Dựa vào nguyên nhân, sử dụng thuốc một cách hợp lý.
Những loại thực phẩm có tác dụng phòng và điều trị táo bón?
Điều chỉnh ăn uống là khâu quan trọng trong trị táo bón:
①Hạn chế chất béo và đạm :Thức ăn nhiều mỡ, đạm làm giảm tốc độ bài xuất phân, dẫn đến táo bón.
②Ăn nhiều rau có sợi dài Ví dụ: cần tây, rau chân vịt (cải bó xôi), cải bắp, hẹ… chứa nhiều chất xơ; sau khi tiêu hóa, lượng bã còn lại nhiều, giúp thay đổi thành phần phân và dễ đào thải
③Tăng cường trái cây: Các loại trái cây như chuối, táo… đặc biệt là quả khô (óc chó, lạc/đậu phộng, vừng/ mè…) đều có tác dụng nhuận tràng, cải thiện tình trạng táo bón rõ rệt.
④Uống đồ uống phù hợp:Thường xuyên uống sữa và mật ong, giúp nhuận tràng, dưỡng da, ngăn ngừa táo bón và tránh suy dinh dưỡng do bệnh lý. Rất tốt cho người già yếu, phụ nữ và trẻ em.
Những cách xử trí đơn giản khi táo bón?
Khi táo bón quá đau đớn, nếu chưa thể đến bệnh viện hoặc không có bác sĩ, có thể tự xoay xở bằng các cách dưới đây, thường đem lại hiệu quả nhất định:
①Dùng dầu ăn: Lấy chừng 100 mL dầu vừng (dầu mè) hoặc dầu lạc (dầu đậu phộng), đun lửa nhỏ trong chảo đến khi bốc khói, nhấc chảo xuống để nguội còn khoảng 20–30℃, lấy 50–80 mL uống hết một lần. Phần dầu còn lại, dùng một ống cao su nhỏ (ví dụ ruột van xe đạp) hoặc bơm tiêm bơm chậm vào hậu môn, cho người bệnh nằm nghiêng trái nghỉ 1–2 giờ, sau đó vào nhà vệ sinh ráng đi cầu. Phần lớn bệnh nhân sẽ ra được phân.
②Thụt tháo (灌肠): Lấy 20g mang tiêu (hoặc 20g muối ăn) hòa tan trong nước ấm, rồi bơm vào hậu môn chừng 50–80 mL. Nếu sau khoảng 1 giờ vẫn chưa đi tiêu, có thể lặp lại. Đồng thời trước đó nên uống dầu ăn như trên.
③Móc phân (chữ Hán: “剜出”): Ở trẻ em, khi bị táo bón, uống dầu hay thụt nhiều khi khó thực hiện, nhưng phân đã xuống tận hậu môn, có thể nhìn thấy và sờ thấy “cục phân cứng” ngay cửa hậu môn. Khi đó, dùng ngón tay nhẹ nhàng lấy ra. Nếu phân quá cứng, móc không được, có thể dùng kẹp mạch máu hoặc kẹp có răng, kẹp vụn phân rồi lấy dần. Chú ý không làm tổn thương hậu môn, tránh nhiễm trùng.
Những biện pháp điều trị táo bón bằng thuốc?
Chia thành Đông y và Tây y:
Đông y điều trị táo bón như thế nào?
Đông y chữa táo bón có hiệu quả khá tốt, nhưng phải dựa trên biện chứng luận trị. Ví dụ:
Một số vị thuốc Đông y thường dùng để nhuận tràng
Trong sinh hoạt hằng ngày, có nhiều vị thuốc vừa làm thức uống thay trà, vừa chế biến thành món ăn, rất tốt cho việc nhuận tràng:
Táo bón do trực tràng sa (trực tràng phình ra phía trước) điều trị thế nào?
Hiện tượng trực tràng sa phình ra phía trước gây táo bón hay thấy ở trung niên, người già, chủ yếu gặp ở phụ nữ đa sản, sinh khó. Thành trước trực tràng mỏng, phình lồi ra, phân xuống phần trực tràng phình này không ra ngoài được; nếu ngừng rặn, phân lại quay trở vào lòng trực tràng.
Đó là 3 cách thường dùng để sửa sa trực tràng phía trước.
Bệnh nhân nằm liệt giường bị táo bón thì làm sao?
Bệnh nhân nằm liệt giường, táo bón có thể do bệnh lý (như tổn thương đại tràng, trực tràng, tắc ruột cơ học…) hoặc do sinh lý (vận động kém). Nếu khám loại trừ nguyên nhân bệnh lý, hãy dùng thuốc hoặc phương pháp vật lý để trị táo bón sinh lý:
Cách thụt:
Phương pháp xoa bóp (massage) chữa táo bón?
Xoa bóp có tác dụng hỗ trợ phòng và trị táo bón:
Lương y Trường Xuân dịch